|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 952/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16/8/2024
V/v “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Trí.
- - Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Võ Văn Tốt
- Ông Nguyễn Văn Quản
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thống - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12 - Tp ..
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12: Bà Lường Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 16/8/2024 tại Tòa án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 264/2024/TLST-HNST ngày 18/3/2024 về việc “ Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1092/2024/QĐXX-ST ngày 29/7/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trương Thị Ngọc L, sinh năm 1995 ( Có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Địa chỉ thường trú: 38/108/8 Tổ A, Khu phố C, phường Đ, Quận A, Tp ..
- Nơi cư trú hiện nay: Nhà không số ( 2C1, H2, 7D), Tổ 84, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Bị đơn: Ông Lê Dương Tấn T, sinh năm 1993 ( Có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Địa chỉ thường trú: 38/108/8 Tổ A, Khu phố C, phường Đ, Quận A, Tp.
- Nơi thi hành án hiện nay: Đội 8- Phân trại số C Trại Giam P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 07/3/2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Trương Thị Ngọc L trình bày:
Bà Trương Thị Ngọc L và ông Lê Dương Tấn T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, Quận A theo Giấy chứng nhận kết hôn số 172/2019, ngày 11/11/2019.
Do quá trình chung sống không hòa hợp, mâu thuẫn nhiều về tính cách, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện tại ông T đang thi hành án tại Đội 8- P Trại Giam P, huyện T, tỉnh Tiền Giang, nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Dương Tấn T.
Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Trương Tấn H, sinh ngày 20/02/2019; Lê Trương Khánh N, sinh ngày 04/3/2020. Bà L yêu cầu giao con chung cho bà L được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành, ông T không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
- Bị đơn ông Lê Dương Tấn T tại Bản tự khai ngày 10/7/2024 trình bày:
Ông và bà Trương Thị Ngọc L là vợ chồng sống chung với nhau từ năm 2019. Hiện tại ông đang chấp hành án tại Trại Giam P, huyện T, tỉnh Tiền Giang nên đối với yêu cầu khởi kiện của bà L ông có ý kiến như sau:
Về hôn nhân: Ông đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà L.
Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Trương Tấn H, sinh ngày 20/02/2019; Lê Trương Khánh N, sinh ngày 04/3/2020. Ông đồng ý giao con chung cho bà L được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành, ông T không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; người tham gia tố tụng dân sự nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về thời hạn giải quyết vụ án thì chưa đảm bảo theo quy định, cần xem xét rút kinh nghiệm. Về việc giải quyết nội dung vụ án, kiểm sát viên nhận thấy tất cả các yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do bị đơn ông Lê Dương Tấn T có địa chỉ cư ngụ tại Quận A nên căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12.
Bà Trương Thị Ngọc L, ông Lê Dương Tấn T có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định pháp luật.
2. Về nội dung: Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bà Trương Thị Ngọc L và ông Lê Dương Tấn T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, Quận A theo Giấy chứng nhận kết hôn số 172/2019, ngày 11/11/2019. Theo quy định tại Luật hôn nhân gia đình năm 2014, thì hôn nhân giữa bà L, ông T là đảm bảo giá trị pháp lý.
Nay bà L yêu cầu xin ly hôn với ông T do mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn. Tại Bản tự khai ngày 10/7/2024 ông T đã đồng ý với tất cả yêu cầu về ly hôn, con chung, tài sản chung, nợ chung với bà L . Như vậy, lời trình bày của bà L là hoàn toàn đúng, mâu thuẫn hôn nhân giữa bà L và ông T thực tế có tồn tại.
Khoản 1 Điều 39 Bộ luật dân sự 2015 quy định về quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình: “ Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng...”
Vì vậy, việc bà L nộp đơn đến Tòa án nhân dân Quận 12 xin ly hôn với ông T vì bà cho rằng cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông T không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được đó là quyền nhân thân chính đáng nên yêu cầu xin ly hôn của bà L là có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Về con chung: Do ông T đồng ý giao con chung cho bà L được trực tiếp nuôi dưỡng, ông T không cấp dưỡng nuôi con, điều này là phù hợp với yêu cầu của bà L nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng), bà Trương Thị Ngọc L phải nộp, được cấn trừ vào biên lai thu số 0021990 ngày 18/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L đã nộp đủ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- - Căn cứ Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
- - Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự 2015;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Bà Trương Thị Ngọc L được ly hôn với ông Lê Dương Tấn T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 172/2019, ngày 11/11/2019 do Ủy ban nhân dân phường Đ, Quận A cấp cho bà Trương Thị Ngọc L và ông Lê Dương Tấn T không còn giá trị kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Lê Trương Tấn H, sinh ngày 20/02/2019; Lê Trương Khánh N, sinh ngày 04/3/2020 cho bà L được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành.
Tạm hoãn việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng của ông Lê Dương Tấn T.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con; không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của người con, khi cần thiết có thể xin thay đổi người nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: không có.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng), bà Trương Thị Ngọc L phải nộp, được cấn trừ vào biên lai thu số 0021990 ngày 18/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L đã nộp đủ án phí.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát trực tiếp cấp trên là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Trí |
Bản án số 952/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - TP. HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 952/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - TP. HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Thị Ngọc L-Lê Dương Tấn T ly hôn
