Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 952/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31-7-2024.

V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Túy Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Ngọc
  2. Bà Nguyễn Phước Trinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên toà:

Không.

Trong ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 251/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 313/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 360/2024/QÐST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Cẩm V, sinh năm 1980 (Có mặt)

    Địa chỉ: Số 1, đường Q, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Bị đơn: Ông Võ Văn Quốc H, sinh năm 1979 (Vắng mặt)

    Địa chỉ: Số 1, đường Q, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh

    Địa chỉ liên lạc: Số C, đường số F, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn xin ly hôn ghi ngày 27 tháng 02 năm 2024, tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Trần Cẩm V trình bày như sau:

Bà và ông H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào năm 2004, tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11, ngày 06/02/2004.

Trong thời gian đầu chung sống, vợ chồng rất hạnh phúc. Đến năm 2023, vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, không còn trao đổi những vấn đề trong cuộc sống. Hai vợ chồng cũng đã sống ly thân 01 năm nay. Nay bà nhận thấy hôn nhân không đạt mục đích, đời sống chung không thể kéo dài vì mâu thuẫn không thể hàn gắn được nữa. Bà cũng không muốn tiếp tục hôn nhân này. Bà xin ly hôn với ông H.

Về con chung: Có 02 con chung tên Võ H1, sinh năm 2004 (đã trưởng thành và đủ khả năng lao động) và Võ Ngọc Trà M, sinh ngày 06/7/2006. Bà có xin trực tiếp nuôi cháu M và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi cháu M. Tuy nhiên đến thời điểm Tòa án đưa vụ án ra xét xử, cháu M đã đủ 18 tuổi và đủ khả năng lao động nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

Về tài sản chung: Bà và ông H tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Bà xác định không có.

- Bị đơn ông Võ Văn Quốc H trình bày:

Ông và bà V tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào năm 2004, tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11, ngày 06/02/2004.

Trong thời gian đầu chung sống, vợ chồng rất hạnh phúc. Đến năm 2023, vợ chồng ông phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống. Hai vợ chồng cũng đã sống ly thân 01 năm nay. Ông không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà V.

Về con chung: Có 02 con chung tên Võ H1, sinh năm 2004 (đã trưởng thành và đủ khả năng lao động) và Võ Ngọc Trà M, sinh ngày 06/7/2006. Bà V xin trực tiếp nuôi cháu M và không yêu cầu ông cấp dưỡng nuôi cháu M thì ông đồng ý.

Về tài sản chung: Ông xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông xác định không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Căn cứ đơn xin ly hôn ghi ngày 27 tháng 02 năm 2024, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là tranh chấp ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bị đơn ông Võ Văn Quốc H có nơi cư trú tại xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi.

Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Xét yêu cầu xin ly hôn của bà V:

V và ông H tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân vào năm 2004, cả hai có tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 06/02/2004, nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét mâu thuẫn phát sinh: Bà V trình bày vào năm 2023, vợ chồng bà xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không còn trao đổi những vấn đề trong cuộc sống. Hai vợ chồng cũng đã sống ly thân được 01 năm. Ông H xác nhận mâu thuẫn vợ chồng xảy ra như bà V trình bày, vợ chồng từ đó sống ly thân, không còn quan tâm lẫn nhau nữa.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để tạo điều kiện cho các đương sự hàn gắn tình cảm, đồng thời giải quyết các mâu thuẫn phát sinh. Tuy nhiên, bị đơn ông H vắng mặt, ông H cũng xác định không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đồng thời, bà V và ông H xác định bà ông đã sống ly thân từ năm 2023. Xét thấy, bà V và ông H không còn tạo điều kiện cho nhau để thực hiện quyền, nghĩa vụ vợ chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn kéo dài, đời sống chung trên thực tế không còn tồn tại. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở.

[3]. Về con chung: Bà V và ông H có Có 02 con chung tên Võ H1, sinh năm 2004 (đã trưởng thành và đủ khả năng lao động) và Võ Ngọc Trà M, sinh ngày 06/7/2006. Tuy nhiên đến thời điểm Tòa án đưa vụ án ra xét xử cháu M đã đủ 18 tuổi nên bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung. Do đó, Hội đồng xét xử xét không xem xét là phù hợp.

[4]. Về tài sản chung: Bà V và ông H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Bà V và ông H xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.

[5]. Về án phí sơ thẩm:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

1. Về quan hệ hôn nhân:

Cho ly hôn giữa bà Trần Cẩm V và ông Võ Văn Quốc H.

2. Về con chung:V và ông H có Có 02 con chung tên Võ H1, sinh năm 2004 và Võ Ngọc Trà M, sinh ngày 06/7/2006 (đều đã trưởng thành và đủ khả năng lao động).

3. Về tài sản chung:V và ông H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Bà V và ông H xác định không có.

4. Về án phí:

Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà V phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà V đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0019477 ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi. Bà V đã nộp đủ tiền án phí.

5. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi;
  • - UBND xã Phước Thạnh, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Túy Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 952/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 952/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn giữa bà V và ông H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger