Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 950/2024/HS-PT

Ngày: 27-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương

Các thẩm phán: Ông Dương Tuấn Vinh

Bà Nguyễn Thị Cúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phượng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23 tháng 9 đến ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 655/2024/TLPT- HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Võ Ngọc D.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 35/2024/HS-ST ngày 12-6-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 905/2024/QĐXXPT-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024

- Bị cáo có kháng cáo:

Võ Ngọc D (tên gọi khác: không có); Giới tính: Nữ; sinh năm 1978, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ A, ấp L, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: Khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Giáo viên; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao đài. Con ông Võ Văn B, sinh năm 1950 và bà Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1951; có chồng tên Hồ Thanh T, sinh năm 1975 (đã ly hôn); bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2005. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ và tạm giam từ ngày 12/01/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  1. Phạm Thị Minh H, sinh năm 1969, ngụ khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
  2. Nguyễn Thị N, sinh năm 1987, ngụ khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
  3. Nguyễn Thị L, sinh năm 1987, ngụ ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Trịnh Xuân K, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Văn T1, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Ngọc D là giáo viên trường tiểu học Đ1, thuộc phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Ngoài ra, D còn kinh doanh mua bán đất với nhiều người. Từ ngày 14/10/2021 đến ngày 25/5/2022, D đã dùng thủ đoạn gian dối nhận tiền đặt cọc bán đất rồi chiếm đoạt tiền của 03 người, cụ thể:

- Chiếm đoạt của bị hại Phạm Thị Minh H số tiền 680.000.000 đồng bằng hình thức: Thông qua Nguyễn Thị Bích T2, sinh năm 1986, ngụ ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh giới thiệu, chị Phạm Thị Minh H gặp Võ Ngọc D hỏi mua đất, D dẫn chị H đến vị trí thửa đất và cho xem trích lục bản đồ các thửa đất số 906, diện tích 1.491 m²; thửa đất số 907, diện tích 1.506 m²; thửa đất số 911, diện tích 1.080 m², cùng thuộc tờ bản đồ 14, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Duyên nói dối 03 thửa đất trên là D mua của người khác, muốn bán lại kiếm lời, D đã đặt cọc cho chủ đất và đang làm thủ tục sang tên. Sau khi xem đất, chị H đồng ý mua 03 thửa đất trên với giá 2.550.000.000 đồng.

Ngày 14/10/2021, tại nhà của D, thuộc khu phố L, phường L, thị xã H, D ký tên nhận cọc số tiền 380.000.000 đồng của chị H, chị Nguyễn Thị Bích T2 ký tên người làm chứng. Duyên hẹn đến ngày 15/11/2021 sẽ sang tên và giao đất cho chị H. Đến ngày 26/10/2021, D yêu cầu chị H tăng tiền đặt cọc. Chị H đồng ý và đến nhà D làm hợp đồng đặt cọc cho Duyên số tiền 300.000.000 đồng, D hẹn đến ngày 12/11/2021 làm thủ tục công chứng chuyển nhượng đất cho chị H. Đến ngày 29/11/2021, D hẹn chị H đến Văn phòng C ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng D không đến.

Kết quả điều tra xác định tại thời điểm tháng 10/2021, ông Huỳnh Trọng T3, sinh năm 1990, ngụ khu phố L, phường L, thị xã H và ông Nguyễn Hoàng D1, sinh năm 1982, ngụ khu phố L, phường L, thị xã H là chủ các thửa đất số 906, 907, 911, tờ bản đồ 14, tại ấp T, xã T, thị xã H; ông T3, ông D1 không thỏa thuận bán đất cho Võ Ngọc D, không ủy quyền cho D bán các thửa đất này.

- Chiếm đoạt của bị hại Nguyễn Thị L số tiền 390.000.000 đồng; cụ thể:

2

Ngày 04/4/2022, Võ Ngọc D đặt cọc mua 03 thửa đất số 197, 198, 215, diện tích 4.179 m² thuộc tờ bản đồ số 34, ấp T, xã T, thị xã H của ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1977, giá trị chuyển nhượng 2.100.000.000 đồng, hẹn trong 01 tháng sẽ tiến hành thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trong thời gian đó D được phép chuyển nhượng cho người khác để kiếm lời.

Khoảng đầu tháng 5/2022, do không đủ tiền để thanh toán cho ông T4 và sợ mất tiền cọc nên D chuyển nhượng 03 thửa đất trên cho ông Lê Quang N1, sinh năm 1982, ngụ khu phố E, Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh với giá 2.100.000.000 đồng. Ngày 05/5/2022, D cùng ông N1, ông T4 đến Văn phòng công chứng Trần Tất D2, tại đây ông T4 đã nhận đủ tiền và ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Lê Quang N1, hủy Hợp đồng đặt cọc với D, tại thời điểm này thì ông N1 là chủ sở hữu hợp pháp quyền sử dụng đất trên.

Ngày 10/5/2022, D nói dối với Nguyễn Thị L: “Duyên là chủ các thửa đất trên” và muốn chuyển nhượng cho bà L, L đồng ý nhận chuyển nhượng 13 lô đất tách từ thửa số 197, 198, 215 nêu trên với giá 3.380.000.000 đồng. Ngày 11/5/2022, bà L chuyển khoản đặt cọc cho D 390.000.000 đồng, D viết giấy nhận cọc, hẹn đến ngày 10/8/2022 sẽ công chứng sang tên cho L. Đến hẹn, D nói không làm thủ tục tách thửa được nên không có đất giao cho bà L.

Ngoài ra, Võ Ngọc D còn bị truy tố về hành vi chiếm đoạt của bị hại Nguyễn Thị N số tiền 900.000.000 đồng. Nhưng tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã rút truy tố.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 35/2024/HS-ST ngày 12-6-2024 và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số: 38/2024/TB-TA ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, đã tuyên xử:

Chấp nhận việc rút một phần truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đình chỉ xét xử về hình sự đối với số tiền 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng) của bà Nguyễn Thị N. Bà N được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khi có yêu cầu.

Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Ngọc D 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 12-01-2023.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 17/6/2024, bị cáo Võ Ngọc D kháng cáo vừa kêu oan vừa xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Võ Ngọc D xác định trước đây bị cáo chỉ kêu oan do cáo trạng truy tố bị cáo chiếm đoạt 900.000.000đ của bà Nguyễn Thị N, nhưng sau đó Viện kiểm sát đã rút truy tố, nên bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị: mặc dù tại cấp phúc thẩm bị cáo kháng cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được tặng Bằng khen vì đã có 20 lần hiến máu nhân đạo để cứu người nhưng mức hình phạt 15 năm tù Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp, không nặng, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị: Bị cáo kháng cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã được tặng Bằng khen vì đã có 20 lần hiến máu nhân đạo để cứu người; thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Hơn nữa, bị cáo chiếm đoạt số tiền 1.070.000.000₫ nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 15 năm tù là quá nặng. Do đó, luật sư, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

* Về tố tụng:

[1] Đơn kháng cáo ngày 17/6/2024 của bị cáo Võ Ngọc D là trong hạn luật định nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

* Về nội dung:

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã quy kết, như sau: Bị cáo là giáo viên trường tiểu học, do lương thấp, cuộc sống khó khăn nên bị cáo phải làm thêm việc mua bán đất đai để kiếm thêm thu nhập.

Trong thời gian từ ngày 14/10/2021 đến ngày 25/5/2022, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối nhận tiền đặt cọc bán đất rồi chiếm đoạt tiền của bị hại Phạm Thị Minh H số tiền 680.000.000đ và bị hại Nguyễn Thị L số tiền 390.000.000đ.

[3]. Xét lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo là phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hành vi đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt của bị hại Phạm Thị Minh H số tiền 680.000.000đ và Nguyễn Thị L số tiền 390.000.000đ do bị cáo Võ Ngọc D thực hiện đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tòa án sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người đúng tội, không làm oan sai cho bị cáo.

4

[4]. Hành vi chiếm đoạt số tiền 1.070.000.000đ của bị cáo Võ Ngọc D là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất lòng tin giữa người với người trong các giao dịch dân sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần nên cần thiết xử phạt bị cáo nghiêm minh để răn đe và phòng ngừa chung.

[5]. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có thêm các tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo được Ủy ban nhân dân tỉnh T tặng bằng khen do có thành tích xuất sắc trong việc hiến máu nhân đạo. Đây 02 là tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại điểm s và điểm v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Mặt khác tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt là 1.070.000.000 đồng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 15 năm tù là có phần nghiêm khắc. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6]. Quan điểm của Đại diện viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là không có căn cứ.

[7]. Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo là có căn cứ, nhưng đề nghị cho bị cáo hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là không có có căn cứ. Bởi lẽ, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nhưng lại có 01 tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự nên không đủ điều kiện để áp dụng cho bị cáo hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

[8]. Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu.

[9]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Võ Ngọc D.

Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số: 35/2024/HS-ST ngày 12-6-2024 và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số: 38/2024/TB-TA ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Tuyên xử:

Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

5

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  1. Xử phạt bị cáo Võ Ngọc D 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 12-01-2023.
  2. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Võ Ngọc D không phải chịu.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - VKSNDCC tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - Công an tỉnh Tây Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Trại tạm giam tỉnh Tây Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, VT, ĐTTB (17b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Khương

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 950/2024/HS-PT ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 950/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Ngọc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS 2015.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger