Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 96/2023/DS-ST

Ngày: 20-12-2023

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Thìn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tô Phú Mỹ.
  2. Ông Phan Văn Thiện.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Bích Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 145/2023/TLST-DS ngày 05 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2023/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2023/QĐST-DS ngày 01 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân T1 (Viết tắt là Quỹ tín dụng).
  2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Phước D, sinh năm 1981, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

    Địa chỉ: G, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Bị đơn: Bà Đỗ Ngọc Huỳnh A, sinh năm: 1980.
  4. Địa chỉ: Số C, khóm T, phường T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm: 1959.
  6. Địa chỉ: Số C, khóm T, phường T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

Ông Huỳnh Phước D, bà Nguyễn Ngọc Đ có mặt tại phiên tòa; bà Đỗ Ngọc Huỳnh A vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy T là ông Huỳnh Phước D trình bày:

Trước đây, bà Đỗ Ngọc Huỳnh A có vay vốn tại Quỹ tín dụng theo hợp đồng tín dụng số 13/01/20-HĐTD ngày 09/01/2020, số tiền vay là 130.000.000 đồng; lãi suất vay trong hạn là 1,03%/tháng (12,36%/năm), lãi suất quá hạn 1,545%/tháng (18,54%/năm); thời hạn vay 12 tháng; mục đích vay để làm vốn mua bán gạo. Khi vay tiền bà Huỳnh A có thế chấp và ký giao dịch bảo đảm quyền sử dụng đất thửa đất số 135, tờ bản đồ số 27, diện tích 254,4m², mục đích sử dụng đất ở tại đô thị, đất tọa lạc tại khóm T, phường T, thành phố S, bà Đỗ Ngọc Huỳnh A được UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/3/2007. Từ ngày giải ngân 09/01/2020, bà Huỳnh A chỉ trả cho Q tín dụng số tiền lãi vay đến hết ngày 10/11/2020 tổng cộng là 13.471.000 đồng, rồi ngưng không tiếp tục trả tiền lãi vay, chưa trả tiền vốn vay lần nào đến nay. Theo hợp đồng tín dụng số 13/01/20-HĐTD ngày 09/01/2020 thì thời hạn vay là đến ngày 09/01/2021. Nhưng đến nay bà Huỳnh A vẫn chưa trả tiền vốn vay, tiền lãi vay còn nợ của Quỹ tín dụng.

Nay Quỹ tín dụng yêu cầu bà Đỗ Ngọc Huỳnh A trả số tiền vốn vay và tiền lãi vay tạm tính đến ngày 31/5/2023 tổng cộng là 190.002.000 đồng. Yêu cầu tiếp tục tính lãi vay từ ngày 01/6/2023 theo Hợp đồng tín dụng số 13/01/20-HĐTD ngày 09/01/2020 cho đến khi trả nợ xong. Trong trường hợp bà Huỳnh A không trả được nợ thì Quỹ tín dụng được quyền làm đơn yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là thửa đất số 135, tờ bản đồ số 27 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 140/09/15/HĐTC ngày 07/9/2015 để thi hành án theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bà Huỳnh A đã thi hành án xong, mà tài sản thế chấp không bị phát mãi để thi hành án thì Q tín dụng trả lại cho bà Huỳnh A toàn bộ bản chính giấy tờ thế chấp. Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 135 do Quỹ tín dụng đang giữ, còn đất hiện nay do bà Nguyễn Ngọc Đ đang sử dụng làm giàn trồng hoa kiểng.

Ngoài ra, Quỹ tín dụng không có yêu cầu gì khác.

* Bị đơn bà Đỗ Ngọc Huỳnh A từ khi thụ lý vụ án đến nay Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng không có văn bản nêu ý kiến và không đến Tòa án để làm việc.

* Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Ngọc Đ trình bày:

Bà Nguyễn Ngọc Đ là dì ruột của bà Đỗ Ngọc Huỳnh A, sinh sống gần thửa đất số 135 của bà Huỳnh A. Bà Đ có biết việc bà Huỳnh A vay tiền và thế chấp thửa đất số 135, nhưng cụ thể việc vay tiền như thế nào thì bà Đ không biết. Hiện nay bà Đ sử dụng thửa đất 135 để làm giàn trồng hoa kiểng, làm đường đi. Giàn hoa kiểng làm bằng trụ gạch ống, kẽm, che lưới nhựa; đường đi làm bằng đan. Việc bà Đ sử dụng thửa đất 135 là do bà Đ có đất liền kề với thửa đất 135 và thửa đất này để trống không sử dụng, nên bà Đ tạm thời sử dụng.

Việc Quỹ tín dụng tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp với bà Huỳnh A thì bà Đ không có ý kiến, không có yêu cầu gì. Bà Đ đồng ý tự nguyện di dời giàn trồng hoa kiểng, hoa kiểng, đan làm đường của bà Đ trên thửa đất 135.

Ngoài ra, bà Đ không có yêu cầu gì khác.

* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn bà Huỳnh A không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án là không chấp hành đúng quy định tại khoản 16 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Quỹ tín dụng, buộc bà Huỳnh A trả cho Q tín dụng số tiền vốn vay và tiền lãi vay tạm tính đến ngày 31/5/2023 tổng cộng là 190.002.000 đồng. Tiếp tục tính lãi vay từ ngày 01/6/2023 theo Hợp đồng tín dụng số 13/01/20-HĐTD ngày 09/01/2020 cho đến khi trả nợ xong. Trong trường hợp bà Đỗ Ngọc Huỳnh A không trả được nợ thì Quỹ tín dụng được quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 140/09/15/HĐTC ngày 07/9/2015 để thi hành án theo quy định của pháp luật.

- Về án phí và chi phí tố tụng khác đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Quỹ tín dụng khởi kiện tranh chấp Hợp đồng tín dụng đối với bà Đỗ Ngọc Huỳnh A, xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tố đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Huỳnh A đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nhưng bà Huỳnh A không có văn bản trình bày ý kiến, cũng không đến Tòa án để làm việc, tham dự phiên tòa xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt bà Huỳnh A.

[2] Về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về trình tự thủ tục và nội dung xác lập Hợp đồng tín dụng số 13/01/20-HĐTD ngày 09/01/2020, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 140/09/15/HĐTC ngày 07/9/2015 giữa bên cho vay và nhận thế chấp là Quỹ tín dụng nhân dân T1 với bên vay và thế chấp tài sản là bà Đỗ Ngọc Huỳnh A phù hợp với quy định của pháp luật, được công nhận, có hiệu lực nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì bà Huỳnh A đã vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng, chưa trả đầy đủ vốn và lãi cho Q tín dụng theo như hợp đồng đã ký kết. Nên Quỹ tín dụng yêu cầu bà Huỳnh A trả số tiền vốn vay và tiền lãi tạm tính đến ngày 31/5/2023 tổng cộng là 190.002.000 đồng, tiếp tục tính lãi vay từ ngày 01/6/2023 theo hợp đồng tín dụng cho đến khi trả nợ xong, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng được chấp nhận, nên bà Đỗ Ngọc Huỳnh A phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Về chi phí tố tụng khác: Quỹ tín dụng tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thâm định tại chỗ.

[5] Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 264, 271, 273, 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân T1.

Buộc bà Đỗ Ngọc Huỳnh A phải trả cho Q tín dụng nhân dân Tân Quy Tây số tiền vốn vay và tiền lãi vay tạm tính đến ngày 31/5/2023 tổng cộng là 190.002.000 đồng. Tiếp tục tính lãi vay từ ngày 01/6/2023 với lãi suất theo Hợp đồng tín dụng số 13/01/20-HĐTD ngày 09/01/2020 cho đến khi trả nợ xong.

Trường hợp bà Đỗ Ngọc Huỳnh A không trả được nợ thì Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Tây được quyền làm đơn yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là thửa đất số 135, tờ bản đồ số 27 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 140/09/15/HĐTC ngày 07/9/2015 để thi hành án theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp bà Huỳnh A đã thi hành án xong, mà tài sản thế chấp không bị phát mãi để thi hành án thì Quỹ tín dụng nhân dân T1 trả lại cho bà Huỳnh A toàn bộ bản chính giấy tờ thế chấp (hiện Quỹ tín dụng đang giữ).

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Ngọc Đ về việc di dời các tài sản của bà Đ ra khỏi thửa đất 135, tờ bản đồ số 27.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Đỗ Ngọc Huỳnh A phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là 9.500.000₫ (Chín triệu năm trăm nghìn đồng).

Quỹ tín dụng nhân dân T1 được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003207 ngày 04/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.

Về chi phí tố tụng khác:

Quỹ tín dụng nhân dân T1 tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thâm định tại chỗ là 200.000 đồng (đã nộp xong).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bà Đỗ Ngọc Huỳnh A vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh ĐT;
  • - VKSND thành phố Sa Đéc;
  • - Chi cục THADS TP. Sa Đéc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa

Đỗ Minh Thìn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2023/DS-ST ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 96/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: QTD tranh chấp hợp đồng tín dụng với A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger