|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 95/2024/HNGĐ-ST
Ngày 31 tháng 5 năm 2024
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Nam - Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Tạ Kim Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 172/2024/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 242/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 09 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 276/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 09 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Khu vực T, phường T, Quận T, Thành phố Cần Thơ. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Thu H, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Số D khóm Đ, phường M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn cùng các lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Huỳnh Thị Thu H sau thời gian quen biết tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Thuận An, Quận Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ vào ngày 11/11/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, cả hai không có thiện chí hàn gắn tình cảm gia đình. Do mâu thuẫn trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc nên ông yêu cầu ly hôn bà H.
Về con chung: Ông bà có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Như Y, sinh ngày 26/10/2015 và Nguyễn Huỳnh Mỹ A, sinh ngày 25/4/2020 hiện do ông T chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông T yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung sau ly hôn, ông có công việc và thu nhập đủ khả năng nuôi con, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Quá trình giải quyết bà Huỳnh Thị Thu H được niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông T. Phiên tòa được mở lần thứ hai, bà H tiếp tục vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của đương sự và đề xuất việc giải quyết vụ án như sau:
Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý giải quyết đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các văn bản tố tụng được tống đạt, niêm yết đúng quy định tại các Điều 171, 173, 175, 177 và 179 BLTTDS 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của BLTTDS về xét xử vụ án. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T được ly hôn bà Huỳnh Thị Thu H.
- Về con chung: Giao 02 (hai) con chung Nguyễn Như Y, sinh ngày 26/10/2015 và Nguyễn Huỳnh Mỹ A, sinh ngày 25/4/2020 cho ông T chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông T không yêu cầu bà H cấp dưỡng, nên không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Ông T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà H. Bà H cư ngụ tại phường M, thành phố Long Xuyên nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Phiên tòa hôm nay mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng bà H vắng mặt không có lý do, ông T không yêu cầu hoãn phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn bà Huỳnh Thị Thu H.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hôn nhân: Ông T và bà H tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Thuận An, Quận Thốt Nốt nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nguyên nhân yêu cầu ly hôn theo ông T trình bày vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, cả ông và bà H đều không có thiện chí hòa giải, hàn gắn tình cảm gia đình. Do mâu thuẫn trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc nên ông yêu cầu ly hôn bà H.
Quá trình giải quyết vụ án bà H vắng mặt. Theo Phiếu yêu cầu xác minh của Tòa án tại Công an phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên ngày 15/3/2024 thể hiện: Đương sự Huỳnh Thị Thu H, sinh năm 1997 có đăng ký thường trú tại số D khóm Đ, phường M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Do bà H vắng mặt, Tòa án thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bà H biết nhưng bà H vẫn không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và tài liệu, chứng cứ do ông T cung cấp đồng thời cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc yêu cầu phản đối yêu cầu khởi kiện của ông T là bà H đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại khoản 5 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét thấy, trong gia đình vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, tôn trọng và cùng nhau chia sẻ vui buồn trong cuộc sống, đây là cơ sở vững chắc để bồi đắp, duy trì tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên cả ông T và bà H đều không quan tâm, không có biện pháp để hòa giải níu kéo, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Phiên tòa được mở lần thứ hai bà H tiếp tục vắng mặt là không có nguyện vọng đoàn tụ. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc thật sự cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T.
[2.2]. Về con chung: Ông T và bà H có 02 (hai) con chung Nguyễn Như Y, sinh ngày 26/10/2015 và Nguyễn Huỳnh Mỹ A, sinh ngày 25/4/2020 do ông T chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông T yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung sau ly hôn, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.
Cháu Như Ý có nguyện vọng sống cùng ông T. Bà H không tranh chấp quyền nuôi con. Xét điều kiện của ông T trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho hai con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T được chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung sau ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con, cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đây là quyền lợi của con chưa thành niên. Tuy nhiên, ông T có thu nhập từ việc mua bán đủ khả năng lo cho hai con chung, không yêu cầu bà H cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ông T phải tạo điều kiện cho bà H được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung. Ông T nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, vì lợi ích của con ông T, bà H được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Ông T không yêu cầu giải quyết. Bà H không có ý kiến về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử chưa giải quyết.
[3]. Về án phí: Ông T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Thanh T được ly hôn bà Huỳnh Thị Thu H.
- Về con chung: Ông T và bà H có hai con chung Nguyễn Như Y, sinh ngày 26/10/2015 và Nguyễn Huỳnh Mỹ A, sinh ngày 25/4/2020.
Ông T được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung sau khi ly hôn.
Bà H không phải cấp dưỡng nuôi hai con chung do ông T không yêu cầu.
Ông T phải tạo điều kiện cho bà H được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung. Ông T trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, vì lợi ích của con ông T, bà H được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chưa xem xét giải quyết.
- Về án phí: Ông Nguyễn Thanh T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001745, ngày 15/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Ông T đã nộp đủ tiền án phí.
- Quyền kháng cáo:
Ông T có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bà H không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi gởi:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Hoa |
Bản án số 95/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 95/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu củaông Nguyễn Thanh T được ly hôn bà Huỳnh Thị Thu H.
