TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 951/2023/HC-PT Ngày 30-10-2023 V/v “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng.
Các Thẩm phán:
Ông Vũ Đức Toàn.
Ông Phạm Công Mười.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ức Minh Thanh Thúy- Cán bộ Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cáo tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Bá Duy- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 170/2023/TLPT-HC ngày 16 tháng 3 năm 2023 về “khiếu kiện kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do bản án hành chính số 1967/2022/TLPT-HC ngày 07 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:3392/2023/QĐPT-HC ngày 30 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Nguyễn Mạnh T, (vắng mặt).
Địa chỉ: I G, tổ H, khu phố D, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Mạnh T1 (Giấy ủy quyền ngày 22/10/2023) – (có mặt).
Địa chỉ: Số 1 đường G, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố T (vắng mặt).
Ủy ban nhân dân Thành phố T (có yêu cầu xét xử vắng mặt theo văn bản ngày 15/7/2023)
1
Địa chỉ: A T, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch và UBND Thành phố T: ông Phan Bá T2 (Phó Trưởng phòng Phòng tài nguyên và môi trường Thành phố T) và ông Nghiêm Văn N (Công chức UBND phường T) – theo Văn bản cử số 4183/UBND-TNMT và 4184/UBND-TNMT ngày 04/7/2022. (ông T2, ông N có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Bùi Ngương N1 (vắng mặt)
Địa chỉ: 51 Đường 11, phường Tam Bình, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
2. Ông Khương Minh C (có mặt),
Địa chỉ: I G, khu phố D, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
3 Ông Nguyễn Văn C1 (Đã chết)
4. Bà Nguyễn Thị C2 (Đã chết)
Người kế thừa quyền, lợi ích hợp pháp của ông C1 và bà C2:
- - Bà Nguyễn Thị V (Vắng mặt)
- - Ông Nguyễn Văn D (Vắng mặt)
- - Ông Nguyễn Văn V1 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: D G, tổ H, khu phố D, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
5. Bà Khương Thị N2 (Đã chết)
Người kế thừa quyền, lợi ích hợp pháp của bà N2:
- - Ông Nguyễn Mạnh T (Yêu cầu xét xử vắng mặt),
- - Ông Nguyễn Mạnh T3 (Yêu cầu xét xử vắng mặt),
- - Ông Nguyễn Mạnh T1 (Có mặt)
6. Ông Nguyễn Mạnh T3 (yêu cầu xét xử vắng mặt),
Địa chỉ: I G, tổ H, khu phố D, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
7. Ông Nguyễn Mạnh T1 (có mặt)
Địa chỉ liên lạc: 102/3/2C Đường T, phường T, Quận A, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
8. Ủy ban nhân dân phường T, Thành phố T.
Địa chỉ: D T, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân phường T, Thành phố T: Ông Nghiêm Văn N – Công chức địa chính (Văn bản 2849/GUQ-UBND ngày 06/9/2022), (vắng mặt).
Người kháng cáo: Nguyễn Mạnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Người khởi kiện - ông Nguyễn Mạnh T, có đại diện theo ủy quyền trình bày:
Nguồn gốc đất 2.440m² thuộc thửa 291, 292 tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp B, xã T, quận T, thuộc quyền sử dụng của ông Khương Văn L và bà Nguyễn Thị Đ.
Vào năm 1957 Bà Khương Thị N2 (là con của ông L bà Đ) kết hôn với ông Nguyễn Mạnh T.
Năm 1975 ông L phân chia quyền sử dụng đất 2.440m² cho bà Khương Thị N2, theo tờ tương phân và tờ chúc ngôn ngày 24/9/1975.
Năm 1983 phần đất nêu trên được đưa vào tập đoàn 1 xã T, sau đó tập đoàn giao khoán phần đất này lại cho hộ gia đình ông T, bà N2 canh tác
Năm 1990 do gặp nhiều khó khăn kinh tế nên gia đình ông T, bà N2 chuyển nhượng phần đất nêu trên cùng lúc cho ông Nguyễn Văn C1 và ông Bùi Ngươn N3 và xảy ra tranh chấp.
Ngày 01/6/1991 Ủy ban nhân dân (gọi tắt là UBND) xã T tiến hành hòa giải tranh chấp giữa các bên, theo đó gia đình bà N2 ông T có thỏa thuận trả lại tiền cho một trong hai người - ông C1 hoặc ông N3. Và do khó khăn nên chưa trả tiền đúng hạn. Thực tế đã trả lại tiền cho ông C1 và ông N3 (không làm giấy tờ). Đến nay ông C1, ông N3 không tranh chấp.
Ngày 12/6/1992 UBND xã T mới công bố Quyết định số 399/QĐ-UB ngày 12/9/1991 của UBND quận T về việc xử phạt vi phạm hành chính đối bà Khương N2: thu hồi đưa vào diện Nhà nước trực tiếp quản lý toàn bộ số đất do bà N2 đã bán trái phép có diện tích là 2.400m² tọa lạc tại cánh đồng ấp P xã T. Buộc bà N2 trả lại toàn bộ số vàng đã nhận cho hai ông Nguyễn Văn C1 và Bùi Ngươn N3.
Sau khi bị xử phạt hành chính, gia đình bà N2 ông T đã hoàn trả lại số vàng giao dịch chuyển nhượng cho ông C1 và ông N3. Và làm đơn khiếu nại xin đòi lại đất.
Ngày 29/8/2005 UBND quận T ban hành Quyết định số 40/QĐ-UBND không chấp nhận khiếu nại của bà Khương N2 xin đòi lại đất. Giao UBND phường T tiếp tục quản lý phần đất 2.424m² thuộc thửa 234-1 và 235-1 tờ bản đồ số 6, xã T, huyện T (tài liệu đo năm 1995), nay là phường T, quận T.
Không đồng ý với quyết định nêu trên, gia đình bà N2 ông T đã có đơn khiếu nại đến các cơ quan có thẩm quyền.
Ngày 22/02/2019 UBND quận T ban hành Văn bản số 631/UBND-TNMT giải quyết không công nhận đơn xin đòi lại đất của ông Nguyễn Mạnh Thường
Nay ông Nguyễn Mạnh T khởi kiện yêu cầu hủy các Quyết định 631/UBND-TNMT ngày 22/02/2019 của UBND quận T (nay là UBND Thành phố T), Quyết định số 40/QĐ-UBND ngày 29/8/2005 và Quyết định số 399/QĐ-UBND ngày 12/9/1991 của Chủ tịch UBND quận T (nay là Chủ tịch UBND Thành phố T); Yêu cầu UBND Thủ Đức trả lại đất đã thu hồi cho ông T và các thừa kế của bà N2.
Người bị kiện - Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố T và Ủy ban nhân dân
3
Thành phố T trình bày tại văn bản số 4823/UBND-TNMT ngày 21/7/2021:
Nguồn gốc đất trước năm 1975 do ông Khương Văn L đứng bộ. Sau năm 1975 ông L cho con là bà Khương Thị N2 sử dụng. Năm 1983, bà N2 đưa đất vào Tập đoàn 1, xã T, sau đó Tập đoàn 1 giao khoán cho bà N2 canh tác. Năm 1990, bà N2 tự ý lập giấy tay cùng lúc chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn C1 và ông Bùi Ngươn N3 dẫn đến phát sinh tranh chấp. Ngày 01 tháng 6 năm 1991, Ủy ban nhân dân xã T tiến hành hòa giải giữa các bên, theo đó bà N2 cam kết hoàn trả lại tiền cho một trong 02 người (ông N3 hoặc ông C1). Nhưng sau đó bà N2 không thực hiện theo tinh thần hòa giải nên vụ việc được chuyển lên Ủy ban nhân dân huyện T.
Ngày 12/9/1991, UBND huyện T ban hành Quyết định về việc xử phạt vi phạm hành chánh số 399/QĐ-UB, trong đó tại Điều I:
“- Nay xử phạt vi phạm hành chánh đối với bà Khương Thị N2, ngụ tại A Phường A, Quận G, do đã có hành vi mua bán đất trái phép – Hình thức xử phạt được áp dụng như sau:
Thu hồi đưa vào diện Nhà nước trực tiếp quản lý toàn bộ số đất do bà N2 đã bán trái phép có diện tích là 2,400m² (Hai ngàn bốn trăm mét vuông) tọa lạc tại cánh đồng Ấp P, Xã T.
Buộc Bà N2 phải trả lại toàn bộ số vàng đã nhận của hai Ông Nguyễn Văn C1 và Ông Bùi Ngươn N3”.
Ngày 12/6/1992, UBND xã T đã tổ chức công bố và giao Quyết định số 399/QĐ-UB ngày 12/9/1991 của UBND huyện T cho bà Khương Thị N2.
Năm 2005, bà Khương Thị N2 nộp đơn xin lại đất tại UBND quận T. Theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Công ty TNHH T5 lập ngày 22/7/2005, khu đất có diện tích 2.424m², vị trí thuộc thửa số 234, 235 tờ bản đồ số 06 xã T, huyện T (Tài liệu năm 1995).
Ngày 29/8/2005, UBND quận T ban hành Quyết định số 40/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn xin lại đất, trong đó tại Điều 1:
“Không công nhận toàn bộ nội dung đơn xin lại đất của bà Khương Thị N2, địa chỉ; I Đường G, khu phố D, phường T, Quận T.
Giao UBND Phường T tiếp tục quản lý phần đất có diện tích 2.424m2 thuộc thửa 234-1, 235-1, tờ bản đồ số 6, Xã T, Huyện T (theo tài liệu đo năm 1995) nay là Phường T, Quận T.”
Sau đó, ông Nguyễn Mạnh T nộp đơn tại Ban Tiếp Công dân Thành phố H. Ngày 09/01/2019, Ban Tiếp Công dân Thành phố H có Phiếu chuyển số 131/TCD-XLĐ về việc xử lý đơn của ông Nguyễn Mạnh T chuyển đến UBND quận T (nay là thành phố T).
4
Ngày 22/02/2019, UBND quận T (nay là thành phố T) có văn bản số 631/UBND-TNMT trả lời không có cơ sở xem xét đơn xin lại đất của ông Nguyễn Mạnh T.
UBND Thành phố T đề nghị không chấp nhận khởi kiện của ông Nguyễn Mạnh T, là chồng của bà Khương Thị N2.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Mạnh T3 và ông Nguyễn Mạnh T1 và đồng thời là Người kế thừa quyền, lợi ích hợp pháp của bà Khương Thị N2 trình bày: Thống nhất ý kiến của người khởi kiện.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Ủy ban nhân dân phường T, Thành phố T trình bày:
UBND Thành phố T đã giải quyết bác đơn xin đòi lại đất của bà Khương Thị N2, ông Nguyễn Mạnh T. Tại quyết định 40/QĐ-UBND ngày 29/8/2005 UBND quận T đã giao UBND phường T tiếp tục quản lý đất có diện tích 2.424m² thuộc thửa 234¹, 235¹, tờ bản đồ 6, xã T, Quận T.
Nay UBND phường T đề nghị không chấp nhận khởi kiện của ông Nguyễn Mạn T4.
Tại bản án hành chính số 1967/2022/TLPT-HC ngày 07 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Áp dụng: Điều 116, điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố Tụng Hành chính năm 2015; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận khởi kiện của ông Nguyễn Mạnh T yêu cầu hủy quyết định 631/UBND-TNMT ngày 22/02/2019, quyết định số 40/QĐ-UBND ngày 29/8/2005 của Chủ Tịch Ủy ban nhân dân quận T ký, nhân danh Ủy ban nhân dân; quyết định số 399/QĐ-UB ngày 12/9/1991 của Ủy ban nhân dân huyện T (nay là Thành phố T).
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 21/11/2022, ông T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay, ông T1 đại diện cho ông T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các bên trình bày tranh tụng:
Ông T1 trình bày: Việc bà N2 bán đất trước kia là do không hiểu biết pháp luật, sau đó các bên bà N2, ông C1, ông N3 tranh chấp đến Phường giải quyết, bà N2 đã trả vàng cho ông C1, ông N3, đề nghị trả lại đất cho bà N2.
Ông T2 trình bày: Các văn bản hành chính mà ông T khởi kiện được ban hành đúng pháp luật, ông T có thừa nhận việc mua bán đất trong đơn khởi kiện, đề nghị bác kháng cáo, y án sơ thẩm.
5
Ông C trình bày: Ông không liên quan gì đất phần đất mà ông T đang khiếu nại, ông không có ý kiến gì về vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Cấp phúc thẩm và các đương sự thực hiện đúng các quy định tố tụng, không vi phạm.
Về nội dung kháng cáo: Năm 1990, bà N2 bán đất trái pháp luật cho ông C1 và ông N3, UBND quận T ban hành quyết định xử phạt hành chính là đúng luật đất đai năm 1987. U ban hành các quyết định bác đơn khiếu nại của ông T là đúng pháp luật. Đề nghị bác kháng cáo của ông T, giữ nguyên quyết định án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]- Ông T yêu cầu UBND trả lại diện tích 2.440m² có nguồn gốc trước năm 1975 do ông Khương Văn L đứng bộ. Sau năm 1975 ông L cho con là bà Khương Thị N2. Năm 1983, bà N2 đưa đất vào Tập đoàn sản xuất và Tập đoàn G cho bà N2 canh tác, lúc này gia đình có vợ chồng bà N2, ông T và con là Nguyễn Mạnh T3.
Năm 1990, bà N2 tự ý lập giấy tay cùng lúc chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn C1 và ông Bùi Ngươn N3 dẫn đến phát sinh tranh chấp.
Ngày 12/6/1992 UBND xã T mới công bố Quyết định số 399/QĐ-UB ngày 12/9/1991 của UBND quận T về việc xử phạt vi phạm hành chính đối bà Khương Thị N2: thu hồi đưa vào diện Nhà nước trực tiếp quản lý toàn bộ số đất do bà N2 đã bán trái phép có diện tích là 2.400m² tọa lạc tại cánh đồng ấp P xã T. Buộc bà N2 trả lại toàn bộ số vàng đã nhận cho hai ông Nguyễn Văn C1 và Bùi Ngươn N3.
Sau khi bị xử phạt hành chính, gia đình bà N2 ông T đã hoàn trả lại số vàng giao dịch chuyển nhượng cho ông C1 và ông N3 và làm đơn khiếu nại xin đòi lại đất.
Ngày 29/8/2005, UBND quận T ban hành Quyết định số 40/QĐ-UBND với nội dung không chấp nhận khiếu nại của bà Khương N2 xin đòi lại đất. Giao UBND phường T tiếp tục quản lý phần đất 2.424m² thuộc thửa 234-1 và 235-1 tờ bản đồ số 6, xã T, huyện T (tài liệu đo năm 1995), nay là phường T, quận T.
Không đồng ý với quyết định nêu trên, gia đình bà N2 ông T đã có đơn khiếu nại đến các cơ quan có thẩm quyền.
Ngày 22/02/2019 UBND quận T ban hành Văn bản số 631/UBND-TNMT giải quyết không công nhận đơn xin đòi lại đất của ông Nguyễn Mạnh T.
Nay ông Nguyễn Mạnh T khởi kiện yêu cầu hủy văn bản số 631/UBND-TNMT ngày 22/02/2019 của UBND quận T (nay là UBND Thành phố T), Quyết
6
định số 40/QĐ-UBND ngày 29/8/2005 và Quyết định số 399/QĐ-UBND ngày 12/9/1991 của Chủ tịch UBND quận T (nay là Chủ tịch UBND Thành phố T); Yêu cầu UBND Thủ Đức trả lại đất đã thu hồi cho ông T và các thừa kế của bà N2.
Xét kháng cáo của ông T thì thấy:
[2]- Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành các quyết định hành chính, văn bản hành chính bị khởi kiện:
Quyết định số 399/QĐ-UB ngày 12/9/1991 xử phạt vi phạm hành chính - thu hồi đất của bà Khương Thị N2, do UBND huyện T ban hành là đúng thẩm quyền, theo Điều 53 Luật đất đai năm 1987.
Thực chất bà N2, sau này là ông T có yêu cầu xin lại đất bị thu hồi vì cho rằng đã trả tiền vàng cho bên mua đất là ông C1 và ông N3 nên thẩm quyền trả lại đất thuộc UBND, bà N2 không khiếu nại yêu cầu hủy quyết định số 399/QĐ-UB ngày 12/9/1991 của UBND quận T.
Quyết định số 40/QĐ-UBND ngày 29/8/2005 về giải quyết đơn xin lại đất của bà Khương Thị N2, không phải là giải quyết đơn khiếu nại nên Chủ tịch UBND quận T ký ban hành nhân danh UBND là đúng thẩm quyền theo quy định về pháp luật đất đai về thẩm quyền giao đất, công nhận QSD đất.
Văn bản số 631/UBND-TNMT ngày 22/02/2019 giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Mạnh T, do Chủ tịch UBND quận T ký ban hành là đúng thẩm quyền, theo Điều 18 Luật khiếu nại năm 2011.
[3]- Về nội dung các Quyết định số 399/QĐ-UB về việc xử phạt vi phạm hành chánh, Quyết định số 40/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn xin lại đất và Văn bản số 631/UBND-TNMT về việc xử lý đơn của ông Nguyễn Mạnh T nêu trên bị khởi kiện:
Nguồn gốc đất gia đình ông T đang xin lại diện tích 2.440m² nêu trên có nguồn gốc trước năm 1975 do ông Khương Văn L đứng bộ. Sau năm 1975 ông L cho con là bà Khương Thị N2 sử dụng (bà N2 là vợ ông Nguyễn Mạnh T). Năm 1983, bà N2 đưa đất vào Tập đoàn sản xuất và Tập đoàn G cho bà N2 canh tác. Theo sổ hộ khẩu gia đình ngày 10/3/1982 thì thời điểm Tập đoàn giao khoán cho hộ bà N2 canh tác sản xuất, gồm các nhân khẩu vợ chồng bà N2, ông T và con là Nguyễn Mạnh T3. Ông T thừa nhận về nguồn gốc đất này.
Năm 1990, bà N2 tự ý lập giấy tay cùng lúc chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn C1 và ông Bùi Ngươn N3 dẫn đến phát sinh tranh chấp.
Ngày 01/6/1991, UBND xã T tiến hành hòa giải giữa các bên, theo đó bà N2 đã cam kết hoàn trả lại tiền cho một trong 02 người (ông N3 hoặc ông C1) từ ngày 29/4/1991, nhưng đến nay không trả và cam kết lần hai sẽ trả vào ngày 12/6/1991, trả tại UBND xã (bà N2 có ký tên). Đến ngày 12/6/1991 UBND xã lập biên bản về việc bà N2 không trả lại vàng tiền cho ông C1, ông N3, nên thông báo sẽ thu hồi
7
phần đất do các bên chuyển nhượng (bà N2 có ký tên).
Như vậy, tại thời điểm năm 1990, đất thuộc QSD của Tập đoàn, gia đình bà N2 chỉ được tập đoàn G sử dụng. Bà N2 chuyển nhượng đất là trái quy định Điều 5, khoản 6 Điều 14 Luật đất đai năm 1987.
Điều 5 Luật đất đai 1987 quy định:
Nghiêm cấm việc mua, bán, lấn, chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức, nhận đất được giao mà không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, tự tiện sử dụng đất nông nghiệp, đất có rừng vào mục đích khác, làm huỷ hoại đất đai.
Tại khoản 6 Điều 14 Luật đất đai 1987 quy định:
Nhà nước thu hồi toàn bộ hoặc một phần đất đã giao sử dụng trong những trường hợp sau đây:
6- Người sử dụng đất vi phạm nghiêm trọng những quy định về sử dụng đất;
Tại khoản 4 Điều 53 Luật đất đai năm 1987 quy định:
Người nào mua, bán, lấn, chiếm đất đai, phát canh thu tô, huỷ hoại đất đai hoặc có hành vi khác vi phạm pháp luật đất đai thì bị xử phạt hành chính bằng một hoặc nhiều hình thức sau đây:
4 - Thu hồi phần đất sử dụng trái pháp luật.
UBND huyện T ban hành Quyết định số 399/QĐ-UB về việc xử phạt vi phạm hành chánh là đúng thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và thu hồi đất theo quy định viện dẫn trên.
Sau khi nhận Quyết định số 399/QĐ-UB, bà N2 cho rằng bà đã trả tiền vàng cho hai người mua đất là ông C1, ông N3 nên bà có đơn xin lại đất. Tuy nhiên diện tích đất trên là của Tập đoàn chỉ giao khoán cho bà N2 và nhà nước đã thu hồi nên đất thuộc QSD của nhà nước.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật đất đai 2003 và khoản 5 Điều 26 Luật đai đai 2013 thì nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa M và nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngày 29/8/2005, UBND quận T ban hành Quyết định số 40/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn xin lại đất và Ngày 22/ 02/ 2019, UBND quận T (nay là thành phố T) có Văn bản số 631/UBND-TNMT đều có nội dung không đồng ý trả lại đất cho bà N2, ông T là có căn cứ.
Vì vậy, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm
8
[4]- Ông T phải chịu án phí phúc thẩm nhưng được miễn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Mạnh T; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 1967/2022/HC- ST ngày 07 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
Căn cứ: Điều 5, khoản 6 Điều 14, khoản 4 Điều 53 Luật đất đai 1987; khoản 2 Điều 10 Luật đất đai 2003 và khoản 5 Điều 26 Luật đai đai 2013
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án,
1- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Mạnh T về yêu cầu hủy văn bản số 631/UBND-TNMT ngày 22/02/2019, Quyết định số 40/QĐ-UBND ngày 29/8/2005 của Chủ Tịch Ủy ban nhân dân quận T ký, nhân danh Ủy ban nhân dân; quyết định số 399/QĐ-UB ngày 12/9/1991 của Ủy ban nhân dân huyện T (nay là Thành phố T).
2. Án phí hành chính: Ông Nguyễn Mạnh T phải chịu án phí sơ thẩm và phúc thẩm nhưng được miễn
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa (đã ký) Nguyễn Văn Hùng |
9
Bản án số 951/2023/HC-PT ngày 30/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
- Số bản án: 951/2023/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2023
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Mạnh T kiện Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố Thủ Đức về “khiếu kiện kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Mạnh T; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 1967/2022/HC- ST ngày 07 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
