|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 951/2024/DS-PT Ngày: 25/11/2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tú Oanh
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Cương
Bà Nguyễn Thị Lan Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 770/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 555/2024/DS-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5757/2024/QĐ-PT ngày 29/10/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Lương Hữu Đ, sinh năm: 1990; (Có mặt).
Địa chỉ: 5 đường P, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Hoàng Thị Thiên N, sinh năm: 1990;
Địa chỉ: Chung cư P đường T, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bà N: Ông Lương Hữu Đ, sinh năm: 1990; (Có mặt).
Địa chỉ: 5 đường P, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Vương Hữu L, Luật sư Văn phòng Luật sư Vương Hữu L thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (Có mặt)
Địa chỉ: C Đường số A, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Lương Hữu Đ, sinh năm: 1990; (Có mặt).
- Bị đơn:
- Ông Trần Đức H, sinh năm: 1968; (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: A L, Phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Huỳnh Thị Thu T, sinh năm: 1971; (Có mặt)
Địa chỉ thường trú: A T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ liên hệ: C đường C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Trần Đức H, sinh năm: 1968; (Có đơn xin vắng mặt)
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Đức H, bà Huỳnh Thị Thu T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 20/6/2023 lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Lương Hữu Đ trình bày:
Ông Lương Hữu Đ và vợ là bà Hoàng Thị Nhiên N1 có nhận chuyển nhượng phần đất có diện tích 82.1m2 tọa lạc tại thửa 650 tờ bản đồ số 60 địa chỉ C đường C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS18970 ngày 18/6/2018 của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp. Đến đầu năm 2023 vợ chồng ông bà có ý định xây nhà nên đã đập bỏ nhà cũ và tiến hành đo vẽ hiện trạng đất để xin giấy phép xây nhà thì phát hiện phần đất bị căn nhà số C của ông Trần Đức H và bà Huỳnh Thị Thu T xây chồng lấn lên với diện tích là 1,9m2. Khi phát hiện bị mất đất, vợ chồng ông bà đã làm đơn yêu cầu hòa giải tại Ủy ban nhân dân phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, tại phiên hòa giải bà Huỳnh Thị Thu T đã đồng ý trả lại phần đất trên nhưng sau đó bà T và chồng là ông H vẫn không thực hiện việc tháo dỡ và trả lại phần lấn chiếm cho ông, bà. Nay ông cùng vợ khởi kiện ra Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh với yêu cầu buộc bà Huỳnh Thị Thu T và ông Trần Đức H phải trả lại cho vợ, chồng ông bà phần đất bị lấn chiếm là 1,9m2 ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Nguyên đơn bà Hoàng Thị Thiên N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có ý kiến thống nhất với yêu cầu của ông Lương Hữu Đ, đề nghị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh buộc ông Trần Đức H và bà Huỳnh Thị Thu T phải trả lại phần đất có diện tích 1,9m2.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là ông Vương Hữu L – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H trình bày:
Ông Lương Hữu Đ và bà Hoàng Thị Thiên N nhận chuyển nhượng phần đất tại thửa 650 tờ bản đồ số 60 địa chỉ C đường C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS18970 ngày 18/6/2018 của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp. Khi có nhu cầu xây nhà thì bên nguyên đơn đã đo vẽ lại thì phát hiện bên bị đơn là bà Huỳnh Thị Thu T và ông Trần Đức H lấn qua phần đất của bên nguyên đơn với diện tích 1,9m2. Trong quá trình hòa giải ở phường thì bà Huỳnh Thị Thu T đã thừa nhận lấn qua 1,9m2 nhưng bà đã không tự nguyện trả. Do đó bên phía nguyên đơn đã khởi kiện bên phía bị đơn ra Tòa và yêu cầu bên bị đơn phải trả lại phần đất đã lấn chiếm của nguyên đơn. Sau khi Tòa án thụ lý thì Tòa án đã tiến hành đo vẽ và áp ranh 02 giấy chứng nhận với nhau và bản vẽ đã thể hiện rõ là bên bà T, ông H lấn qua phần đất của vợ, chồng nguyên đơn là 1,9m2. Nay đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn là ông Trần Đức H và bà Huỳnh Thị Thu T phải trả lại phần đất lấn chiếm là 1,9m2.
Bị đơn bà Huỳnh Thị Thu T tại bản tự khai, các phiên hòa giải và tại phiên tòa hôm nay trình bày:
Bà mua phần nhà đất số C đường C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp giấy chứng nhận số CH03774 ngày 24/3/2011, sau đó bà có xin phép xây dựng và xây nhà 01 lầu trên phần đất trên, ngoài ra bà còn xây tường xung quanh đất và hiện tại đã lợp thành nhà trệt tường gạch, mái tôn sát đất ông Lương Hữu Đ và bà Hoàng Thị Thiên N. Khi bà tiến hành xây nhà thì có xin phép, đã được Ủy ban nhân dân phường xuống chứng kiến và đo đạc nên mới được hoàn công và cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới số CS18836 ngày 22/5/2018 của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Lý do bà đồng ý trả đất cho bên nguyên đơn khi giải quyết tranh chấp ở Ủy ban nhân dân phường B, quận B là do nghĩ tình làng nghĩa xóm nên bà mới đồng ý trả 1,9m2 cho ông Đ và bà N. Nay tại phiên Tòa bà đề nghị Tòa án giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.
Ông Phạm Đức H1 vắng mặt không có lý do trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án nên không có lời khai.
Bản án dân sự sơ thẩm số 555/2024/DS-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về án phí:
Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc bị đơn phải trả lại phần đất lấn chiếm cho nguyên đơn, đây là tranh chấp quyền sử dụng đất không có giá ngạch theo hướng dẫn tại điểm a, khoản 2, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 nên ông Trần Đức H và bà Huỳnh Thị Thu T phải chịu án phí là 300.000 đồng.
H2 lại cho ông Lương Hữu Đ và bà Hoàng Thị Thiên N số tiền đã tạm nộp án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2023/0026534 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Buộc ông Trần Đức H và bà Huỳnh Thị Thu T phải tháo dỡ công trình xây dựng và trả lại phần đất có diện tích 1,9m2 được đánh số ký hiệu là “4” được thể hiện trên bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh số 16056/TTĐĐBĐ-VPĐD ngày 01/4/2024 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cho ông Lương Hữu Đ và bà Hoàng Thị Thiên N ngay sau Bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành của đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 9/8/2024, bị đơn ông Trần Đức H, bà Huỳnh Thị Thu T kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại Bản án dân sự sơ thẩm số 555/2024/DS-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; người kháng cáo không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Bị đơn bà Huỳnh Thị Thu T trình bày đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà T, ông H, sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì nguyên đơn mua của chủ đất cũ là người nào thì phải đòi người đó, đất của vợ chồng bà đã được cắm mốc và được xây dựng trước khi nguyên đơn mua đất rồi.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là ông Vương Hữu L trình bày: Tòa án đã tiến hành đo vẽ và áp ranh 02 giấy chứng nhận với nhau và bản vẽ đã thể hiện rõ là bên bà T, ông H lấn qua phần đất của vợ, chồng nguyên đơn là 1,9m2. Nay đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 555/2024/DS-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm Phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đều chấp hành và tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 555/2024/DS-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông ông Trần Đức H, bà Huỳnh Thị Thu T làm đúng hình thức, trong hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật nên được công nhận về mặt hình thức.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo ông Trần Đức H vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông H.
[2] Về nội dung kháng cáo:
Xét nội dung đơn kháng cáo của ông Trần Đức H, bà Huỳnh Thị Thu T với lý do kháng cáo Tòa án sơ thẩm chưa thu thập đủ, không xem xét toàn diện, đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ, không giải quyết yêu cầu của bị đơn và không đưa người chủ bán đất vào tham gia tố tụng, đề nghị sửa bản án sơ thẩm và bác đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Đối với ý kiến của ông H, bà T về việc cần triệu tập chủ bán đất vào tham gia tố tụng: Xét thấy hai bên tranh chấp nhận chuyển nhượng đất từ chủ đất cũ, đã thực hiện việc giao nhận đất, được cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật. Tranh chấp xảy ra không liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của chủ đất cũ đối với hai bên đương sự, mà là tranh chấp do nguyên đơn cho rằng bị đơn lấn ranh đất, căn cứ giấy chứng nhận đã được cấp cho hai bên. Vì vậy, việc triệu tập chủ đất cũ tham gia tố tụng trong vụ án này là không cần thiết nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo này.
Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành đo vẽ và áp ranh toàn bộ hiện trạng nhà đất của 02 giấy chứng nhận số CS18970 ngày 18/6/2018 và CS18836 ngày 22/5/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp, theo kết quả đo vẽ tại bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh số hợp đồng 16056/TTĐĐBĐ-VPĐD ngày 01/4/2024 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H thì phần hiện trạng nhà số C đường C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận số CS18836 ngày 22/5/2018 có lấn qua phần đất được cấp giấy chứng nhận số CS18970 ngày 18/6/2018 với diện tích là 1,9m2.
Còn phần đất số nhà số C đường C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đã bị nhà số C đường C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh chồng lấn 1,6m2.
Ngoài ra theo các số liệu thể hiện trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS18836 (giấy cũ là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03774 ngày 24/3/2011) đều thể hiện chiều ngang đằng sau của phần đất là 10m, tuy nhiên tại bản vẽ hiện trạng ngày 01/4/2024 và bản vẽ hiện trạng do ông Trần Đức H và bà Huỳnh Thị Thu T đo vẽ khi giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân phường B, quận B đều thể hiện là hiện trạng nhà đất bà T và ông H sử dụng phần đằng sau có chiều ngang là 10.08m, như vậy là dư ra so với giấy chứng nhận là 08cm và lấn qua bên phần đất của nguyên đơn. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Huỳnh Thị Thu T xác nhận khi xây phần nhà đất số C đường C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì phần nhà 02 tầng là xây dựng kiên cố, còn lại phần xây nhà trệt mái tôn thì bà chỉ xây tường bao và lợp mái để sử dụng. Như vậy, việc phải tháo dỡ phần xây dựng trên phần đất lấn chiếm là không làm ảnh hưởng quá lớn đến toàn bộ kết cấu công trình xây dựng trên đất. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn phải trả lại phần đất lấn chiếm là có cơ sở.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H và bà T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh cho lý do kháng cáo của mình và các lý do kháng cáo của ông H và bà T là không có căn cứ, việc xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm là có cơ sở, áp dụng đúng pháp luật, phù hợp với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa phúc thẩm là giữ nguyên bản án sơ thẩm, nên Hội đồng xét xử quyết định giữ nguyên án sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm : Do kháng cáo của ông H, bà T không được chấp nhận và bản án sơ thẩm được giữ nguyên nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ các Điều 163, Điều 164, Điều 166 và Điều 169 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- - Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Đức H, bà Huỳnh Thị Thu T.
- - Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 555/2024/DS-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Buộc ông Trần Đức H và bà Huỳnh Thị Thu T phải tháo dỡ công trình xây dựng và trả lại phần đất có diện tích 1,9m2 được đánh số ký hiệu là “4” được thể hiện trên bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh số 16056/TTĐĐBĐ-VPĐD ngày 01/4/2024 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cho ông Lương Hữu Đ và bà Hoàng Thị Thiên N ngay sau Bản án có hiệu lực pháp luật.
Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc bị đơn phải trả lại phần đất lấn chiếm cho nguyên đơn, đây là tranh chấp quyền sử dụng đất không có giá ngạch theo hướng dẫn tại điểm a, khoản 2, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 nên ông Trần Đức H và bà Huỳnh Thị Thu T phải chịu án phí là 300.000 đồng.
H2 lại cho ông Lương Hữu Đ và bà Hoàng Thị Thiên N số tiền đã tạm nộp án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2023/0026534 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Trần Đức H chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm ông Trần Đức H đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai số 0003850 ngày 26/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Huỳnh Thị Thu T chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm Bà Huỳnh Thị Thu T đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai số 0017416 ngày 15/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông H, bà T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Thị Tú Oanh |
Bản án số 951/2024/DS-PT ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 951/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Đức H, bà Huỳnh Thị Thu T. - Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 555/2024/DS-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
