TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 950/2023/HC-PT Ngày: 27 - 10 - 2023 V/v Khiếu kiện Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất, Quyết định giải quyết khiếu nại |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn
Các Thẩm phán: Bà Lê Thúy Cầu
Ông Cao Văn Tám
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Lê Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Vâng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 23 và 27 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 494/2023/TLPT-HC ngày 25/7/2023 về “Khiếu kiện Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất, Quyết định giải quyết khiếu nại”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 35/2022/HC-ST ngày 28-7-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1378/2023/QĐPT ngày 06/10/2023, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Lê Hoàng H, sinh năm 1961; có mặt.
Bà Nguyễn Thị Xuân P, sinh năm 1962; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Hoàng H: Bà Nguyễn Thị Xuân P. (Văn bản ủy quyền ngày 27/5/2022)
Cùng địa chỉ: D, ấp D, xã X, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh.
Người bị kiện:
Ủy ban nhân dân thành phố B;
Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B;
-Người đại diện theo ủy quyền của UBND thành phố B và Chủ tịch UBND thành phố B: Ông Nguyễn Duy T – Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND thành phố B – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
-Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND thành phố B + Chủ tịch UBND thành phố B: Ông Lê Hoàng Tuấn A – Phòng Tài nguyên và môi trường thành phố B (Văn bản yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp số 16178/UBND-NC ngày 07/12/2020) – Vắng mặt.
Ủy ban nhân dân tỉnh Đ
-Người đại diện theo ủy quyền của UBND tỉnh Đ: Ông Võ Tấn Đ – Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đ (Văn bản ủy quyền số 15956/UBND-THNC ngày 22/12/2021) – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
-Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND tỉnh Đ: Ông Nguyễn Văn T1 – C (Văn bản yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp số 8291/UBND-NC ngày 07/8/2018) – Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Lê Hoàng K, sinh năm 1990; vắng mặt.
Anh Lê Hoàng T2, sinh năm 1986; vắng mặt.
Chị Lê Thị Ngọc T3, sinh năm 1987; vắng mặt.
-Người đại diện theo ủy quyền của anh Lê Hoàng K, anh Lê Hoàng T2, chị Lê Thị Ngọc T3: Bà Nguyễn Thị Xuân P, sinh năm 1962; (Văn bản ủy quyền ngày 27/5/2022) – Có mặt.
Cùng địa chỉ: D, ấp D, xã X, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh.
Do có kháng cáo của người khởi kiện.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung được tóm tắt như sau:
* Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và các lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Diện tích đất nông nghiệp trồng cây hàng năm 80.313m² thuộc thửa số 11, 15, 57, 80 tờ bản đồ số 01 xã P, Tp . do ông Lê Hoàng H và gia đình đang sử dụng có nguồn gốc nhận thừa kế của cha mẹ là ông Lê Văn T4 và bà Trần Thị Ngọc Á, được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V781228 ngày 12/7/2014, số K373733 ngày 24/3/1998, số 0841726 ngày 01/11/2001 cho ông Lê Hoàng H sử dụng liên tục không có tranh chấp.
Ngày 22 tháng 4 năm 2016, gia đình ông H nhận được quyết định số 149/QĐ-UBND ngày 15/01/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố B về việc bồi thường, hỗ trợ đối với hộ ông (bà) Lê Hoàng H do thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư và kinh doanh cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp H tại xã P, thành phố B. Quyết định số 149/QĐ-UBND ngày 15/01/2016 bồi thường, hỗ trợ toàn bộ giá trị đất, tài sản trên đất số tiền là 17.210.684.000đ (mười bảy tỷ, hai trăm mười triệu, sáu trăm tám mươi bốn nghìn đồng).
Ông H khiếu nại quyết định số 149/QĐ-UBND, đến ngày 03/8/2016 Chủ tịch U ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 4137/QĐ-UBND bác khiếu nại của ông.
Ông H, bà P khởi kiện yêu cầu hủy các Quyết định gồm:
- + Quyết định số 149/QĐ-UBND ngày 15/01/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố B về bồi thường hỗ trợ do thu hồi đất
- + Quyết định giải quyết khiếu nại số 4137/QĐ-UBND ngày 03/8/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B.
- + Quyết định số 4081/QĐ-UBND ngày 18/12/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ v/v phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ Dự án khu công nghiệp H phần có liên quan đến hộ ông Lê Hoàng H
Căn cứ khởi kiện:
- + Vi phạm thời hạn ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ: Ngày 04/9/2009 Ủy ban nhân dân thành phố B ban hành quyết định số 1961/QĐ-UBND và quyết định số 1982/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của ông (bà) Lê Hoàng H. Đến tháng 1/2016 mới ban hành Quyết định bồi thường hỗ trợ là vi phạm Điều 93 Luật đất đai năm 2013.
- + Xác định giá đất để thực hiện bồi thường không đúng: Căn cứ khoản 6 Điều 210 Luật Đất đai năm 2013 khi thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ đối với ông H, Ủy ban nhân dân thành phố B phải tuân thủ đúng quy định của Luật Đất đai và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013. Theo Quyết định số 64/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh Đ ban hành quy định về giá đất các loại trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 05 năm giai đoạn 2015-2019, thì đất nông nghiệp tại các thửa số 11, 15, 57, 80 tờ bản đồ số 01 đường T, xã P phải được xác định là vị trí 2 với giá 180.000đ/m²; 600m2 thổ cư bị thu hồi có vị trí 2 có mức bồi thường là 520.000đ/m2.
Sau khi hủy các Quyết định nói trên, yêu cầu U xác định lại vị trí đất, giá trị bồi thường, chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo đúng quy định pháp luật.
* Người bị kiện UBND tỉnh Đ trình bày:
Về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông Lê Hoàng H
Theo Giấy xác nhận nguồn gốc đất, nhà, vật kiến trúc (không số) ngày 17/7/2015 của UBND xã P, thể hiện: Diện tích 80.313m² thuộc các thửa đất số 11, 15, 57, 58 và 80 tờ bản đồ địa chính số 01, xã P do ông Lê Hoàng H và bà Nguyễn Thị Xuân P sử dụng có nguồn gốc do nhận thừa kế từ ông Lê Văn T4, bà Trần Thị Ngọc Á (là cha mẹ của ông Lê Hoàng H); được Chủ tịch UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K373733 ngày 24/3/1998 cho ông Lê Văn T4; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V781228 ngày 12/7/2004 cho bà Trần Thị Ngọc Á; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0841726 ngày 12/7/2004 cho ông Lê Hoàng H đối với đối với toàn bộ diện tích 80.313m² đất, trong đó có 600m² đất ở nông thôn và 79.713m² đất nông nghiệp.
Ngày 20/4/2009, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1104/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng thực hiện dự án xây dựng hạ tầng Khu Công nghiệp H tại xã P, thành phố B.
Ngày 06/10/2010, UBND thành phố B ban hành các Quyết định số: 1083/QĐ-UBND, số 1086/QĐ-UBND, số 1124/QĐ-UBND, số 1125/QĐ-UBND và số 1147/QĐ-UBND thu hồi 80.313m² đất của ông Lê Hoàng H tại các thửa đất số 11, 15, 57, 58 và 80 tờ bản đồ địa chính số 01 xã P để thực hiện dự án xây dựng hạ tầng Khu Công nghiệp H tại xã P, thành phố B.
Ngày 20/5/2015, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1287/QĐ-UBND. duyệt phương án giá đất bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thuộc dự án xây dựng hạ tầng Khu Công nghiệp H tại xã P, thành phố B.
Ngày 18/12/2015, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 4018/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ để thực hiện dự án xây dựng hạ tầng Khu Công nghiệp H tại xã P, thành phố B.
Ngày 15/01/2016, UBND thành phố B ban hành Quyết định số 149/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Lê Hoàng H, với tổng số tiền được bồi thường, hỗ trợ là 17.210.684.000 đồng.
Ngày 20/5/2015, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1287/QĐ-UBND phê duyệt phương án giá đất bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thuộc dự án xây dựng hạ tầng Khu Công nghiệp H tại xã P, thành phố B. Theo đó, giá đất ở nông thôn vị trí 4 đường T là 370.000 đồng/m2, giá đất nông nghiệp vị trí 4 là 80.000 đồng/m².
UBND tỉnh ban hành Quyết định số 4018/QĐ-UBND ngày 18/12/2015 và UBND thành phố B ban hành Quyết định số 149/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Lê Hoàng H1, với tổng số tiền được bồi thường, hỗ trợ là 17.210.684.000 đồng.
Ngày 24/3/2016, UBND thành phố B ban hành Văn bản số 2083/UBND-ĐT phê duyệt cho ông Lê Hoàng H 03 lô đất tái định cư (gồm: ông Lê Hoàng H và 02 người con là Lê Hoàng T2, Lê Hoàng K) tại khu tái định cư Quốc lộ A- Đoạn tránh thành phố B. Hiện ông Lê Hoàng H đã nhận đủ số tiền bồi thường, hỗ trợ; nhận đất tái định cư và bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư thực hiện dự án (Biên bản bàn giao mặt bằng đề ngày 14/8/2017).
Về việc xác định vị trí các thửa đất để tính bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Lê Hoàng H.
Các thửa đất nông nghiệp số 11, 15, 57, 58 và 80, tờ bản đồ địa chính số 01, xã P, thành phố B không tiếp giáp với đường nhóm 1, 2 (Q, tỉnh lộ, ... có tên trong Quyết định số 64/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh) và cách đường Q (đường V) lớn hơn 1.000m nên việc xác định các thửa đất nông nghiệp bị thu hồi nêu trên thuộc vị trí 4 là đúng; đất ở tại nông thôn thuộc thửa đất số 58, tờ bản đồ địa chính số A, xã P, thành phố B tiếp giáp hẻm đất độ rộng chỗ hẹp nhất nhỏ hơn 5m (hẻm đất rộng 4m) có khoảng cách ra đường T lớn hơn 1.100m nên việc xác định thửa đất ở tại nông thôn nêu trên thuộc vị trí 4 đường T là đúng theo quy định.
Kết quả việc xác định vị trí đất được thể hiện theo danh sách xác định vị trí các thửa đất bị thu hồi của ông Lê Hoàng H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh B thực hiện ngày 14/01/2015, toàn bộ diện tích đất nông nghiệp của ông Lê Hoàng H được xác định là vị trí 4, đất ở được xác định là vị trí 4 đường T.
Do đó ông Lê Hoàng H đề nghị hỗ trợ đất nông nghiệp vị trí 2, đề nghị bồi thường đất ở vị trí 2 là không có căn cứ.
Từ những nội dung nêu trên, UBND tỉnh nhận thấy việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ cho ông Lê Hoàng H đã được thực hiện theo quy định của pháp luật.
* Người bị kiện U, Chủ tịch U trình bày:
Thực hiện Quyết định số 1104/QĐ-UBND ngày 20/4/2009 của UBND tỉnh Đ về việc thu hồi đất để bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện dự án xây dựng hạ tầng khu công nghiệp H do Công ty Cổ phần K1 làm chủ đầu tư tại xã P (nay là phường P), huyện L (nay là thành phố B).
Ngày 06/10/2010, UBND thành phố B ban hành Quyết định số 1083/QĐ-UBND; 1086/QĐ-UBND; 1124/QĐ-UBND 1025/QĐ-UBND; và 1147/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện dự án xây dựng hạ tầng Khu công nghiệp H tại phường P, thành phố B với tổng diện tích thu hồi 80.313m². Căn cứ Giấy xác nhận nguồn gốc đất ngày 17/7/2015 của UBND phường P thì diện tích và loại đất thu hồi 600m² đất ở nông thôn, 79.713m² đất nông nghiệp.
Ngày 18/12/2015, UBND tỉnh Đ ban hành quyết định số 4081/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ dự án xây dựng hạ tầng khu công nghiệp H tại phường P, thành phố B (đợt 1).
Ngày 15/01/2016, UBND thành phố B ban hành Quyết định số 149/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ đối với hộ ông Lê Hoàng H do thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng hạ tầng Khu Công nghiệp H tại xã P, thành phố B, với tổng số tiền được bồi thường, hỗ trợ là 17.210.684.000 đồng (bồi thường đất là 6.599.040.000 đồng, bồi thường nhà, vật kiến trúc, cây trồng, tài sản khác là 1.028.084.000 đồng, chính sách hỗ trợ là 9.583.560.000 đồng).
Ngày 16/03/2016, ông Lê Hoàng H có đơn khiếu nại gửi UBND thành phố B đối với Quyết định số 149/QĐ-UBND. Yêu cầu bồi thường diện tích 79.713m² đất thuộc các thửa đất số 11, 15, 57, 58, 80 tờ bản đồ số 01 xã P theo giá đất nông nghiệp vị trí 4 đường T, xã P là 240.000 đồng/m².
Ngày 08/04/2016, Thanh tra thành phố có báo cáo số 26/BC-TTr về kết quả kiểm tra, xác minh đơn khiếu nại của ông Lê Hoàng H.
Ngày 29/07/2016, UBND thành phố tổ chức họp đối thoại giải quyết đơn khiếu nại của ông Lê Hoàng H.
Ngày 03/8/2016, Chủ tịch UBND thành phố B ban hành Quyết định số 4137/QĐ-UBND không chấp nhận khiếu nại của ông Lê Hoàng H.
Tại bản án hành chính sơ thẩm số 35/2022/HC-ST ngày 28-7-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:
Áp dụng các Điều 30, Điều 32, khoản 1 Điều 157, Điều 158, Điều 193, Điều 194 của Luật tố tụng hành chính; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 về án phí và lệ phí tòa án; Điều 66, 69 Luật Đất đai 2013; Nghị định 43/2014NĐ-CP ngày 15/5/2014, khoản 4 Điều 34 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, Quyết định số 53/QĐ-UBND ngày 20/11/2014 Quy định về trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; Quyết định số 54/2014/QĐ-UBND ngày 20/11/2014 của UBND tỉnh Đ về ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; Quyết định số 55/2014/QĐ-UBND ngày 20/11/2014 của UBND tỉnh Đ về ban hành quy định về giá bồi thường, hỗ trợ tài sản khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; Quyết định số 57/2014/QĐ-UBND ngày 20/11/2014 của UBND tỉnh Đ về ban hành đơn giá xây dựng nhà ở để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, để bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê, để định giá trong các cụ án của Tòa án, thi hành án và để định giá trong các nghiệp vụ kinh tế khác trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; Quyết định số 64/2014/QĐUBND ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh Đ về ban hành Quy định về các loại đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 5 năm giai đoạn 2015-2019; Điều 18, 27, 29, 30, 31, 32 Luật khiếu nại. Tuyên xử:
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hoàng H và bà Nguyễn Thị Xuân P đối với các quyết định hành chính gồm:
- + Quyết định số 4081/QĐ-UBND ngày 18/12/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ Dự án khu công nghiệp H phần có liên quan đến hộ ông Lê Hoàng H
- + Quyết định số 149/QĐ-UBND ngày 15/01/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố B về bồi thường hỗ trợ do thu hồi đất.
- + Quyết định giải quyết khiếu nại số 4137/QĐ-UBND ngày 03/8/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 09/8/2022, người khởi kiện – ông Lê Hoàng H có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người kháng cáo – ông Lê Hoàng H có người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo tại đơn kháng cáo của ông H để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của H, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Người bị kiện – UBND thành phố B, Chủ tịch UBND thành phố B, UBND tỉnh Đ và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Lê Hoàng H làm trong hạn luật định nên hợp lệ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.
Về nội dung: Phía người khởi kiện không đưa ra được căn cứ pháp luật và chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của người bị kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của ông Lê Hoàng H làm trong hạn luật định, thủ tục kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
Các đương sự có đơn xin vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 225 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
Xét kháng cáo của ông Lê Hoàng H:
Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành:
Phần đất có diện tích 80.313m² thuộc thửa số 11, 15, 57, 80 tờ bản đồ số 01 xã P, thành phố B có nguồn gốc do ông Lê Hoàng H nhận thừa kế của cha mẹ là ông Lê Văn T4 và bà Trần Thị Ngọc Á. Ông Lê Hoàng H đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V781228 ngày 12/7/2014, số K373733 ngày 24/3/1998, số 0841726 ngày 01/11/2001.
Ngày 20/4/2009, UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 1104/QĐ-UBND về việc thu hồi diện tích đất 708.643m² tại xã P, huyện L (nay là thành phố B) để thực hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện dự án xây dựng hạ tầng khu công nghiệp H.
Ngày 06/10/2010, UBND thành phố B ban hành các Quyết định số 1083/QĐ-UBND, 1086/QĐ-UBND, 1124/QĐ-UBND, 1025/QĐ-UBND và 1147/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện dự án xây dựng hạ tầng Khu công nghiệp H đối với hộ ông Lê Hoàng H. Tổng diện tích thu hồi 80.313m², trong đó 600m² đất ở nông thôn, 79.713m² đất nông nghiệp.
Ngày 20/5/2015, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1287/QĐ-UBND phê duyệt phương án giá đất bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thuộc dự án xây dựng hạ tầng Khu Công nghiệp H tại xã P, thành phố B.
Ngày 18/12/2015, UBND tỉnh Đ ban hành quyết định số 4081/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ dự án xây dựng hạ tầng khu công nghiệp H tại phường P, thành phố B (đợt 1) (hộ ông Lê Hoàng H có số thứ tự 03).
Ngày 15/01/2016, UBND thành phố ban hành Quyết định số 149/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ đối với hộ ông Lê Hoàng H do thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng hạ tầng Khu Công nghiệp H tại xã P, thành phố B, với tổng số tiền được bồi thường, hỗ trợ là 17.210.684.000 đồng, trong đó:
- + Bồi thường đất là 6.599.040.000 đồng (600m² đất ở nông thôn vị trí 4 đường T: 370.000đ/m2 và 79.713m² đất nông nghiệp vị trí 4: 80.000đ/m2).
- + Bồi thường nhà, vật kiến trúc, cây trồng, tài sản khác: 1.028.084.000 đồng,
- + Chính sách hỗ trợ: 9.593.560.000 đồng (hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm: 9.565.560.000 đồng, trợ cấp di chuyển: 6.000.000 đồng, thưởng đối với hộ có số tiền bồi thường, hỗ trợ từ 300 triệu trở lên: 12.000.000 đồng).
Đồng thời ngày 24/3/2016, UBND thành phố B ban hành Văn bản số 2083/UBND-ĐT phê duyệt cho ông Lê Hoàng H 03 lô đất tái định cư (gồm: ông Lê Hoàng H1 và 02 người con là Lê Hoàng T2, Lê Hoàng K) tại khu tái định cư Quốc lộ A- Đoạn tránh thành phố B.
Như vậy, ngày 18/12/2015, UBND tỉnh Đ ban hành quyết định số 4081/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ dự án xây dựng hạ tầng khu công nghiệp H tại phường P, thành phố B (đợt 1); Ngày 15/01/2016, UBND thành phố ban hành Quyết định số 149/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ đối với hộ ông Lê Hoàng H là đúng thẩm quyền. Ngày 06/10/2010, UBND thành phố B ban hành các QĐ thu hồi đất của ông H, đến ngày 15/6/2016 mới ban hành Quyết định số 149/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ đối với hộ ông H là có vi phạm về thời hạn ban hành quyết định hỗ trợ, bồi thường khi nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật đất đai năm 2013. Tuy nhiên, UBND thành phố B đã căn cứ vào giá đất và các quy định có hiệu lực tại thời điểm năm 2016 để tính tiền bồi thường, các chính sách hỗ trợ, tái định cư cho ông H là có lợi hơn so với thời điểm năm 2010 nên việc UBND thành phố B vi phạm về thời hạn bồi thường, hỗ trợ không gây thiệt hại cho ông H.
Về hợp pháp của các Quyết định hành chính bị khởi kiện:
Về nội dung: Ông H yêu cầu các thửa đất nông nghiệp số 11, 15, 57, 80 tờ bản đồ số 1 đường T, T5, xã P phải được xác định là vị trí 2 với giá 180.000 đồng/m², 600m² đất thổ cư bị thu hồi có vị trí 2 có mức bồi thường là 520.000 đồng/m². Ông H cho rằng UBND thành phố B xác định đất của ông H ở vị trí 4 để tính giá bồi thường là không phù hợp.
Xét thấy, căn cứ kết quả việc xác định vị trí đất được thể hiện theo danh sách xác định vị trí các thửa đất bị thu hồi của ông Lê Hoàng H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh B thực hiện ngày 14/01/2015 thể hiện các thửa đất nông nghiệp số 11, 15, 57, 58 và 80, tờ bản đồ địa chính số 01, xã P, thành phố B không tiếp giáp với đường nhóm 1, 2 (Q, tỉnh lộ, ... có tên trong Quyết định số 64/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh) và cách đường Q (đường V) lớn hơn 1.000m nên UBND thành phố B xác định các thửa đất nông nghiệp bị thu hồi của ông H thuộc vị trí 4 là phù hợp; Đất ở tại nông thôn thuộc thửa đất số 58, tờ bản đồ địa chính số A, xã P, thành phố B tiếp giáp hẻm đất độ rộng chỗ hẹp nhất nhỏ hơn 5m (hẻm đất rộng 4m) có khoảng cách ra đường T lớn hơn 1.100m nên UBND thành phố B xác định thửa đất ở tại nông thôn bị thu hồi của ông H thuộc vị trí 4 đường T là phù hợp.
Do đó, các Quyết định số 4081/QĐ-UBND ngày 18/12/2015 của UBND tỉnh Đ, Quyết định số 149/QĐ-UBND ngày 15/01/2016 của UBND thành phố B áp giá đất thổ cư và đất nông nghiệp vị trí 4 để tính giá trị bồi thường đất, giá trị hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với hộ ông H là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật. Ông H yêu cầu xác định các thửa đất của ông H ở vị trí 2 và buộc UBND thành phố B tính giá bồi thường theo giá đất ở vị trí 2 là không có cơ sở chấp nhận.
Về việc bồi thường nhà, vật kiến trúc, cây trồng, tài sản khác và chính sách hỗ trợ chuyển đồi nghề và đào tại việc làm, chính sách tái định cư: Hộ ông H, bà P đã được tính toán đầy đủ, phù hợp với các quy định tại Quyết định số 54/2014/QĐ-UBND ngày 20/11/2014 của UBND tỉnh Đ về ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; Quyết định số 55/2014/QĐ-UBND ngày 20/11/2014 của UBND tỉnh Đ về ban hành quy định về giá bồi thường, hỗ trợ tài sản khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; Quyết định số 57/2014/QĐ-UBND ngày 20/11/2014 của UBND tỉnh Đ về ban hành đơn giá xây dựng nhà ở để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, để bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê, để định giá trong các cụ án của Tòa án, thi hành án và để định giá trong các nghiệp vụ kinh tế khác trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; Quyết định số 64/2014/QĐUBND ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh Đ về ban hành Quy định về các loại đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 5 năm giai đoạn 2015-2019.
Từ các nhận định nêu trên có cơ sở xác định xác định mặc dù Ủy ban nhân dân Thành phố B có sai sót về thời hạn ban hành Quyết định hỗ trợ, bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nhưng quyền, lợi ích pháp của người bị thu hồi đất đã được đảm bảo nên việc hủy các Quyết định hành chính bị khởi kiện là không cần thiết. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, bà P về việc hủy các quyết định hành chính và quyết định giải quyết khiếu nại là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.
Ông H kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông. Nhưng trong quá trình giải quyết theo thủ tục phúc thẩm ông H không xuất trình được chứng cứ nào mới để Hội đồng xét xử xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông H; Đối với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị bác kháng cáo của người khởi kiện là có căn cứ, đúng pháp luật và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Vì vậy, HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm số 35/2022/HC-ST ngày 28/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Về án phí hành chính phúc thẩm:
Do yêu cầu kháng cáo của ông Lê Hoàng H không được chấp nhận nên ông Lê Hoàng H phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Tuy nhiên, ông Lê Hoàng H là người cao tuổi và có đơn xin miễn đóng án phí theo đúng quy định pháp luật nên ông Lê Hoàng H được miễn án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử sụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Hoàng H. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm 35/2022/HC-ST ngày 28/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hoàng H và bà Nguyễn Thị Xuân P đối với các quyết định hành chính gồm:
- + Quyết định số 4081/QĐ-UBND ngày 18/12/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ Dự án khu công nghiệp H phần có liên quan đến hộ ông Lê Hoàng H
- + Quyết định số 149/QĐ-UBND ngày 15/01/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố B về bồi thường hỗ trợ do thu hồi đất.
- + Quyết định giải quyết khiếu nại số 4137/QĐ-UBND ngày 03/8/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B.
Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Lê Hoàng H được miễn án phí hành chính phúc thẩm
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Toàn |
Bản án số 950/2023/HC-PT ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất, quyết định giải quyết khiếu nại
- Số bản án: 950/2023/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất, Quyết định giải quyết khiếu nại
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2023
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án
