Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Thành phố H

———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————

Bản án số: 955/2024/DS-PT

Ngày: 26/11/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố H

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Tiên

Các Thẩm phán: 1. Bà Trần Thị Thủy

2. Bà Lê Thị Anh Minh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Võ Quỳnh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Đức- Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20 và 26/11/2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Thành phố H, đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 706/2024/TLPT-DS ngày 01/10/2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Do bản án dân sự sơ thẩm số 1236/2024/DS-ST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố H bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7089/2024/QĐXX-PT ngày 10/10/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 5678/2024/QĐPT-DS ngày 30/10/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng N2.

Địa chỉ: B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo ủy quyền:

  1. Ông Phạm Chu K, sinh năm 1967 (có mặt)
  2. Ông Phạm Hùng A, sinh năm 1996 (có mặt)

Cùng địa chỉ: B- 30- C M, phường B, Quận A, Thành phố H (Văn bản ủy quyền số 354/UQ- TTSG- TH ngày 06/3/2024).

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1996 – Luật sư của Công ty L – thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (vắng mặt).

Địa chỉ: 1 (số mới A) L, Phường A, quận G, TP ..

Bị đơn: Bà Hồ Thị Mộng T1, sinh năm 1970 (có mặt)

Địa chỉ: A Đ, Phường A, quận B, TP ..

Địa chỉ liên lạc: 5 N, Phường F, quận T, TP ..

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Hồ Thị Mộng T2, sinh năm 1962
  2. Ông Đỗ Minh Q, sinh năm 1957

Người đại diện theo ủy quyền của ông Q, bà T2: Ông Huỳnh Công Đ, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: C Đường số B, khu phố A, Phường P, thành phố T, Thành phố H.

  1. Bà Nguyễn Thị Cẩm T3, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: I Đường số H, khu phố A, Phường P, thành phố T, TP ..

  1. Bà Lê Trường Bảo N, sinh năm 1996 (vắng mặt)
  2. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1994 (vắng mặt)
  3. Bà Trương Thu H, sinh năm 1971 (vắng mặt)
  4. Bà Trần Thị Tuyết N1, sinh năm 2003 (vắng mặt)

Cùng cư trú: 3 L, Phường A, quận T, TP ..

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai của đại diện nguyên đơn trong quá trình tố tụng, thể hiện:

Ngày 25/9/2009 bị đơn đã ký kết với Ngân hàng N2 (sau đây gọi là Ngân hàng) Hợp đồng tín dụng số 1900-LAV-200901843 để vay 3.000 chỉ vàng SJC, thời gian vay 36 tháng, lãi suất cho vay là 6.5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.

Để đảm bảo khoản vay của bị đơn đã thế chấp căn nhà số C L, Phường A, quận T, Thành phố H, do ông Đỗ Minh Q, bà Hồ Thị Mộng T2 là chủ sở hữu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 789790, số vào sổ cấp GCN: CH01147 ngày 10/01/2021; Việc thế chấp cũng đã được đăng ký giao dịch đảm bảo tại Phòng Tài nguyên và Môi trường quận T ngày 14/01/2010.

Trong thời hạn vay, bị đơn đã thanh toán nợ gốc 1.000 chỉ vàng SJC, số còn lại là 2.000 chỉ vàng SJC.

Sau đó, theo đề nghị của bị đơn Ngân hàng đã đồng ý và ngày 10/11/2011 hai bên ký Hợp đồng tín dụng số 1900-LAV-200901843 chuyển đổi dư nợ vàng sang tiền đồng Việt Nam với số tiền là 8.618.000.000 đồng; Lãi suất vay 19,5%/năm, thời hạn vay là 12 tháng.

Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên vào năm 2017 Ngân hàng khởi kiện, yêu cầu bị đơn thanh toán:

+ Tổng số nợ gốc và lãi tạm tính từ ngày 20/10/2011 đến ngày 21/6/2024 là 37.541.859.792 đồng (Trong đó nợ gốc là 8.618.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 21.608.557.750 đồng, tiền lãi quá hạn là 7.315.302.041);

+ Đồng thời phải trả số lãi vàng của Hợp đồng tín dụng số 1900 LAV-200901843 ngày 25/9/2009 trước đây vân chưa thanh toán là 192,57 chỉ vàng SJC quy đổi thành tiền đồng Việt Nam tại thời điểm xét xử ngày 20/6/2024 là: 192,57 x 7.701.000 đồng/chỉ = 1.482.974.725 đồng.

Tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã tự nguyện giảm tiền lãi chỉ còn 6.868.492.195 đồng; yêu cầu trả tổng nợ gốc và lãi là 15.486.492.195 đồng. Đối với nợ lãi vàng thì vẫn giữ nguyên yêu cầu.

Nếu bà T1 không tự nguyện thanh toán nợ, thì yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là nhà, đất tọa lạc tại địa chỉ số C L, Phường A, quận T, Thành phố H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CX 789790 1106/GP-CS ngày 14/3/1992 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp cho ông Đỗ Minh Q là chủ sở hữu nay đổi thành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 789790, số vào sổ cấp GCN: CH01147 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố H cấp ngày 10/01/2021 cho ông Đỗ Minh Q, bà Hồ Thị Mộng T2 để thu hồi nợ.

Theo trình bày của bị đơn- bà Hồ Thị Mộng T1: Bà thống nhất với lời khai của nguyên đơn về các hợp đồng tín dụng có thế chấp tài sản đảm bảo. Bà đồng ý thanh toán nợ gốc 8.618.000.000 đồng, nhưng xin giảm nợ lãi. Đối với số nợ lãi vàng 192,57 chỉ, bà đề nghị quy đổi thành tiền đồng Việt Nam vào thời điểm tháng 10 năm 2011.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Hồ Thị Mộng T2 và ông Đỗ Minh Q trình bày: Ông bà xác nhận là chủ sở hữu căn nhà tọa lạc tại số C L, Phường A, quận T, Thành phố H, đồng thới thừa nhận đã ký Hợp đồng thế chấp tài sản số 1900 LCP-200801035 ngày 06/01/2010, để đảm bảo khoản vay của bà T1. Ông bà đề nghị Ngân hàng xem xét miễn toàn bộ khoản lãi phát sinh và tiền phạt chậm trả cho bà T1.

Trường hợp bà T1 không thanh toán khoản nợ nêu trên, thì ông bà đồng ý giao tài sản thế chấp cho Ngân hàng để thu hồi nợ.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 1236/2024/DSST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố H đã tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1.1/ Bà Hồ Thị Mộng T1 phải thanh toán cho Ngân hàng N2 tổng số tiền nợ là 15.486.492.195 (mười lăm tỷ bốn trăm tám mươi sáu triệu bốn trăm chín mươi hai ngàn mội trăm chín mươi lăm) đồng, gồm: gồm: Tiền nợ gốc là 8.618.000.000 đồng + Tiền lãi trong hạn: 6.868.492.195 đồng, tính từ ngày 20/10/2011 đến ngày 21/6/2024 của Hợp đồng tín dụng số 1900-LAV-201100700/HĐTD ngày 10/11/2011

+ số lãi vàng còn nợ là 192.57 chỉ vàng SJC của hợp đồng số 1900-LAV-200901843 ngày 25/9/2009 được quy đổi ra tiền đồng vào ngày 20/6/2024 với tỷ giá là 7.701.000 đồng/chỉ = 1.482.974.725 đồng, tính từ ngày 29/9/2009 đến ngày 21/6/2024 của hợp đồng số 1900-LAV-200901843 ngày 25/9/2009. Thanh toán trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Bà Hồ Thị Mộng T1 phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh tính từ ngày 22/6/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất 9%/ năm.

1.2/ Trường hợp bà Hồ Thị Mộng T1 không thanh toán tổng số tiền nợ là 15.486.492.195 đồng thì Ngân hàng N2 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là nhà, đất tọa lạc tại số C L, Phường A, quận T, Thành phố H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 789790, số vào sổ GCN CH 01147 ngày 10/01/2021 cấp cho ông Đỗ Minh Q và bà Hồ Thị Mộng T2 để thu hồi nợ.

1.3/ Sau khi bà Hồ Thị Mộng T1 thanh toán hết nợ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng phải giải chấp tài sản và trả lại cho bà Hồ Thị Mộng T2, ông Đỗ Minh Q toàn bộ bản chính các giấy tờ gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 789790, số vào sổ cấp GCN: CH01147 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố H cấp ngày 10/01/2021; Thông báo về việc nộp tiền lệ phí trước bạ nhà, đất ngày 18/01/2021; Thông báo về việc nộp tiền sử dụng đất ngày 18/01/2021.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự cũng như các quy định về thi hành án dân sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm về số tiền lãi quy đổi từ số vàng 192,57 chỉ vàng SJC.

- Đại diện Ngân hàng không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

- Đại diện ủy quyền của ông Đỗ Minh Q có đơn yêu cầu giám định chữ ký tại Hợp đồng thế chấp tài sản số 1900 LCP-200801035 ngày 06/01/2010, nhưng vắng mặt tại phiên tòa.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các thành viên Hội đồng xét xử cũng như các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ y bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến phát biểu của vị Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền vay và tiền lãi, bị đơn cư trú tại quận B, nên Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh thụ lý giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm là đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ tranh chấp.

[2] Về hình thức đơn kháng cáo: Nhận thấy “Đơn kháng cáo” của bị đơn thực hiện trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[3] Về tố tụng:

Xét yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông Đỗ Minh Q tại Hợp đồng thế chấp tài sản số 1900 LCP-200801035 ngày 06/01/2010, Hội đồng xét xử thấy rằng quá trình tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm, ông Đỗ Minh Q và bà Hồ Thị Mộng T1 đã có lời khai thừa nhận việc đã ký Hợp đồng thế chấp nêu trên; Hơn nữa, đến ngày 21/11/2024, Tòa án đã nhận được đơn xin xét xử vắng mặt và đơn xin rút yêu cầu giám định của đại diện theo ủy quyền của ông Đỗ Minh Q, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm ghi nhận.

[4]. Về nội dung:

[4.1] Tại Bản án sơ thẩm, đã tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc bị đơn- bà Hồ Thị Mộng T1 thanh toán nợ gốc và nợ lãi của Hợp đồng tín dụng số 1900-LAV-201100700/HĐTD ngày 10/11/2011, đồng thời trả số nợ lãi vàng 192,57 chỉ SJC theo Hợp đồng tín dụng số số 1900-LAV-200901843 ngày 25/9/2009. Số lãi vàng này đã được Tòa án cấp sơ thẩm quy đổi thành tiền tại thời điểm xét xử ngày 20/6/2024 là 1.482.974.725 đồng.

Bị đơn không đồng ý với phán quyết này của Tòa án cấp sơ thẩm, nên kháng cáo- yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa một phần bản án sơ thẩm, theo hướng quy đổi lãi vàng 192,57 chỉ SJC thành tiền đồng Việt Nam tại thời điểm tháng 11 năm 2011 (4.309.000 đồng/chỉ SJC). Vì thời điểm đó Ngân hàng chuyển đổi khoản vay vàng (theo Hợp đồng tín dụng năm 2009) thành vay tiền (Hợp đồng tín dụng năm 2011) và đã chốt lãi còn tồn đọng của khoản vay vàng là 192,57 chỉ SJC.

[4.2] Về yêu cầu kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, căn cứ nội dung đơn khởi kiện, lời khai của đại diện Ngân hàng trong quá trình tố tụng, cũng như căn cứ Điều 1 của “Hợp đồng tín dụng” số 1900-LAV-201100700/HĐTD ngày 10/1/1/2011, căn cứ Giấy lĩnh tiền lập ngày 20/11/2011, đủ cơ sở xác định rằng Ngân hàng đã đồng ý chuyển đổi dư nợ của bà T1 từ vàng (2.000 chỉ vàng SJC) sang thành tiền (8.618.000.000 đồng). Như vậy Hợp đồng tín dụng số 1900-LAV-200901843 về vay vàng ngày 25/9/2009 giữa Ngân hàng và bà T1 đã chấm dứt hiệu lực, Ngân hàng cũng đã chốt số nợ lãi của Hợp đồng vay vàng là 192,57 chỉ SJC. Hơn nữa, theo Thông tư số 11/2011/TT-NHNN ngày 29/4/2011 của Ngân hàng N3, quy định về chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng- tại Điều 3 có quy định “....Đối với số vốn bằng vàng đã chuyển đổi thành tiền phải tất toán chậm nhất là vào ngày 30/6/2011”. Vậy nên số nợ lãi vàng 192,57 chỉ SJC này cũng phải được quy đổi thành tiền tại thời điểm năm 2011, cụ thể là: 192,57 x 4.309.000 đồng = 829.784.130 đồng.

Việc Ngân hàng không chuyển đổi nợ lãi của Hợp đồng tín dụng số 1900-LAV-200901843 ngày 25/9/2009 là có thiếu sót, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bị đơn, nên xét thấy cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa bản án về tiền lãi. Đồng thời lưu ý Ngân hàng phải có trách nhiệm hoàn tất thủ tục chuyển đổi bổ sung nợ lãi vàng 192,57 chỉ SJC thành tiền đồng Việt Nam theo tỷ giá tại thời điểm ngày 10/11/2011 là 4.309.000 đồng/chỉ vàng SJC.

[4.3] Với nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không đồng ý với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H.

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm về tiền lãi, nên án phí dân sự sơ thẩm cũng sẽ được điều chỉnh lại theo quy định của pháp luật.

[6]. Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm, nên người kháng cáo là bà Hồ Thị Mộng T1 không phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 147; Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, 95, 96 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn;

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 1236/2024/DSST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố H:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- Ngân hàng N2:

1.1/ Buộc bị đơn- bà Hồ Thị Mộng T1 thanh toán cho Ngân hàng N2 các khoản sau:

- Tổng tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 21/6/2024 của Hợp đồng tín dụng số 1900-LAV-200901843 ngày 10/11/2011 là 15.486.492.195 (Mười lăm tỷ, bốn trăm tám mươi sáu triệu, bốn trăm chín mươi hai nghìn, một trăm chín mươi lăm) đồng (trong đó tiền gốc là 8.618.000.000 đồng, tiền lãi là 6.868.492.195 đồng).

Kể từ ngày 22/6/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ, bà Hồ Thị Mộng T1 còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng nêu trên.

- Nợ lãi vàng 192,57 chỉ SJC đã được quy đổi thành tiền đồng Việt Nam tại thời điểm 10/11/2011 là 829.784.130 (T4 trăm hai mươi chín triệu, bảy trăm tám mươi bốn nghìn, một trăm ba mươi) đồng. (Ngân hàng có trách nhiệm hoàn tất thủ tục chuyển đổi Hợp đồng tín dụng số 1900-LAV-200901843 ngày 25/9/2009 từ vàng sang tiền theo quy định của Ngân hàng N3).

1.2/ Trường hợp bà Hồ Thị Mộng T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ, thì Ngân hàng N2 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đảm bảo- là nhà đất tọa lạc tại số C L, Phường A, quận T, Thành phố H, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 789790, số vào sổ GCN CH 01147, do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 10/01/2021 cho ông Đỗ Minh Q và bà Hồ Thị Mộng T2 để thu hồi nợ.

1.3/ Sau khi bà Hồ Thị Mộng T1 thanh toán hết nợ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng phải giải chấp tài sản và trả lại cho bà Hồ Thị Mộng T2, ông Đỗ Minh Q toàn bộ bản chính các giấy tờ gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 789790, số vào sổ cấp GCN: CH01147 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố H cấp ngày 10/01/2021; Thông báo về việc nộp tiền lệ phí trước bạ nhà, đất ngày 18/01/2021; Thông báo về việc nộp tiền sử dụng đất ngày 18/01/2021.

2. Không chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn về việc quy đổi lãi vàng thành tiền theo tỷ giá tại thời điểm xét xử, với số tiền không được chấp nhận là 653.487.595 đồng.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn- bà Hồ Thị Mộng T1 phải chịu 124.316.276 (Một trăm hai mươi bốn triệu, ba trăm mười sáu nghìn, hai trăm bảy mươi sáu) đồng.

Nguyên đơn- Ngân hàng N2 phải chịu 30.127.624 (Ba mươi triệu, một trăm hai mươi bảy nghìn, sáu trăm hai mươi bốn) đồng.

Cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 61.574.780 đồng mà nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu số AA/2014/009807 ngày 24/02/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố H, nguyên đơn được nhận lại 31.447.156 (Ba mươi mốt triệu, bốn trăm bốn mươi bảy nghìn, một trăm năm mươi sáu) đồng.

4. Án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu.

Hoàn trả lại cho bị đơn số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo Biên lai thu số 0028788 ngày 18/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố H.

Các đương sự thi hành án theo các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND quận Bình Thạnh;
  • - Chi cục THADS quận Bình Thạnh;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Thị Mỹ Tiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 955/2024/DS-PT ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố H về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 955/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger