|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 959/2024/HSPT Ngày: 28/10/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- + Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Huyền.
- + Các Thẩm phán: Ông Trương Thành Trung
- Ông Nguyễn Ngọc Huân.
- - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Huỳnh Phương Minh- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đặng Khánh Hưng- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 661/2024/HSPT ngày 02/8/2024 do có kháng cáo của bị cáo Vũ Văn H đối với bản án hình sự sơ thẩm số 139/2024/HSST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Bị cáo kháng cáo: Vũ Văn H, sinh năm 1975 tại Thái Bình; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn G, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở hiện nay: Số B, ngõ H T, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn P (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1; Vợ: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1977; Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2016;
Tiền án, Tiền sự: Không; D chỉ bản số 123 ngày 05/02/2024 lập tại Công an quận C;
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2024 đến nay, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Vũ Văn H: Ông Phạm Ngọc T và bà Lê Thị Khánh L- Luật sư Công ty L3; Ông T có mặt, bà L vắng mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Hữu B và 07 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy thì vụ án có nội dung như sau:
Từ năm 2018, Vũ Văn H hoạt động kinh doanh nhà nghỉ K tại địa chỉ số B ngõ H T, T, Cầu G, Hà Nội. H để chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1977, HKTT: Thôn G, Văn C, H, Thái Bình là vợ H đứng tên đăng kí kinh doanh, mọi hoạt động kinh doanh nhà nghỉ K đều do H quản lý còn chị H2 vẫn sinh sống tại Thái Bình. Khoảng tháng 06/2023, H thuê Nguyễn Hữu B làm nhân viên và trả lương 7.000.000 đồng/1 tháng. Khoảng tháng 11/2023 có Nguyễn Thị Đ, Bùi Thị L1, Quàng Thị L2 là các gái bán dâm hoạt động trên trang mạng xã hội (các trang Checkeviet.Link và trang gaigoihn.com) đến đặt vấn đề với H đưa khách vào nhà nghỉ K để mua bán dâm thì được H đồng ý. H thỏa thuận với Đ và L1 mỗi người sẽ được H cho 30.000 đồng/01 lượt đưa khách vào thuê phòng mua bán dâm tại nhà nghỉ K, việc H thỏa thuận với Đ và L1 tại khu vực lễ tân nhà nghỉ Nguyễn Hữu B được chứng kiến, H chỉ đạo B khi các gái bán dâm trên đưa khách vào nhà nghỉ M1 thì cho vào và thu tiền thuê phòng 120.000 đồng/01 phòng. Ngày 29/01/2024, Nguyễn Thị Đ đưa khách vào Phòng 302 mua bán dâm, Bùi Thị L1 đưa khách vào phòng 102 của nhà nghỉ K mua bán dâm và nhắn tin báo lại số phòng thuê đưa khách vào mua dâm cho H qua tài khoản zalo. Ngày 30/01/2024, Quàng Thị L2 đưa khách vào phòng 102, Bùi Thị L1 đưa khách vào phòng 301 và Nguyễn Thị Đ đưa khách vào phòng 401 nhà nghỉ K và đang mua bán dâm thì bị Tổ công tác Công an quận C phối hợp Công an phường T, quận C kiểm tra phát hiện vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 30/01/2024. Tại Phòng 102 có Lê Anh T1, sinh năm 1996; HKTT: T, N, Hà Nội và Quàng Thị L2, sinh năm 2004; HKTT: Bản Nà Tòng, xã N, huyện T, Điện Biên, tại phòng 301 có Nguyễn Văn X, sinh năm 1998; HKTT: xã H, K, Thái Bình và Bùi Thị L1, sinh năm 1991; HKTT: Bản Chon, Xiêng M, T, Nghệ An, tại phòng 401 có Lại Thế V, sinh năm 1997; HKTT: xã H, K, Thái Bình và Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1985: Bản N, xã N, huyện T, Điện Biên đang mua bán dâm.
Vật chứng thu giữ của các đối tượng gồm:
- - Thu giữ của Vũ Văn H 01 giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số 01G8022183 và 01 giấy chứng nhận đủ điều kiện ANTT kinh doanh nhà nghỉ mang tên Nguyễn Thị H2, 01 điện thoại Iphone X màu đen đã qua sử dụng;
- - Thu giữ của Nguyễn Hữu B 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh đã qua sử dụng;
- - Thu giữ của Bùi Thị L1 01 điện thoại Nokia 105 đã qua sử dụng, 01 điện thoại Samsung A50 đã qua sử dụng;
- - Thu giữ của Nguyễn Thị Đ 01 điện thoại Iphone 8 màu trắng đã qua sử dụng, 01 vỏ bao cao su đã qua sử dụng;
- - Thu giữ của Quàng Thị L2 01 điện thoại Iphone 7 màu hồng đã qua sử dụng, 01 bao cao su đã qua sử dụng;
- - Thu giữ của Lê Anh T1 01 điện thoại Nokia màu đen đã qua sử dụng và số tiền 300.000 đồng;
- - Thu giữ của Nguyễn Văn X 01 điện thoại Nokia 1208 màu đen đã qua sử dụng và số tiền 300.000 đồng;
- - Thu giữ của Lại Thế V 01 điện thoại Nokia 105 màu đen đã qua sử dụng và số tiền 300.000 đồng.
Ngoài ra, H và B khai nhiều lần trước đó Đ, L1, L2 đưa khách vào nhà nghỉ K mua bán dâm nhưng không nhớ họ bán dâm tại phòng nào, bán dâm cho cho ai và vào ngày giờ nào do H và B không mở sổ quản lý ghi chép việc khách ra vào nhà nghỉ. H khai số tiền thu lợi bất chính từ việc chứa mại dâm tại nhà nghỉ K được số tiền 9.400.000 đồng.
Đối với Nguyễn Thị Đ, Bùi Thị L1, Quàng Thị L2, Nguyễn Văn X, Lại Thế V và Lê Anh T1 có hành vi mua bán dâm, ngày 25/4/2024, Cơ quan Công an quận C quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua, bán dâm theo Nghị định 144 ngày 31/12/2021 của Chính phủ là có căn cứ.
Đối với chị Nguyễn Thị H2 là người đứng tên đăng kí kinh doanh nhà nghỉ K nhưng toàn bộ hoạt động của nhà nghỉ đều do Vũ Văn H trực tiếp quản lý, điều hành, chị H2 sinh sống tại tỉnh Thái Bình không biết việc H cùng B cho gái bán dâm vào nhà nghỉ hoạt động nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm đối với chị Nguyễn Thị H2 là có căn cứ.
Đối với 02 chiếc điện thoại thu giữ của Vũ Văn H, Nguyễn Hữu B sử dụng vào việc phạm tội; 04 chiếc điện thoại thu giữ của Nguyễn Thị Đ, Bùi Thị L1 và Quàng Thị L2, 03 chiếc điện thoại và số tiền 900.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn X, Lại Thế V và Lê Anh T1 đã sử dụng vào việc trao đổi thỏa thuận mua bán dâm, Cơ quan điều tra đã chuyển vật chứng để xử lý.
Đối với người sử dụng tài khoản Z “Royal” người giúp Nguyễn Thị Đ đăng bài lên trang “Checkeviet.Link và gaigoihn.com” để giúp Đ tìm khách để mua bán dâm, quá trình điều tra không xác minh được nhân thân của người sử dụng tài khoản này nên không có căn cứ để xem xét xử lý.
Tại cơ quan điều tra, Vũ Văn H, Nguyễn Hữu B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của H và B phù hợp với lời khai Nguyễn Văn X, Lại Thế V, Lê Anh T1, Nguyễn Thị Đ, Bùi Thị L1, Quàng Thị L2 cùng các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 139/2024/HSST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội đã xử và quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn H phạm tội “Chứa mại dâm”.
Căn cứ vào điểm c Khoản 2 Điều 327, Điều 17; Điều 58; Điểm r, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54, của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn H 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/01/2024.
Ngoài ra bản án còn tuyên các quyết định khác về tội danh, hình phạt với bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng.
Không nhất trí với quyết định của án sơ thẩm, trong đơn kháng cáo đề ngày 27/6/2024, bị cáo Vũ Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã kết luận:
Về hình thức: Kháng cáo của bị cáo là đúng về chủ thể kháng cáo và còn trong thời hạn kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Chứa mại dâm” theo điểm c, khoản 2, Điều 327- Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên với bị cáo là phù hợp, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 355; Điều 356- BLTTHS không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Tại bản án sơ thẩm, Tòa án đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã trình bày hoàn cảnh gia đình. Bị cáo đã nộp lại tiền thu lời bất chính, bị cáo có thành tích trong quá trình sinh sống tại địa phương, tham gia ủng hộ hội chất độc màu da cam ở T, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Con bị cáo bị chậm phát triển tâm thần nhẹ, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo mức án phù hợp, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử cho đến trước khi mở phiên tòa hôm nay, không có người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Kháng cáo của bị cáo là còn trong thời hạn kháng cáo và đúng về chủ thể kháng cáo nên được chấp nhận.
[2] Về nội dung:
Xét kháng cáo của bị cáo thì thấy:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi như án sơ thẩm đã nêu, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở để khẳng định:
Từ năm 2018, Vũ Văn H kinh doanh nhà nghỉ K tại địa chỉ số B ngõ H T, T, Cầu G, Hà Nội. Khoảng tháng 11/2023, do hám lợi, Vũ Văn H cho gái bán dâm đưa khách vào nhà nghỉ K mua bán dâm để tăng doanh thu. H chỉ đạo Nguyễn Hữu B là nhân viên nhà nghỉ cho gái bán dâm vào nhà nghỉ hoạt động. Ngày 29/01/2024, Nguyễn Thị Đ và Bùi Thị L1 đưa khách vào mua bán dâm tại phòng 102 và 302. Ngày 30/01/2024, Nguyễn Thị Đ, Bùi Thị L1 và Quàng Thị L2 đang bán dâm cho Lại Thế V, Nguyễn Văn X và Lê Anh T1 tại các phòng 102, 301 và 401 thì bị Tổ công tác Công an quận C kiểm tra phát hiện. Số tiền H thu lời bất chính là 9.400.000 đồng.
Như vậy Vũ Văn H đã có hành vi cho gái bán dâm đưa khách vào nhà nghỉ thực hiện việc mua bán dâm nhiều lần trong một khoảng thời gian nên việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “ Chứa mại dâm” theo điểm c, khoản 2, ĐIều 327- Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như:
Vũ Văn H là người chủ mưu thực hiện tội phạm, đã trực tiếp thuê địa điểm làm nhà nghỉ K để quản lý, điều hành mọi hoạt động kinh doanh của nhà nghỉ, đồng thời thuê B làm lễ tân nhà nghỉ và chỉ đạo B thực hiện hành vi chứa mại dâm để thu lời bất chính; Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi bị bắt quả tang bị cáo đã tự nguyện khai ra hành vi phạm tội của những ngày trước đó, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo H đã tác động gia đình nộp tiền thu lợi bất chính 9.400.000 đồng; Bị cáo có mẹ đẻ được tặng huy chương chiến sĩ T, ông ngoại là liệt sĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ đó xử phạt bị cáo mức án 04 năm 06 tháng tù là đã cho bị cáo được hưởng mức án thấp dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Tại phiên tòa hôm nay, gia đình bị cáo xuất trình bổ sung tài liệu thể hiện gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, mẹ bị cáo thường xuyên đau yếu, con trai thứ ba bị tăng động nhẹ, tuy nhiên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là đã thấp dưới mức thấp nhất của khung hình phạt ên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên án sơ thẩm.
[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các phần khác của bản án sơ tẩhm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 355; Điều 356- Bộ luật tố tụng hình sự: Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 139/2024/HSST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, cụ thể:
1.1- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn H phạm tội “Chứa mại dâm”.
1.2- Về hình phạt:
Căn cứ vào điểm c Khoản 2 Điều 327, Điều 17; Điều 58; Điểm r, s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54- Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Vũ Văn H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/01/2024.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136- Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thanh Huyền |
Bản án số 959/2024/HSPT ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 959/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chứa mại dâm
