|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 95/2024/DS-ST Ngày: 31/7/2024 V/v tranh chấp hợp đồng hụi (họ) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Hoàng;
- Ông Phan Minh Quốc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Công Minh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 248/ 2023/ TLST- DS ngày 17/10/2023 về việc: "Tranh chấp Hợp đồng góp hụi (Họ)” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST-DS ngày 26/6/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 95/2024/QĐST-DS ngày 15/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn P (Út G), sinh năm 1966
HKTT: Số A, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
Địa chỉ tạm trú: Kiot chợ A, ấp S, xã A, huyện T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0902.498.xxx (có mặt) - Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị O (Út D), sinh năm 1970 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị D1 (8 Cương), sinh năm 1964 (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị H (6 T), sinh năm 1963 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số C, khu dân cư ấp S, xã A, huyện T, tỉnh An Giang. - Người làm chứng:
- Bà Hồ Thị L, sinh năm 1979 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1977 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1983 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Bích T1 (Nguyễn Thị Kim T2), sinh năm 1975 (vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bà Lâm Kim X, sinh năm 1979 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1978 (vắng mặt)
- Bà Ngô Ngọc Á, sinh năm 1972 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1981 (vắng mặt)
- Bà Châu Thị G1, sinh năm 1992 (vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1958 (vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai, lời khai quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Tấn P (Út Gạo) trình bày:
Tôi là hụi viên có tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Thị O (Út Dép) làm chủ hụi, hình thức hụi huê hồng, khi chơi hụi tôi được bà O giao sổ hụi có danh sách hụi viên, tên trong sổ hụi của tôi là “Út Gạo”. Cụ thể tôi tham gia 01 dây hụi 2 triệu đồng/tháng khui ngày 16/8/2021 (âm lịch) mỗi tháng khui một lần, có 15 phần hụi, 14 người chơi (bà O chơi 02 phần) đã mãn vào ngày 16/10/2022 (al) tôi tham gia một phần, có danh sách hụi viên. Việc chơi hụi chỉ dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau nên ngoài sổ hụi thì bà O không có làm biên nhận giao nhận tiền hụi gì cho hụi viên. Khi mở hụi bà O có thông báo với các hụi viên là hụi viên đóng tiền hụi hàng tháng cho bà hay bà Nguyễn Thị D1 (8 Cương) - chị ruột bà O đều được. Hai lần đầu bà O đến thu tiền hụi tháng của tôi nhưng do đều là buổi sáng sớm đang lúc tôi bận bán café nên tôi kêu bà O thu buổi khác thì từ đó mỗi tháng bà D1 đều là người đến thu tiền hụi của tôi giao cho bà O. Đến lần khui hụi thứ 12 (16/7/2022 âm lịch), tôi bỏ tiền hụi 570.000 đồng và được bà O báo là được hốt hụi, tổng số tiền tôi được hốt là 20.020.000 đồng (chưa trừ tiền thảo). Đến ngày giao tiền hụi bà O không giao cho tôi và nói là tìm bà D1 mà đòi vì bà D1 là người thu hụi sống của tôi 11 lần trước. Tôi không đồng ý và yêu cầu bà O là chủ hụi thì phải thanh toán cho tôi, còn bà D1 chỉ là người được bà O ủy quyền thu tiền hụi của hụi viên. Hai bên xảy ra tranh cãi, bà D1 bỏ đi đâu không rõ, bà O thì không chịu giao tiền hốt hụi cho tôi và còn thách tôi đi thưa ra Tòa. Kể từ lần đó dù dây hụi trên vẫn tiếp tục và mãn vào ngày 16/10/2022 al, nhưng tôi và bà O đã không còn chơi hụi với nhau.
Tại đơn khởi kiện tôi yêu cầu bà Nguyễn Thị O (Út D) và bà Nguyễn Thị D1 (8 Cương) phải liên đới trả cho tôi số tiền hụi sống tôi đã đóng cho họ là 22.000.000 đồng (11 lần x 2.000.000 đồng), không yêu cầu tính lãi.
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay tôi xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Tôi thừa nhận bà Nguyễn Thị H (6 T) là chị ruột của bà D1, bà O có gửi trả cho tôi số tiền là 6.000.000 đồng. Bên cạnh đó, việc bà O có ủy quyền cho bà D1 thu tiền hụi của hụi viên trong đó có tôi là sự thật nên bà D1 có giao tiền hụi lại cho bà O hay không thì tự họ giải quyết với nhau, bà O là chủ hụi thì phải có trách nhiệm trả tiền hụi cho tôi. Do đó, tôi chỉ yêu cầu cá nhân bà Nguyễn Thị O (Ú) trả cho tôi số tiền hụi sống tôi đã đóng cho bà là 16.000.000 đồng.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 28/11/2023 bị đơn bà Nguyễn Thị O (Út D) trình bày: “………Ông P chỉ tham gia 01 dây hụi do tôi làm chủ hụi: Dây 02 triệu đồng khui ngày 16/8/2021 (AL), ông P chơi 01 phần. Dây hụi có 15 phần hụi, 14 người chơi đã mãn vào ngày 16/10/2022 (al), có danh sách hụi viên. Từ trước đến nay tôi có đến 02 lần gom hụi ông P nhưng ông P không chịu đóng và nạt tôi vì thế tôi đã gạt ông P ra khỏi dây hụi. Tôi chỉ nói không gom tiền nữa chứ chưa báo đã gạt ông P ra khỏi dây hụi.
...Tôi không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tôi không đồng ý liên đới với bà D1 trả số tiền hụi còn thiếu là 22 triệu đồng như nguyên đơn khởi kiện. Do trước nay tôi không gom hụi của ông P, đã gạt ông P ra khỏi dây hụi và cũng không ủy quyền cho bà D1 gom hụi như ông P trình bày. Còn việc ông P trình bày có góp hụi cho bà D1 thì tôi hoàn toàn không biết việc này, tôi không hề ủy quyền cho bà D1 gom hụi và cũng không nhận được số tiền nào do bà D1 gom hụi đưa tôi...”.
Bị đơn bà Nguyễn Thị D1 (8 Cương) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H (6 Tâm) đã được Tòa án thực hiện việc cấp, tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để bà D1, bà H thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu cầu của nguyên đơn, nhưng bà D1, bà H vẫn vắng mặt không tham gia tố tụng và không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình nên không ghi nhận được ý kiến của bà D1, bà H.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 16/01/2024, người làm chứng bà Châu Thị G1 (tên trong sổ hụi là “Giàu”) trình bày:
“...Tôi là hàng xóm với họ, không có quan hệ họ hàng gì. Tôi chơi chung với ông P dây hụi tháng 02 triệu đồng khui ngày 16/8/2021 (AL), tôi chơi 01 chân, ông Ú chơi 01 chân, bà D1 cũng chơi chung dây này do bà O làm chủ hụi.
...Ban đầu bà D1 (8 Cương) đến rủ tôi chơi hụi do em bà ta là bà O làm chủ hụi, tôi đồng ý từ đó tôi đóng hụi trực tiếp cho bà D1, các lần khui hụi tôi đều có mặt, khi tôi được hốt thì bà D1 cũng là người giao tiền hụi cho tôi. Việc khui hụi được thực hiện tại nhà bà O và đều có mặt bà O và bà D1. Sau này bà D1 đi đâu không biết thì bà O lại thu tiền hụi chết của tôi. Tôi không đồng ý vì tất cả những lần tôi đóng hụi đều đóng cho bà D1
...Bà O làm chủ hụi mới đây tôi mới chơi với bà ta 01 dây chung với ông P nhưng tôi thấy bà ta không uy tín nên không muốn chơi với bà ta nữa.
.Lần khui hụi lần thứ 12 không có mặt của tôi. Tôi thấy có khi thì bà O có khi thì bà D1 thu hụi của ông P. Còn tôi hoàn toàn đóng hụi cho bà D1. Việc tôi đóng hụi cho bà D1 từ đầu đến cuối bà O không không có phản đối. Sau này khi bà D1 bỏ đi bà O còn đến thu tiền hụi chết của tôi nữa. Tôi thấy chị em họ lu bu nên tôi trả tiền hụi sống lại cho họ, tôi lấy tiền hụi chết.
...Do bận buôn bán nên tôi xin vắng mặt tại phiên hòa giải, đối chất, xét xử của Tòa án...Tôi cam đoan lời khai trên là sự thật, nếu có sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật...”.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 16/01/2024, n gười làm chứng bà Nguyễn Bích T1 (tên trong sổ hụi là “T1”) trình bày:
“………Tôi là hàng xóm với họ không có họ hàng gì. Tôi chơi dây hụi chung với ông P dây hụi 2 triệu đồng khui ngày 16/8/2021 (AL) tôi chơi 01 chaan, ông P chơi 01 chân, bà D1 cũng chơi chung do bà O làm chủ hụi.
...Ông P có chơi hụi chung và có đóng tiền hụi cho bà bà D1, còn tôi thì đóng tiền hụi cho bà O. Hai chị em bà O, bà D1 đều thống nhất đóng hụi cho ai cũng được. Lần khui hụi lần thứ 12 tôi có đến tham gia khui nhưng không thấy ông P, có thể do ông P đến sau tôi vì tôi đến bỏ thăm rồi về. Tôi không nhớ số tiền tôi bỏ thăm nhưng số tiền tôi bỏ thăm ít hơn ông P, ông P được hốt lần 12 đó, tôi hốt lần tiếp theo lần thứ 13. Sau này tôi nghe nói bà O không chịu giao tiền hụi cho ông P. Thực tế bà O nhờ bà D1 thu tiền hụi dùm ai cũng biết việc đó nên hoàn toàn không có việc bà O phản đối bà D1 thu tiền.
...Do bận buôn bán nên tôi xin vắng mặt tại phiên hòa giải, đối chất, xét xử của Tòa án...Tôi cam đoan lời khai trên là sự thật, nếu có sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật...”.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 16/01/2024, n gười làm chứng bà Nguyễn Thị Y (tên trong sổ hụi là “3 Khởi”) trình bày:
“...Tôi là hàng xóm với họ không có họ hàng gì. Tôi chơi dây hụi chung với ông P dây hụi 2 triệu đồng khui ngày 16/8/2021 (AL) tôi chơi 01 chân, ông P chơi 01 chân, bà D1 cũng chơi chung do bà O làm chủ hụi.
...Bà O thông báo với các hụi viên ngay từ đầu là đóng hụi tháng cho bà ta hoặc chị của bà ta là bà D1 (8 Cương) đều được. Tôi đóng tiền trực tiếp cho bà O, còn ông Ú đóng cho ai tôi không biết. Tôi đều có mặt trong tất cả những lần khui hụi tại nhà bà O, ông Ú thường gửi thăm chứ không đến khui trực tiếp, chỉ có 01 lần khui vào lần thứ 12 ông P bỏ thăm là 570.000 đồng, tôi bỏ 550.000 đồng còn 03 hụi viên nữa mà lâu quá tôi không nhớ ai nhưng đều bỏ ít hơn tôi do đó ông P là người được hốt. Tôi nhớ rõ là do tôi không hốt được dù chỉ chênh lệch có 20.000 đồng mà không được hốt. Ông Ú không chơi thì làm sao bà O cho ông Út h được. Tôi biết có mấy người ngoài ông P còn có chị Châu Ngọc Giàu c đóng cho bà D1, lúc bà O còn những người khác tôi không nhớ rõ.
...Sau khi chủ hụi công bố người được hốt hụi thì khoảng 4 ngày sau phải giao tiền, tôi thấy bà O giao tiền cho những người được hốt cũng đầy đủ nhưng đến lượt của ông P thì lại không chịu giao. Bà O mới làm chủ hụi đây, tôi mới chơi với bà ấy 01 dây chung với ông P nhưng tôi thấy bà O không uy tín nên tôi không muốn chơi với bà ta nữa.
...Do bận buôn bán nên tôi xin vắng mặt tại phiên hòa giải, đối chất, xét xử của Tòa án...Tôi cam đoan lời khai trên là sự thật, nếu có sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật...”.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn ông Nguyễn Tấn P (Ú) có mặt; Bị đơn bà Nguyễn Thị O (Ú) và bà Nguyễn Thị D1 (8 Cương) vắng mặt lần thứ hai không lý do; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H (6 T) vắng mặt lần thứ hai không lý do; Người làm chứng bà Châu Thị G1, bà Nguyễn Bích T1 và bà Nguyễn Thị Y vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt; Người làm chứng bà Hồ Thị L, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn K, bà Lâm Kim X, bà Nguyễn Thị T3, bà Ngô Thị Á1 và bà Nguyễn Thị K1 vắng mặt lần thứ hai không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là tuân thủ đúng quy định pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét căn cứ Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 24, Điều 25 và Điều 27 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà O, bà D1 phải liên đới trả cho ông P số tiền nợ hụi là 16.000.000 đồng, nguyên đơn không yêu cầu tính lãi nên không xem xét. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu bị đơn bà D1 liên đới trả nợ và phần yêu cầu bị đơn bà O trả số tiền nợ gốc là 6.000.000 đồng của nguyên đơn. Bị đơn phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hợp đồng hụi (họ) được quy định tại Điêu 471 Bộ luật Dân sự 2015. Bị đơn có địa chỉ cư trú trên địa bàn huyện T, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị O (Ú), bà Nguyễn Thị D1 (8 Cương) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H (6 Tâm) đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không lý do nên căn cứ vào Điều 70, Điều 72, Điều 73, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà O, bà D1 và bà H.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét tính hợp pháp của Hợp đồng hụi (họ):
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông P, bị đơn bà O và những người làm chứng đều thống nhất ông P có tham gia chơi hụi do bà O là chủ hụi 01 dây hụi 02 triệu đồng/tháng mở ngày 16/8/2021 (âm lịch) mỗi tháng khui một lần, có 15 phần hụi, 14 người chơi đã mãn vào ngày 16/10/2022 (al) ông P tham gia 01 phần tên trong sổ hụi là “Út Gạo”, bà O tham gia 02 phần tên trong sổ hụi là “Út Dép”, bà D1 tham gia 01 phần tên trong sổ là “8 Cương” và bà Nguyễn Thị H cũng tham gia 01 phần với tên trong sổ hụi là “6 T”, bà O có giao Sổ hụi cho ông P trong đó có ghi danh sách hụi viên, tên chủ hụi là Nguyễn Thị O và có số điện thoại của bà O kèm theo. Tuy bà O trình bày đã đưa ông P ra khỏi dây hụi nhưng bà không cung cấp được chứng cứ chứng minh và biên bản lấy lời khai ngày 28/11/2023 của Tòa án bà cũng thừa nhận “tôi chỉ nói không gom tiền nữa chứ chưa báo đã gạt ông P ra khỏi dây hụi” – đồng nghĩa với việc bà không thông báo cho ông P hay các hụi viên khác biết việc đã đưa ông P ra khỏi dây hụi.
Như vậy, có cơ sở xác định giữa ông P và bà O có xác lập hợp đồng hụi (họ), loại hụi có lãi và hụi hưởng hoa hồng, bà O là chủ hụi, ông P là hụi viên. Hợp đồng hụi (họ) này của ông P và bà O là giữa những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự giao kết hợp đồng, xác lập trên cơ sở tự nguyện, nội dung không vi phạm điều cấm và không trái pháp luật; hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên hợp đồng này là hợp pháp theo quy định tại Điều 3 và Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, các bên phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đã giao kết.
[2.2] Xét yêu cầu xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Tại đơn khởi kiện ông P yêu cầu bà O và bà D1 phải liên đới trả cho ông số tiền hụi là 22.000.000 đồng. Tại phiên tòa ông P xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần tiền hụi là 6.000.000 đồng và ông không yêu cầu bà D1 liên đới trả tiền cho ông nữa, ông chỉ yêu cầu bà O trả cho ông số tiền hụi còn nợ là 16.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện trên của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật, đạo đức xã hội nên căn cứ Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu bị đơn bà D1 liên đới trả nợ và phần yêu cầu bị đơn bà O trả số tiền nợ gốc là 6.000.000 đồng của nguyên đơn.
[2.3] Xét yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị O (Út D) trả số tiền là 16.000.000 đồng của nguyên đơn:
Nguyên đơn ông P khẳng định đã đóng đầy đủ 11 lần hụi sống cho chủ hụi bà O (do bà D1 thu hụi giao lại cho bà O) với tổng số tiền là 22.000.000 đồng, ông có hốt hụi lần thứ 12 nhưng bà O không chịu giao tiền hụi cho ông đúng hạn. Bị đơn bà O trình bày bà không có ủy quyền cho bà D1 gom tiền hụi rồi giao lại cho bà mà chính bà là người đi gom tiền và chính bà là người giao tiền, ông P không đóng tiền hụi cho bà và cũng không tham gia khui hụi lần thứ 12 nên không có việc được hốt hụi.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn cung cấp chứng cứ là Sổ hụi, Biên nhận ngày 15/12/2022 có chữ ký của bà Nguyễn Thị H và cung cấp được họ tên, năm sinh, địa chỉ cụ thể của những người hụi viên để Tòa án triệu tập lấy lời khai; Phía bị đơn bà O dù là chủ hụi nhưng lại không giao nộp được các tài liệu, chứng cứ là họ tên, năm sinh, địa chỉ cụ thể của những người tham gia chơi hụi theo yêu cầu của Tòa án, bà cũng không cung cấp được bất cứ chứng cứ gì để chứng minh cho phần trình bày của mình là có căn cứ và đều vắng mặt không lý do tại các phiên đối chất với các đương sự khác (trong đó có nguyên đơn và những người người làm chứng) nên theo quy định tại khoản 2 Điều 96 và Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp, lời khai của người làm chứng mà Tòa án đã thu thập được để giải quyết vụ án.
Theo đó HĐXX xét thấy, tuy nguyên đơn ông Nguyễn Tấn P (Út Gạo) không cung cấp được biên nhận giao hụi hay biên nhận nợ hụi để chứng minh cho yêu cầu của mình nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án ông P đều trình bày cụ thể, rõ ràng từng lần khui hụi, số tiền khui, đóng hụi cho chủ hụi thông qua bà D1 phù hợp với nội dung Sổ hụi, lời khai của những người làm chứng (bà Nguyễn Thị Y, Nguyễn Bích T1 và Châu Thị G1) cũng như tập quán tổ chức chơi hụi ở địa phương bởi lẽ theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015 thì H1 (họ) là hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thỏa thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người nên việc bắt buộc nguyên đơn phải cung cấp chứng cứ là các biên nhận giao tiền hụi, biên nhận nợ hụi khi các thành viên hụi, chủ hụi không có thỏa thuận về việc lập biên nhận mỗi lần giao nhận tiền hụi là không thể. Bên cạnh đó, Biên nhận ngày 15/12/2022 có chữ ký của bà Nguyễn Thị H trong suốt quá trình giải quyết vụ án bà H vắng mặt không lý do và không có ý kiến gì đối với Biên nhận trên nên căn cứ khoản 2 Điều 92 thì đây là việc không cần phải chứng minh có cơ sở xác định bà H gián tiếp xác nhận ông P có đóng hụi hàng tháng cho bà D1, đồng thời lời khai của những người làm chứng (bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Bích T1 và bà Châu Thị G1) đều thống nhất có sự việc bà O ủy quyền cho bà D1 thu hụi của hụi viên (trong đó có ông P) thay bà và ông P là người được bà O thông báo được hốt hụi vào lần khui hụi thứ 12.
Từ những căn cứ nêu trên có cơ sở xác định bà O còn nợ lại ông P số tiền hụi sống là 16.000.000 đồng. Xét thấy, bà O là chủ hụi sau khi thu tiền hụi của hụi viên đã cố ý trốn tránh trách nhiệm giao tiền hụi cho hụi viên. Do đó, việc ông P là hụi viên khởi kiện yêu cầu bà O là chủ hụi phải trả cho ông số tiền nợ hụi là 16.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 15, Điều 18, Điều 23 và Điều 25 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải nộp án phí.
[4] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.
[5] Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, Điều 73, khoản 2 Điều 92, khoản 2 Điều 96, Điều 97, Điều 144, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 3, Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 15, Điều 18, Điều 23 và Điều 25 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường.
Tuyên xử:
- Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị D1 (8 Cương) liên đới trả nợ và phần yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị O (Út D) trả số tiền nợ gốc là 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) của nguyên đơn ông Nguyễn Tấn P (Ú).
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Tấn P (Ú): Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị O (Ú) có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Tấn P (Út Gạo) số tiền nợ hụi là 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị O (Ú) phải nộp 800.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn ông Nguyễn Tấn P (Út Gạo) không phải chịu án phí nên được nhận lại 550.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012157 ngày 17 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Cẩm Xuyên |
Bản án số 95/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp hụi (họ)
- Số bản án: 95/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng góp hụi (Họ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hụi
