TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 956/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24-7-2024 V/v: “Ly hôn”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Nguyễn Tuấn Anh
- Ông Võ Thành Viên
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thục Đoan – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh T - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1471/2023/HNST ngày 21 tháng 11 năm 2023 về việc: “ Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 237/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 218/2024/QÐST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Trần Thị Tuyết N - sinh năm: 1985; Địa chỉ: 8, KP F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: ông Trần T1 - sinh năm: 1986; Địa chỉ: 9 N, phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, các biên bản hòa giải cũng như tại phiên tòa nguyên đơn là bà Trần Thị Tuyết N trình bày:
Bà Trần Thị Tuyết N và ông Trần T1 chung sống với nhau và đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 171, quyển số 01/2007, ngày 24/7/2007 tại Ủy ban nhân dân Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu của mâu thuẫn là do không có cùng tiếng nói chung, không có trách nhiệm phụ giúp nuôi con từ lúc sinh đến nay, ngoại tình, ... Hai bên đã nhiều lần ngồi lại trao đổi với nhau để tìm cách giải quyết mâu thuẫn, nhưng rồi mọi việc cũng không có kết quả, không tìm được tiếng nói chung. Vì vậy, vợ chồng không còn quan tâm, giúp đỡ nhau, đối xử lạnh nhạt với nhau, tình cảm vợ chồng đã hết. Cả hai đã không sống chung hơn một năm nay. Nay, bà Trần Thị Tuyết N thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Trần Thị Tuyết N khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: được ly hôn với ông Trần T1.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Ngọc Băng T2- sinh ngày: 07/8/2008 và Trần Ngọc Phúc V- sinh ngày: 17/01/2012. Bà Trần Thị Tuyết N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Trần T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có
Tại phiên tòa, bà Trần Thị Tuyết N có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Trần T1; bà Trần Thị Tuyết N xin được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng; tài sản chung không có và nợ chung không có.
Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ ông Trần T1 để tham gia xét xử nhưng ông Trần T1 đều vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:
* Về tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm này; thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án về thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng cũng như thời hạn gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ Viện kiểm sát nghiên cứu.
- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
- Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71, 72 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.
* Về nội dung:
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
- Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị Tuyết N được ly hôn với ông Trần T1.
- Về con chung: Giao bà Trần Thị Tuyết N nuôi con chung tên Trần Ngọc Băng T2- sinh ngày: 07/8/2008 và Trần Ngọc Phúc V- sinh ngày: 17/01/2012. Ông Trần T1 không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xét.
Đương sự phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
[1.] Về tố tụng:
1.1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Tuyết N đối với ông Trần T1 là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
1.2 Về sự có mặt của các đương sự
Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Về nội dung:
Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số: 171, quyển số 01/2007, ngày 24/7/2007 tại Ủy ban nhân dân Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện hôn nhân giữa bà Trần Thị Tuyết N và ông Trần T1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp, nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
2.1 Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Tuyết N
Hội đồng xét xử nhận thấy trong thời gian chung sống vợ chồng bà N, ông T1 không hạnh phúc. Bà N đã cố gắng để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả.
Ông Trần T1 không đến Tòa án, mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ; chứng tỏ ông Trần T1 không có những hành động, biện pháp để thuyết phục bà Trần Thị Tuyết N hàn gắn tình cảm gia đình. Việc tồn tại hôn nhân phải xuất phát từ tình cảm yêu thương, gần gũi, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, trong khi quan hệ vợ chồng đã rơi vào tình trạng đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì “Tòa án giải quyết cho ly hôn ...nếu có căn cứ về việc vợ chồng có vi phạm nghiêm trọng quyền nghĩa vụ của vợ chồng ...mục đích hôn nhân không đạt được...”. Nên yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Tuyết N là có căn cứ, được chấp nhận.
2.2 Về con chung:
Căn cứ vào giấy khai sinh số: 415/2008, quyển số 02/2008, ngày 19/8/2008 tại Ủy ban nhân dân Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và giấy khai sinh số: 33, quyển số 01/2012, ngày 09/02/2012 tại Ủy ban nhân dân Phường M, thành phố P T, tỉnh Ninh Thuận xác định bà Trần Thị Tuyết N và ông Trần T1 có 02 con chung tên Trần Ngọc Băng T2 - sinh ngày: 07/8/2008 và Trần Ngọc Phúc V - sinh ngày: 17/01/2012.
Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao cháu Trần Ngọc B T2 và Trần Ngọc Phúc V cho bà Trần Thị Tuyết N nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là có cơ sở và phù hợp với các quy định của pháp luật về Hôn nhân và gia đình.
Do bà Trần Thị Tuyết N không yêu cầu ông Trần T1 cấp dưỡng nuôi con, nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông Trần T1 cho đến khi bà Trần Thị Tuyết N có yêu cầu.
Ông Trần T1 được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của trẻ, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
2.3 Về tài sản chung:
Bà Trần Thị Tuyết N định không có. Do đó, Hội đồng không xem xét.
2.4 Nợ chung:
Bà Trần Thị Tuyết N định không có. Do đó, Hội đồng không xem xét.
[3] Về án phí sơ thẩm: Bà Trần Thị Tuyết N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH :
- Áp dụng Điều 28, Điều 35, Khoản 1 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
- Áp dụng Pháp lệnh về án phí, lệ phí Toà án có hiệu lực ngày 01/7/2009.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết N.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Tuyết N được ly hôn với ông Trần T1.
- Về con chung: Trần Ngọc Băng T2 - sinh ngày: 07/8/2008 và Trần Ngọc Phúc V - sinh ngày: 17/01/2012 giao cho bà Trần Thị Tuyết N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông Trần T1 cho đến khi bà Trần Thị Tuyết N có yêu cầu.
- Về tài sản chung: bà Trần Thị Tuyết N xác định không có. Do đó, Hội đồng không xem xét.
- Nợ chung: bà Trần Thị Tuyết N xác định không có. Do đó, Hội đồng không xem xét.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: bà Trần Thị Tuyết N phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn đồng), cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm ngàn đồng) đồng bà Trần Thị Tuyết N đã nộp theo biên lai thu số: AA/2023/0012898 ngày 21/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Bà Trần Thị Tuyết N đã nộp xong án phí.
Giấy chứng nhận kết hôn số: 171, quyển số 01/2007, ngày 24/7/2007 tại Ủy ban nhân dân Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh hết hiệu lực.
Trường hợp bản án, quyết định được Thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Đương sự có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành án theo các Điều 7, 30, 31 và 32 của Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án theo đúng quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hùng Linh |
Bản án số 956/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 956/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà N yêu cầu được ly hôn với ông T1
