|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số:95/2024/HS-ST Ngày: 31-7-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lã Anh Tuấn
- Bà Hoàng Thị Chính
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 97/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 110/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo tại điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam công an thành phố H:
Bùi Xuân M, sinh ngày 09 tháng 11 năm 1983 tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Tổ N, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Xuân T và bà Ngô Thị K (đã chết); vợ là Trần Thị K1 (đã ly hôn) và không có con; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Có 01 tiền án (đã được xoá án tích): Bản án số 150/2019/HS-ST ngày 29/5/2019 của Toà án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt Bùi Xuân M 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/4/2024, chuyển tạm giam ngày 25/4/2024; có mặt.
Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Bà Trần Thị Thu T1 – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Bùi Văn H, ông Lê Văn S - Cán bộ Đội cảnh sát hỗ trợ tư pháp Công an quận K, thành phố Hải Phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/4/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý, Bùi Xuân M một mình đi xe buýt đến khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng và mua của 01 người phụ nữ không quen biết 02 túi nilon chứa ma tuý Methamphetamine với giá 300.000 đồng, rồi M cất giấu 02 túi ma tuý trên vào trong túi quần phía trước bên phải của M. Khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày, M xuống xe buýt và đi bộ đến khu vực trước số nhà I đường T, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng thì bị Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý và Công an phường P kiểm tra, bắt quả tang. Thu giữ tại túi quần bên phải phía trước M đang mặc 01 túi nilon (kích thước 2,5x2cm) mép viền màu xanh và 01 túi nilon (kích thước 2x2cm) mép viền màu đỏ bên trong đều chứa tinh thể màu trắng.
Kết luận giám định số 476/TB-KTHS ngày 22/4/2024 của Phòng K2, kết luận: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,35 gam, loại: Methamphetamine”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K tiến hành test thử chất ma tuý đối với Bùi Xuân M. Kết quả, M dương tính với chất ma tuý Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Bùi Xuân M khai nhận phù hợp với nội dung trên. M cất giấu số ma tuý trên nhằm mục đích để sử dụng cá nhân. Nguồn gốc số tiền mua ma túy là do M lao động mà có. M không nhận dạng được người phụ nữ bán ma túy.
Tại bản Cáo trạng số 99/CT-VKSKA ngày 17 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo Bùi Xuân M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Xuân M như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Xuân M từ: 24 (Hai mươi tư) – 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày 16/4/2024.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Bùi Xuân M.
Xử lý vật chứng: : Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại cùng vỏ bao gói của mẫu được niêm phong trong 1 bì giấy đóng dấu niêm phong số 476MT/PC09.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp để sớm trở về với cộng đồng.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về nội dung:
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 16/4/2024, tại khu vực trước của nhà số I T, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng bị cáo Bùi Xuân M đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,35 gam ma tuý loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết định khung hình phạt:
[3] Khối lượng ma tuý mà bị cáo Bùi Xuân M tàng trữ là 0,35 gam ma túy loại Methamphetamine nên bị cáo bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Các loại tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng, gây lo lắng và bức xúc trong nhân dân. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Về nhân thân: Bị cáo Bùi Xuân M có 01 tiền án: Bản án số 150/2019/HS-ST ngày 29/5/2019 của Toà án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt Bùi Xuân M 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/10/2019, thi hành xong án phí ngày 16/9/2019. Căn cứ Điều 70, Điều 73 Bộ luật Hình sự tiền án trên đã xoá án tích nhưng vẫn coi bị cáo là có nhân thân không tốt.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Về hình phạt:
[8] Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Bùi Xuân M và ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[9] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định trước khi bị bắt nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
- Về vật chứng:
[10] Đối với số ma tuý còn lại sau giám định cùng vỏ bao bì được niêm phong trong một bì giấy, là vật cấm lưu hành, cấm sử dụng trái phép và vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Về án phí:
[11] Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Về các nội dung khác:
[12] Đối với người phụ nữ đã bán ma tuý cho M tại khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng, cơ quan điều tra công an quận K do chưa xác minh lai lịch, địa chỉ nên tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
3
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Bùi Xuân M được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Bùi Xuân M: 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2024.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Bùi Xuân M.
Tịch thu tiêu hủy: Số ma tuý còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao bì được niêm phong trong 01 bì giấy, dấu niêm phong số 476MT/PC09 và chữ ký của những người có liên quan.
(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).
Bị cáo Bùi Xuân M phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Ngà |
5
Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 95/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: có tội
