Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 952/2024/HS-PT

Ngày: 27 -9 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Thanh

Bà Bùi Thị Thu

Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị linh Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 518/2024/TLPT-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo Phan Hữu T, Nguyễn Ngọc T1, Phan Quốc Đ, Nguyễn Thanh P do có kháng cáo của các bị cáo và kháng nghị đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 6107/2024/QĐXXPT – HS ngày 17 tháng 9 năm 2024, đối với:

* Bị cáo bị kháng nghị: Phan Hữu T; Tên gọi khác: Tuấn A, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1983 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn T2, sinh năm 1964 và bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1963; Vợ: Đỗ Thị L, sinh năm 1984 và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền sự, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ 16/01/2023, tạm giam từ ngày 19/01/2023 cho đến nay; (không trích xuất tham gia phiên tòa do Viện kiểm sát rút kháng nghị).

* Các bị cáo kháng cáo:

  1. Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 30 tháng 6 năm 2000 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Ngọc Á, sinh năm 1965; Vợ: Nguyễn Thị Kim N; sinh năm 2001và 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/01/2023, tạm giam từ ngày 29/01/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

    - Người bào chữa theo yêu cầu cho bị cáo T1: có Luật sư Trần Văn D, Công ty L4 - Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt).

  2. Phan Quốc Đ, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2001 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: Số A đường N, Khu phố A, Phường B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn Q, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Vân H, sinh năm 1972; Vợ: Phạm Trúc L2; sinh năm 2000; Bị cáo chưa có con; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 01/02/2023, tạm giam từ ngày 07/02/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

    - Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Đ: Luật sư Nguyễn Hoàng A1, Văn phòng L5 - Đoàn Luật sư tỉnh T (có mặt).

  3. Nguyễn Thanh P; Tên gọi khác: Phong Tốc Đ1, sinh ngày 30 tháng 12 năm 1992 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh V, sinh năm 1965 và bà Huỳnh Thị T3, sinh năm 1968; Bị cáo chung sống như vợ chồng với Trần Thị T4, sinh năm 1993, có 01 người con sinh năm 2017;

    Tiền án: 01 tiền án, ngày 26/7/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 26/2019/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt ngày 08/5/2021;

    Tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 07/5/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo bản án số 18/2014/HSST (đã xóa án tích); Ngày 19/7/2023 bị Ủy ban nhân dân thị trấn V xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/11/2023 cho đến nay. (Không trích xuất bị cáo tham gia phiên tòa, do đã rút kháng cáo).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Hữu T kinh doanh quán ăn uống “K" thuộc khu phố C, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang, tại quán có đặt 01 máy game bắn cá để đánh bạc thắng thua bằng tiền (loại máy 08 người chơi, bắn tiên sắc).

Khoảng 20 giờ ngày 12/01/2023, do chơi game bắn cá thua, nên Nguyễn Thanh P (P tốc độ) đến quán “Kim L3” quậy phá, dùng dao tự chế đập phá bàn ghế, đe dọa yêu cầu T phải trả lại cho P số tiền 20 triệu đồng mà P đã thua, nhưng T chỉ đưa cho P 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng), sau đó P kêu xe ba gác máy (của người không biết họ tên địa chỉ) đến lấy máy game bắn cá của T đem bán cho người không rõ họ tên địa chỉ lấy 10.000.000 đồng tiêu xài cá nhân.

Trước lúc P lấy máy bắn cá, T có điện thoại trình báo Công an thị trấn V nhưng chưa được giải quyết. Bức xúc với việc P làm, nên T điện thoại cho Lê Huỳnh Thanh H1 (Phít), sinh năm 1996, cư trú ấp Ô, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang (H1 là em bạn dì ruột của T) nhờ giúp đỡ giải quyết mâu thuẫn với P. Do không biết ai ở thị trấn V nên H1 điện thoại cho Nguyễn Trần Thanh P1 (Phương bét), sinh năm 1992, cư trú khu phố D, phường B, thị xã G để nhờ P1 giải quyết mâu thuẫn giúp T.

Khoảng 21 giờ cùng ngày, trong lúc P1 và Trương Hoàng Minh K đang nói chuyện tại đầu hẻm vào nhà thì H1 (P2) điện thoại cho P1 nói “T nhờ giải quyết mâu thuẫn với P”. H1 nhắn tin số điện thoại của T cho P1, P1 nói lại cho K nghe, K đồng ý và điện thoại cho T để hỏi rõ sự việc. Sau khi nghe T nói rõ mâu thuẫn với P, K hẹn ngày 13/01/2023 sẽ đến quán “Kim L3” gặp T để bàn việc giải quyết mâu thuẫn.

Sáng ngày 13/01/2023, P tiếp tục đến quán “Kim L3” quậy phá, đòi đốt quán. Lúc này T điện thoại cho H1 (Phít) nói: “thằng P nó chạy xe nẹt pô trước quán nữa có sao không”, H1 (P2) nói lại sự việc với P1 thì P1 nói để kêu người xuống giải quyết.

Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, K gọi điện thoại cho Trần Văn H2 rủ H2 đến V cùng K giải quyết công chuyện và kêu H2 rủ thêm vài người. Văn H2 gọi điện thoại rủ thêm Nguyễn Thanh T5. Tiền rủ thêm Nguyễn Thanh H3 và Huỳnh Lưu P3 cùng nhau đến ngã ba thị trấn V gặp K; K rủ thêm Nguyễn Minh T6, Phan Quốc Đ, Nguyễn Ngọc T1. K đưa cho T6 01 cây gậy bóng chày, K điều khiển xe mô tô biển số 63B6 - 325.36 chạy đến nhà Nguyễn Minh T7 tại Phường C, thị xã G để K đi vào chuồng gà lấy thêm cây kiếm nhật dài khoảng 60 cm, màu đen, lưỡi kiếm bằng kim loại có mũi bầu (theo mô tả của K). Sau đó K chở T6, T1 chở Đ bằng xe mô tô biển số 63B6 - 497.70, T6 đưa cây gậy bóng chày cho Đ cầm, khi đi T1 có mang theo 01 con dao bằng kim loại màu đen, dài khoảng 25 cm, phần mũi dao bằng kim loại màu đen, có mũi nhọn, phần cán dao bằng kim loại (theo

mô tả của Nguyễn Ngọc T1) đi đến thị trấn V. Lúc này, T7 chở Trần Phúc N1, sinh ngày 28/7/2008, cư trú ấp T, xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang (hiện đã bỏ trốn) bằng xe mô tô biển số 63B6 - 205.36 đến ngã ba xã T, huyện G, T7 thấy nhóm của K đi ngang nên chạy theo. Khi đến gần ngã ba thị trấn V, huyện G thì gặp nhóm của Văn H2, tất cả cùng nhau đến quán “Kim L3”.

K cùng Đ, T6, T1, T7, N1, Văn H2, T5, H3, Lưu P3 vào trong quán gặp T. T nói cho K nghe việc mâu thuẫn và nhờ K giải quyết mâu thuẫn với Thanh P, cả nhóm đồng ý và nói “sẽ bắt P về thị xã G”. Lúc này, T điện thoại cho Thanh P và hẹn Thanh P đến quán K1 để chuộc lại điện thoại (điện thoại mà P đã cầm cố cho T trước đó khi bắn cá thua) nhằm mục đích dụ Thanh P đến gặp nhóm của K, còn nhóm K đi qua quán nước của Lê Thúy D1, sinh năm 1991, địa chỉ: khu phố C, thị trấn V, huyện G đối diện quán ăn “Kim Liên” chờ P đến giải quyết mâu thuẫn.

Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Thanh P điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki Sport, biển số 63B3 - 160.46 chở Nguyễn Văn T8, sinh năm 1988, cư trú: Khu phố C, thị trấn V, huyện G nẹt pô chạy qua lại trước quán “Kim L3”. Khi đến quán nước của Lê Thúy D1 thì Thanh P và T8 dừng xe lại nói chuyện với nhóm của K với thái độ thách thức đánh nhau. K dùng tay kẹp cổ Thanh P vật xuống đất, Thanh P bỏ chạy. Lúc này tất cả cùng xông đến đánh nhau với T8 và Thanh P. T1 cầm dao mang theo xông vào đâm trúng vùng ngực trái của T8; T7 dùng gậy bóng chày đánh trúng vùng vai của T8; Đ cầm kiếm N2 chém về phía T8, T8 bỏ chạy ra phía sau khu vực ao nuôi tôm; Đ cầm kiếm nhật của K đưa chém về phía T; K dùng gạch đánh vào đầu Thanh P; T1 dùng dao bấm đâm trúng vùng chân trái của Thanh P làm Thanh Phong bất tỉnh. Sau đó H2, Lưu P3, T5, H3 kéo Thanh P ra ngoài, T6 cầm thau nước tạt vào mặt cho Thanh P tỉnh lại nhưng do tay bị đau nên T6 bỏ xuống. K lấy nước tạt vào mặt cho Thanh P tỉnh lại. H2, Lưu P3, T5, H3 kéo Thanh P lên xe chở đi về hướng thị xã G, trên đường đi do thấy Thanh P bị chảy máu nhiều nên đã đưa Thanh P vào Trạm y tế xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang cấp cứu, sau đó, tất cả chia nhau bỏ trốn. Đến ngày 14/01/2023 thì người dân xung quanh phát hiện T8 tử vong phía sau nhà của chị D1.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường lập lúc 19 giờ 30 phút ngày 13/01/2023 ghi nhận: Hiện trường nơi xảy ra vụ việc nằm tại khu vực xung quanh tiệm hàn, tiện của anh Phan Dũng S, sinh năm 1986 cư trú khu phố C, thị trấn V và quán giải khát của chị Lê Thúy D1 sinh năm 1991 (là vợ anh S, cư trú cùng địa chỉ).

Khu vực phía sau quán của chị Lê Thúy D1 ghi nhận từ mép phía Đông của quán về hướng Đ 38 m cách bờ ao ở phía nam 01 m là vị trí bắt đầu của 01 dãy vết màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt không liên tục nghi là máu và còn mới, kéo dài về hướng Đông – Bắc kích thước (280x20) cm. Tiếp nối vết này về hướng Đông - Bắc, trên

bờ rau muống có 01 dãy dấu vết ngã rạp còn mới, kéo dài liên tục về hướng Đông – Bắc kích thước (300 x 80) cm. Từ điểm kết thúc của vết này về hướng Đông – Bắc 01 m là vị trí của tử thi Nguyễn Văn T8 sinh năm 1988 cư trú khu phố C, thị trấn V, Gò Công Đ2 đang nằm ở tư thế nằm ngửa, đầu quay về hướng Bắc và nằm sát mép bờ ao, hai tay và hai chân dang rộng. Tử thi mặc áo thun trắng dài tay có chữ “adidas” trên ngực trái, mặt trước và mặt lưng có nhiều vết màu đỏ nghi là máu còn mới, mặc quần jeans màu xanh dài tới đầu gối.

Tại Bản kết luận giám định Pháp y về tử thi số 18/2023/TTh ngày 14/01/2023, của Trung tâm Pháp y tỉnh T đối với Nguyễn Văn T8 xác định:

Các kết quả chính: Tụ máu dưới da đầu vùng đỉnh phải. Vở bản sọ ngoài vùng đỉnh phải; Tụ máu dưới da vùng ngực trái, khoang liên sườn 3, 4, 5 bên trái; Rách cơ gian sườn 3, 4 bên trái; Xẻ mô phổi phải có ít máu đỏ sậm; Phổi trái xẹp toàn bộ hai thùy, khoang màng phổi trái có khoảng 2000 ml máu đỏ tươi lẫn máu cục; Thủng bao màng tim bên trái; Cắt bao màng tim có khoảng 300 ml máu đỏ tươi lẫn máu cục; Thủng mặt trước tâm thất trái thông bào buồng tâm thất; Buồng tim trái có ít máu loãng.

Kết luận nguyên nhân tử vong tử thi Nguyễn Văn T8: mất máu cấp do vết thương thấu ngực gây thủng tâm thất trái.

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 487/BVĐKTG-GCN ngày 04/12/2023 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh T ghi nhận tình trạng của Nguyễn Thanh P lúc vào viện (19 giờ 55 phút ngày 13/01/2023) như sau:

  • Sưng, đau đầu.
  • 01 vết thương 1/3 giữa mặt trước trong cẳng chân trái # 3cm sắc gọn.
  • Vết thương mặt ngoài ngón 1 bàn chân 02 bên.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 428/-2023/KLTTCT-TTPY ngày 06/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T đối với Nguyễn Thanh P xác định: Sẹo vết mổ trùng sẹo vết thương 1/3 giữa trong cẳng chân phải; vết thương mặt lưng ngón 1 bàn chân phải để lại vết biến đổi sắc tố da; Sẹo vết thương mặt lưng ngón I bàn chân trái; Tổn thương động mạch chày sau chân trái đã khâu nối kết quả tốt không có biểu hiện thiếu máu nuôi dưỡng bên dưới; Đứt bán phần thần kinh chày sau chân trái đã phẩu thuật khâu nối phục hồi vận động và cảm giác tốt.

Kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Thanh P là 10% (Mười phần trăm).

Tại Kết luận giám định số 705/KL-KTHS ngày 25/9/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh T thể hiện: Trích xuất được 04 (bốn) tập tin video trong mẫu cần

giám định trong khoảng thời gian hiển thị từ 19 giờ ngày 12/01/2023 đến 16 giờ 30 phút ngày 13/01/2023; Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt, ghép nội dung hình ảnh trong 04 (bốn) tập tin video trên; Trích xuất 08 ảnh thể hiện đặc điểm trang phục của 10 (mười) đối tượng và 24 ảnh thể hiện hành động đối tượng theo thời gian hiển thị trong bốn tập tin video trích xuất. Thể hiện chi tiết trong Bản ảnh trích xuất.

Tại Công văn số 2431/STC-QLGCS ngày 31/8/2023 của Sở Tài chính tỉnh T xác định hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh không đủ cơ sở định giá đối với máy game bắn cá màu vàng loại 08 tay chơi, loại hình bắn cá tiên sắc, màn hình phẳng 49 inch.

Vật chứng thu giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tạm giữ 01 miếng vải gạc thu vết màu đỏ dính trên nền cỏ ở khu đất phía Nam tiệm của anh Phan Dũng S, niêm phong vào 01 phong bì giấy có chữ ký xác nhận của các bên tham gia khám nghiệm hiện trường.

Đối với con dao là hung khí T1 dùng đâm Nguyễn Văn T8 tử vong, cây kiếm nhật, gậy bóng chày của Trương Hoàng Minh K, T1 khai sau khi gây án đã ném bỏ trên đường nhưng không nhớ ném bỏ ở đâu, K khai sau khi gây án không biết ai cất giữ nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Đối với con dao tự chế Nguyễn Thanh P dùng đập phá bàn ghế, đe dọa để chiếm đoạt tài sản của Phan Hữu T, P khai không nhớ ném bỏ ở đâu nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự:

  • + Các bị cáo Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Minh T6, Trương Hoàng Minh K, Phan Quốc Đ, Nguyễn Minh T7, Trần Văn H2 đã bồi thường mỗi bị cáo 33.000.000 đồng (ba mươi ba triệu đồng); Các bị cáo Nguyễn Thanh T5, Nguyễn Thanh H3, Huỳnh Lưu P3 đã bồi thường mỗi bị cáo 34.000.000 đồng (ba mươi bốn triệu đồng);
  • + Các bị cáo Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Minh T6, Trương Hoàng Minh K, Phan Quốc Đ, Nguyễn Minh T7, Trần Văn H2; Nguyễn Thanh T5, Nguyễn Thanh H3, Huỳnh Lưu P3 đã bồi thường cho Nguyễn Thanh P số tiền là 50 triệu đồng. Hiện tại P đã làm đơn bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
  • + Phan Hữu T không yêu cầu Nguyễn Thanh P bồi thường.

Tại Cáo trạng số 07/CT-VKSTG-P2 ngày 07 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang đã truy tố các bị cáo Phan Hữu T, Trương Hoàng Minh K, Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Minh T7, Phan Quốc Đ, Trần Văn H2,

Nguyễn Minh T6, Nguyễn Thanh T5, Nguyễn Thanh H3, Huỳnh Lưu P3 về tội “Giết người” qui định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thanh P về tội “Cưỡng đoạt tài sản” qui định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang, quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Phan Hữu T, Trương Hoàng Minh K, Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Minh T7, Phan Quốc Đ, Trần Văn H2, Nguyễn Minh T6, Nguyễn Thanh T5, Nguyễn Thanh H3, Huỳnh Lưu P3 phạm tội “Giết người”; Bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

  1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 123, Điều 17, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt: Bị cáo Phan Hữu T 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/01/2023.

  2. Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123, Điều 17, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 39, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T1 tù chung thân.

  3. Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123, Điều 17, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt: Bị cáo Phan Quốc Đ 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 01/02/2023.

  4. Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh P 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/11/2023.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo Trương Hoàng Minh K, Nguyễn Minh T7, Trần Văn H2, Nguyễn Minh T6, Nguyễn Thanh T9, Nguyễn Thanh H3, Huỳnh Lưu P3, quyết định về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

  • - Ngày 22/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang kháng nghị một phần bản án hình sự sơ thẩm đối với phần áp dụng pháp luật và hình phạt của bị cáo Phan Hữu T.
  • - Ngày 16 tháng 9 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang đã ra Quyết định số 391/QĐ-VKSTG-P2 rút toàn bộ Quyết định kháng nghị

phúc thẩm số 12/QĐ-VKSTG –P2 ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc tăng hình phạt đối với bị cáo Phan Hữu T.

  • - Trong các ngày 13, 15 và 19/5/2024, các bị cáo Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Thanh P và Phan Quốc Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
  • - Ngày 17 tháng 9 năm 2024 bị cáo P từ nguyện rút toàn bộ kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Các bị cáo T1, Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo;
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo; Chấp nhận việc rút toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm.
  • - Quan điểm bào chữa của các luật sư:

Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T1: Luật sư đề nghị không áp dụng tình tiết định khung giết 02 người, vì bị cáo không cố ý giết bị hại P; sau khi xét xử sơ thẩm phía gia đình bị hại tiếp tục làm đơn bãi nại xin giảm hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo xuống tù có thời hạn.

Đối với bị cáo Phan Quốc Đ: Luật sư cũng đề nghị xem xét vai trò giúp sức của bị cáo Đ, đã khắc phục hậu quả và được phía gia đình làm đơn bãi nại nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Do có mâu thuẫn về việc bị hại Nguyễn Thanh P đến quậy phá quán, cưỡng đoạt tài sản của bị cáo Phan Hữu T. Nên ngày 13/01/2023 Phan Hữu T nhờ Trương Hoàng Minh K gặp Nguyễn Thanh P để giải quyết mâu thuẫn, làm cho Thanh P không tiếp tục quậy phá quán T.

Phía nhóm bị cáo T gồm: Trương Hoàng Minh K cùng Trần Văn H2, Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Minh T6, Phan Quốc Đ, Nguyễn Minh T7, Nguyễn Thanh T5, Nguyễn Thanh H3, Huỳnh Lưu P3 chuẩn bị hung khí và đến khu vực Khu phố C, thị trấn V gặp Nguyễn Thanh P, Nguyễn Văn T8. Tại đây, 02 bên cùng xông vào đánh nhau. Lúc này, T1 cầm dao bấm đâm 01 nhát trúng vùng ngực trái của T8, T7 dùng gậy bóng chày đánh trúng vùng vai của T8, còn Đ cầm kiếm chém về phía T8, T8 bỏ chạy ra phía sau khu vực ao nuôi tôm tử vong; Các bị cáo còn lại dùng

aty, kiếm, gạch để kẹp cổ, chém và đánh vào đầu, chân trái của Thanh P gây thương tích 10%.

Tại Bản kết luận giám định Pháp y về tử thi số 18/2023/TTh ngày 14/01/2023, của Trung tâm Pháp y tỉnh T đối với Nguyễn Văn T8 xác định nguyên nhân tử vong là mất máu cấp do vết thương thấu ngực gây thủng tâm thất trái.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 428/-2023/KLTTCT-TTPY ngày 06/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích của Nguyễn Thanh P là 10%.

Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang tuyên bố các bị cáo Phan Hữu T, Trương Hoàng Minh K, Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Minh T7, Phan Quốc Đ, Trần Văn H2, Nguyễn Minh T6, Nguyễn Thanh T5, Nguyễn Thanh H3, Huỳnh Lưu P3 phạm tội “Giết người”; Bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo các Điều 123, Điều 170 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, không oan cho các bị cáo.

[2]. Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang, thấy rằng:

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang đã ra Quyết định số 391/QĐ-VKSTG-P2 rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 12/QĐ-VKSTG –P2 ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc tăng hình phạt đối với bị cáo Phan Hữu T.

Xét thấy, việc rút kháng nghị là đúng quy định tại Điều 342 của BLTTHS năm 2015 nên Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng nghị này.

[3]. Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, thấy rằng:

[3.1]. Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Ngọc T1, thấy rằng:

Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Ngọc T1 là trực tiếp đâm chết bị hại Nguyễn Văn T8 và gây thương tích cho Nguyễn Thanh P; mặc dù trước đó không có mâu thuẫn gì đối với bị hại. Điều đó thể hiện tính côn đồ, xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác. Tuy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có 02 tình tiết định khung tăng nặng “tính chất côn đồ” và “giết 02 người trở lên”, hậu quả xảy ra là đặc biệt nghiêm trọng, án sơ thẩm xử phạt bị cáo T1 tù chung thân là tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp, chứng minh có tình tiết giảm nhẹ mới nên không có cơ sở để cấp phúc thẩm xem xét.

[3.2]. Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Quốc Đ, thấy rằng:

Bị cáo Phan Quốc Đ dùng kiếm chém bị hại T8, tuy không trực tiếp gây ra cái chết của bị hại, nhưng bị cáo có vai trò giúp sức một cách tích cực. Án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú; có tác động gia đình bồi thường cho phía bị hại, được gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; để xử phạt bị cáo Đ 14 năm là tương xứng với tính chất, hậu quả của vụ án và vai trò tham gia của bị cáo.

[3.3]. Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thành P4, thấy rằng:

Tại phiên tòa ngày 17 tháng 9 năm 2024 bị cáo P4 từ nguyện rút toàn bộ kháng cáo. Tòa phúc thẩm đã ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 39/2024/HSPT để đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với hình phạt của bị cáo, mức hình phạt 04 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” mà Tòa sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo có hiệu lực pháp luật.

[4]. Từ những phân tích và nhận định trên, có căn cứ chấp nhận việc rút kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.

[5]. Về án phí hình sự phúc thẩm:

Các bị cáo Nguyễn Ngọc T1, Phan Quốc Đ phải chịu 200.000 đồng kháng cáo không chấp nhận.

[6]. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Ngọc T1, Phan Quốc Đ. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phan Hữu T, Nguyễn Ngọc T1, phạm tội “Giết người”; Bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

  2. Về hình phạt:

    1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 123, Điều 17, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      Xử phạt: Bị cáo Phan Hữu T 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/01/2023.

    2. Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123, Điều 17, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 39, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T1 tù chung thân.

    3. Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123, Điều 17, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      Xử phạt: Bị cáo Phan Quốc Đ 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 01/02/2023.

    4. Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017..

      Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh P 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/11/2023.

  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

    Các bị cáo Nguyễn Ngọc T1, Phan Quốc Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Tiền Giang;
  • - Công an tỉnh Tiền Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - Trại tạm giam tỉnh Tiền Giang;
  • - Trại tạm giam tỉnh Tiền Giang;
  • (Tống đạt cho bị cáo)
  • - Lưu: HS, VP, 21bTTLH.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Văn Kết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 952/2024/HS-PT ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (giết người, cưỡng đoạt tài sản)

  • Số bản án: 952/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Giết người, Cưỡng đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger