TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 956/2024/DS-ST
Ngày 25-09-2024
V/v tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trương Thị Hồng Phương
Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đinh Hương Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 25/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 698/2023/TLST-DS ngày 17 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 481/2024/QĐXXST-DSST ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH P; địa chỉ: 5 Đ, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện hợp pháp: Ông Vũ Quyết T, ông Nguyễn Quang V là người đại diện theo ủy quyền ( văn bản ủy quyền ngày 24/11/2023)
Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T1; địa chỉ: 25/63/4 B, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Diệu L; địa chỉ: 25/63/4 B, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện thụ lý ngày 17/11/2023 và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn trình bày:
Nguyên đơn và bị đơn có ký kết hợp đồng xây dựng số 06/2023-HĐXD.ANKHANG ngày 17/4/2023, nội dung: ông Nguyễn Thanh T1 giao cho Công ty P thực hiện thi công gói thầu xây dựng, lắp đặt hoàn chỉnh toàn bộ công trình thiết kế tại địa chỉ 2 B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, hình thức trọn gói, chìa khóa trao tay. Với giá trị hợp đồng là 1.830.000.000 đồng, phương thức thanh toán được thỏa thuận là 15 đợt, theo từng đợt căn cứ vào tiến độ thi công.
Nguyên đơn đã thi công đúng tiến độ, bị đơn đã thanh toán số tiền từ đợt 1 đến 13, riêng đợt 9 và đợt 11 trị giá 300.000.0000 đồng không thanh toán.
Nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bị đơn thực hiện đúng nghĩa vụ nhưng không có kết quả. Cụ thể nguyên đơn đã gửi văn bản đề nghị thanh toán lần 1 ngày 29/9/2023, lần 02 ngày 03/10/2023, lần 03 ngày 06/10/2023. Đến ngày 09/10/2023, bị đơn đơn phương đuổi kỹ sư, nhân công ra ngoài công trình và không hoàn trả thiệt bị, máy móc của nguyên đơn.
Nhận thấy, bị đơn đã vi phạm hợp đồng, trốn tránh nghĩa vụ thanh toán, vì vậy nguyên đơn khởi kiện:
Yêu cầu ông Nguyễn Thanh T1 thanh toán số tiền thi công đợt 9, đợt 11 là 300.000.000 đồng.
Buộc ông Nguyễn Thanh T1 bồi thường thiệt hại tương đương với số tiền thi công đợt 14, 15 là 80.000.000 đồng.
Tổng cộng là 380.00.000 đồng, yêu cầu thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên ý kiến.
Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bị đơn ông Nguyễn Thanh T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Diệu L nhưng đương sự nêu trên vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án không thể ghi nhận được ý kiến của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Đại diện VKSND quận Gò Vấp tham gia phiên tòa phát biểu:
I. Việc tuân theo pháp luật tố tụng
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Qua việc kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án: Thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp cũng như tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng; việc gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đảm bảo thời hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, thời hạn chuẩn bị xét xử còn vi phạm quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 BLTTDS 2015;
Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 BLTTDS 2015
II. Ý kiến về việc giải quyết vụ án
Căn cứ hợp đồng thi công, Công ty P đã hoàn thành công việc của đợt 9 và đợt 11. Việc ông T1 không thanh toán đúng thỏa thuận đợt 9 và đợt 11 đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của Công ty P.
Căn cứ Điều 5 Hợp đồng xây dựng ngày 17/4/2023: Ông T1 thanh toán tiền cho Công ty P bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản theo từng đợt căn cứ vào tiến độ thi công.
Căn cứ Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015 về thực hiện nghĩa vụ trả tiền: “Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.” Có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn – Công ty P về việc buộc ông Nguyễn Thanh T1 thanh toán số tiền thi công xây dựng đợt 9, đợt 11 với tổng số tiền 300.000.000 đồng.
Như vậy trường hợp các bên thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng, Công ty P sẽ được nhận số tiền 80.000.000 đồng của đợt 14 và 15. Tuy nhiên, theo nguyên đơn trình bày vào ngày 09/10/2023 ông T1 có hành vi đuổi tất cả công nhân và kỹ sư ra khỏi công trình, không cho tiếp tục thi công. Như vậy ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ tại Điều 10 Hợp đồng xây dựng ngày 17/4/2023: Một bên có quyền quyết định tạm dừng hợp đồng do lỗi của bên kia gây ra, nhưng phải báo cho bên kia biết bằng văn bản và cùng bàn bạc giải quyết để tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng xây dựng đã ký kết; trường hợp bên tạm dừng không thông báo mà đã tạm dừng gây thiệt hại thì phải bồi thường cho bên thiệt hại. Do đó căn cứ khoản 2 Điều 419 Bộ luật dân sự năm 2015 về thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng: “Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại”. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty P: buộc ông T1 phải bồi thường thiệt hại số tiền đợt 14, 15 là 80.000.000 đồng
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 280, 419 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị hội đồng xét xử tuyên:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.
[2] Về các yêu cầu của đương sự:
Xét yêu cầu của nguyên đơn, HĐXX xét thấy:
Căn cứ hợp đồng xây dựng số 06/2023-HĐXD.ANKHANG ngày 17/4/2023, có đủ cơ sở xác định nguyên đơn và bị đơn có ký kết hợp đồng thi công nhà ở địa chỉ 2 B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, hình thức trọn gói, chìa khóa trao tay, giá trị hợp đồng là 1.830.000.000 đồng, phương thức thanh toán được thỏa thuận là 15 đợt, theo từng đợt căn cứ vào tiến độ thi công.
Theo hợp đồng sau khi thi công hoàn thành trần thạch cao 80%, bị đơn phải thanh toán đợt 9 với số tiền 150.000.000 đồng, sau khi Công ty P hoàn thành hệ thống cửa 80% ông T1 sẽ thanh toán đợt 11 với số tiền 150.000.000 đồng.
Căn cứ Vi bằng số 32/2023/VB-TPLTĐ lập ngày 11/10/2023 do Văn phòng T2 lập thì hiện trạng căn nhà 2 B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh tại thời điểm ngày 11/10/2023 như sau:
Tại tầng trệt: Hai bộ cửa nhôm đang đặt tại tầng trệt.
Tại lầu 1: Có một phòng trước và một phòng sau. Phòng trước và phòng sau bên trong gồm có một phòng ngủ và một phòng vệ sinh. Phòng ngủ đã hoàn thiện điện, thạch cao, sơn nước, gạch; hoàn thiện một trăm phần trăm cửa gỗ, cửa nhôm X. Phòng vệ sinh đã hoàn thiện điện, nước, gạch, sơn nước và còn chờ lắp đặt thiết bị vệ sinh.
Tại lầu 2: Có một phòng thờ, một phòng ngủ và một phòng vệ sinh. Phòng vệ sinh đã hoàn thiện điện, nước, thạch cao, gạch, sơn nước và chỉ còn chờ lắp đặt thiết bị vệ sinh. Phòng ngủ đã hoàn thiện điện, thạch cao, sơn nước, gạch đã hoàn thiện một trăm phần trăm; hoàn thiện một trăm phần trăm cửa gỗ, cửa sổ nhôm Xingfa.
Như vậy, nguyên đơn hoàn thành công việc của đợt 9 và đợt 11. Việc bị đơn không thanh toán đúng thỏa thuận đợt 9 và đợt 11 là vi phạm hợp đồng.
Căn cứ Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015 về thực hiện nghĩa vụ trả tiền: “Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.” Vì vậy, HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải toán số tiền thi công xây dựng đợt 9, đợt 11 với tổng số tiền 300.000.000 đồng.
Theo thỏa thuận tại hợp đồng, sau khi đưa công trình vào sử dụng ông T1 có nghĩa vụ thanh toán đợt 14 với số tiền 60.000.000 đồng và sau 12 tháng từ ngày bàn giao công trình phải thanh toán đợt 15 là 20.000.000 đồng. Trường hợp các bên thực hiện đúng hợp đồng, nguyên đơn sẽ được nhận số tiền 80.000.000 đồng của đợt 14 và 15. Tuy nhiên, vào ngày 09/10/2023, bị đơn có hành vi đuổi tất cả công nhân và kỹ sư ra khỏi công trình, không cho tiếp tục thi công.
Như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ tại Điều 10 Hợp đồng xây dựng ngày 17/4/2023: Một bên có quyền quyết định tạm dừng hợp đồng do lỗi của bên kia gây ra, nhưng phải báo cho bên kia biết bằng văn bản và cùng bàn bạc giải quyết để tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng xây dựng đã ký kết; trường hợp bên tạm dừng không thông báo mà đã tạm dừng gây thiệt hại thì phải bồi thường cho bên thiệt hại.
Do đó căn cứ khoản 2 Điều 419 Bộ luật dân sự năm 2015 về thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng: “Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại”. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông T1 phải bồi thường thiệt hại số tiền đợt 14, 15 là 80.000.000 đồng.
Đối với phần phát biểu ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp về việc giải quyết vụ án, HĐXX thấy: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã phân tích đúng nội dung của vụ án và đưa ra ý kiến về việc giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 19.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, Điều 147, Điều 203, Khoản 2 Điều 244, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 280, khoản 2 Điều 419 Bộ luật dân sự năm 2015
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH P: Buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 thanh toán số tiền thi công đợt 9, đợt 11 là 300.000.000 đồng ( ba trăm triệu đồng), bồi thường thiệt hại tương đương với số tiền thi công đợt 14, 15 là 80.000.000 đồng ( tám mươi triệu đồng), tổng cộng là 380.000.000 đồng ( ba trăm tám mươi triệu đồng). Phát sinh từ hợp đồng xây dựng số 06/2023-HĐXD.ANKHANG ngày 17/4/2023 ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn. Bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 phải thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật,
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Hoàn tiền tạm án phí sơ thẩm 9.500.000 đồng cho nguyên đơn Công ty TNHH P theo biên lai thu số 0012873 ngày 17/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 phải chịu án phí sơ thẩm 19.000.000 (mười chín triệu đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Nguyễn Thanh T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Diệu L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Linh |
Bản án số 956/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng
- Số bản án: 956/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
