Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/HS-ST

Ngày 31-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Ngọc Anh

Bà Nguyễn Thị Bích Lý

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thư- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 350/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn L, sinh ngày 15 tháng 5 năm 1999 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số A H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Đỗ Thị Á; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 28/11/2023; tạm giam ngày 04/12/2023; có mặt.
  2. Vũ L1, sinh ngày 20 tháng 4 năm 1987 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số G T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Phú N và bà Trịnh Thị G; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi hỏi nơi cư trú ngày 20/02/2024; ngày 13/3/2024 Công an quận K bắt tạm giữ, ngày 19/3/2024 chuyển tạm giam về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý; có mặt.

2

Bị hại:

  • - Anh Phạm Xuân Q, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số G N, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
  • - Chị Đỗ Thị Phương T, sinh năm 2002; nơi cư trú: Số A H, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 25/11/2023 Nguyễn Văn L đến nhà Vũ L1 chơi, sau đó rủ Vũ L1 đi trộm cắp xe đạp, Vũ L1 đồng ý. Nguyễn Văn L dẫn Vũ L1 đến trước cửa nhà của anh Phạm Xuân Q, sinh năm 1983, ở số G N, phường N, quận L, Hải Phòng. Tại đây Nguyễn Văn L chỉ cho Vũ L1 chiếc xe đạp địa hình màu đỏ đen, nhãn hiệu Trinx của anh Q đang dựng ở ngoài sân trước cửa nhà (xe không khóa), cả hai thống nhất cùng nhau lấy trộm chiếc xe này. Nguyễn Văn L mượn điện thoại Nokia màu đen của Vũ L1 giả vờ đang nói chuyện để đi lại quan sát, nhằm tránh bị người khác phát hiện. Thấy có người trước cửa nhà nên Nguyễn Văn L và Vũ L1 chưa thực hiện hành vi trộm cắp mà đi ra quán nước đầu ngõ S N ngồi chờ. Khoảng 15 phút sau, Nguyễn Văn L bảo Vũ L1 ngồi đợi để một mình Nguyễn Văn L vào trộm cắp xe. Nguyễn Văn L đi vào trong sân nhà anh Q, dùng hai tay nhấc chiếc xe đạp ra ngoài cổng, đặt xuống đường rồi ngồi lên xe đi ra ngõ. Khi đi qua quán nước, Nguyễn Văn L hẹn Vũ L1 gặp nhau ở cổng trường tiểu học T2, quận L, Hải Phòng. Sau đó Nguyễn Văn L và Vũ L1 mang xe đạp ra khu vực bờ hồ T bán xe cho hai người đàn ông (không rõ lai lịch địa chỉ) được 1.300.000 đồng, Nguyễn Văn L giữ lại 500.000 đồng ăn tiêu cá nhân hết, còn lại 800.000 đồng Nguyễn Văn L và Vũ L1 cùng nhau ăn tiêu hết.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày anh Phạm Xuân Q phát hiện mất chiếc xe đạp nên đến Công an phường N trình báo và giao nộp 01 USB chứa video ghi lại hình ảnh sự việc.

Kết luận định giá số 243/KL-HĐ ngày 18/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: 01 xe đạp thể thao địa hình, nhãn hiệu Trinx, màu đỏ đen, giá trị tài sản 2.833.000 đồng (hai triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng).

Vụ thứ hai: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 26/11/2023, Nguyễn Văn L đi bộ một mình trong khu vực ngõ N, phường N, quận L, Hải Phòng để xem ai có sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đến cửa sau nhà chị Đỗ Thị Phương T, sinh năm 2002, ở số A H, thấy nhà tắt điện, không có ai xung quanh. Nguyễn Văn L dùng tay phải thò qua ô cửa mở chốt, giật mạnh làm cửa sắt bị mở ra. Nguyễn Văn L đi vào tầng

3

01 nhà chị T lục lọi nhưng không lấy được gì thì đi lên tầng 02 phát hiện thấy 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng của chị T để trong hộp đựng đồ trên bàn, Nguyễn Văn L lấy điện thoại đi về nhà. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 27/11/2023 Nguyễn Văn L cầm điện thoại đến cửa hàng sửa chữa điện thoại ở số A T, phường L, quận K, Hải Phòng do anh Vũ Văn T1, sinh năm 1984, trú tại: số E H, phường L, quận K, Hải Phòng là chủ cửa hàng bán điện thoại lấy 900.000 đồng ăn tiêu hết.

Sau khi phát hiện bị mất điện thoại, chị T đến Công an phường N trình báo và giao nộp 01 USB chứa video ghi lại hình ảnh sự việc.

Khoảng 14 giờ ngày 27/11/2023 Nguyễn Văn L đang đi trên đường Đ, phường N, quận L, Hải phòng thì bị Công an phường N đưa về trụ sở làm việc. Nguyễn Văn L giao nộp 01 áo thể thao dài tay màu đen kẻ sọc cánh tay, in hình chữ GC; 01 quần thể thao tối màu kẻ caro in hình chữ LV. Ông Nguyễn Văn C (bố của Nguyễn Văn L) đã giao nộp 01 áo thể thao tối màu kẻ caro in hình chữ LV là những trang phục Nguyễn Văn L mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp xe đạp của anh Q và điện thoại di động của chị T.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn L đã thừa nhận thực hiện hai vụ trộm cắp như trên. Ngoài ra Nguyễn Văn L khai: Trước khi trộm cắp xe đạp của anh Q, Nguyễn Văn L và Vũ L1 đã bàn bạc và cả 2 đều thống nhất việc trộm cắp xe. Sau đó Nguyễn Văn L mượn điện thoại của Vũ L1 giả vờ đang nói chuyện điện thoại để xem có ai để ý không. Khi vào nhà anh Q lấy xe đạp, vì sợ đi 2 người sẽ bị phát hiện, nên Nguyễn Văn L bảo Vũ L1 ngồi ở quán nước đầu ngõ E N chờ, nếu bị phát hiện thì Vũ L1 hỗ trợ. Sau khi lấy được xe thì Nguyễn Văn L và Vũ L1 mang đi bán lấy tiền cùng nhau ăn tiêu.

Ngày 27/11/2023 anh Vũ Văn T1 đến Công an phường N giao nộp 01 điện thoại Iphone màu trắng đã mua của Nguyễn Văn L. Anh T1 khai: khi bán điện thoại, Nguyễn Văn L nói điện thoại của anh trai cho không dùng nữa nên bán lại cho anh T1. Anh T1 không biết tài sản do Nguyễn Văn L trộm cắp mà có. Anh T1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường.

Tại Kết luận định giá số 113/KL-HĐ ngày 28/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: điện thoại đã qua sử dụng, nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, giá trị tài sản 6.367.000 đồng (sáu triệu ba trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

Ngày 20/12/2023, Vũ L1 bị Cơ quan điều tra Công an quận L triệu tập lên làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Vũ L1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên và giao nộp 01 điện thoại N1 màu đen (là chiếc điện thoại Nguyễn Văn L mượn để giả vờ nói chuyện điện thoại khi đứng ở trước cửa nhà của anh Q). Ngoài ra Vũ L1 khai nhận có bàn bạc với Nguyễn Văn L việc lấy trộm xe đạp của anh Q. Trước khi lấy xe, Vũ L1 cho Nguyễn Văn L mượn điện thoại di động để Nguyễn

4

Văn L rình mò trộm cắp xe đạp. Sau đó Nguyễn Văn L bảo Vũ L1 ngồi ở quán nước đợi thì Vũ L1 hiểu là chờ Nguyễn Văn L vào trộm cắp xe đạp mang ra để cả hai cùng mang đi bán lấy tiền tiêu.

Tại bản Cáo trạng số 66/CT-VKSLC ngày 19/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố Nguyễn Văn L và Vũ L1 đồng phạm tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đối với anh Vũ Văn T1 là người mua điện thoại của Nguyễn Văn L nhưng không biết tài sản do Nguyễn Văn L trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra Công an quận L xử lý.

Đối với 02 người nam giới mua xe đạp của Nguyễn Văn L và Vũ L1, khi bán xe, cả hai không nói xe trộm cắp mà có và chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra Công an quận L có căn cứ để điều tra làm rõ.

Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu. Anh Phạm Xuân Q đề nghị Toà án buộc các bị cáo bồi thường cho anh toàn bộ khoản tiền mua chiếc xe đã bị các bị cáo đã chiếm đoạt và hiện không thu hồi được. Các bị cáo nhất trí bồi thường cho anh Q số tiền 6.800.000đ (sáu triệu tám trăm nghìn đồng).

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Văn L và Vũ L1, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn L mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s, i, h khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Vũ L1 mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

Chị Đỗ Thị Phương T đã nhận lại điện thoại và không còn yêu cầu gì khác; anh Vũ Văn T1 không yêu cầu trả lại số tiền đã mua điện thoại. Vì vậy đại diện Viện kiểm sát không đề nghị xem xét.

Anh Phạm Xuân Q yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn L và Vũ L1 bồi thường 6.800.000 đồng là số tiền anh bỏ ra mua xe đạp, các bị cáo cùng nhất trí bồi thường nên cần buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho anh Q số tiền trên.

Về xử lý vật chứng:

5

Đối với 01 điện thoại Nokia màu đen không có nắp mặt sau, IMEI: 355352104/686440/7 xét là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng để phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước, đối với 01 áo thể thao dài tay màu đen có kẻ sọc cánh tay, in hình chữ GC; 01 quần thể thao tối màu có kẻ caro in hình chữ LV, 01 áo thể thao tối màu có kẻ caro in hình chữ LV xét không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, các bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Khoảng 18 giờ ngày 25/11/2023 tại số G N, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn L cùng Vũ L1 đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe đạp thể thao địa hình, trị giá 2.833.000 đồng của anh Phạm Xuân Q. Ngoài ra, vào khoảng 23 giờ 38 phút ngày 26/11/2023 tại số A H, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; Nguyễn Văn L còn thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone 11, trị giá 6.367.000 đồng của chị Đỗ Thị Phương T. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn L trộm cắp là 9.200.000 đồng (chín triệu hai trăm nghìn đồng), trị giá tài sản Vũ L1 trộm cắp là 2.833.000 đồng (hai triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng). Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Nguyễn Văn L và Vũ L1 về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

- Về vai trò trong đồng phạm:

6

[3] Về vai trò của các bị cáo trong vụ trộm cắp tài sản của anh Phạm Xuân Q: Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe đạp tại sân nhà anh Q, Nguyễn Văn L đã rủ Vũ L1 đi trộm cắp xe đạp và được Vũ L1 đồng ý. Nguyễn Văn L là người trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, Vũ L1 có nhiệm vụ cảnh giới, đưa điện thoại của mình cho Nguyễn Văn L để Nguyễn Văn L giả vờ nghe điện thoại đánh lạc hướng chú ý của người khác. Như vậy, hành vi của các bị cáo có tính chất đồng phạm giản đơn. Nguyễn Văn L là người khởi xướng và thực hành tích cực, Vũ L1 là người giúp sức tích cực. Vai trò của Nguyễn Văn L cao hơn vai trò của Vũ L1 nên mức án của Nguyễn Văn L cao hơn mức án của Vũ L1.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, gây mất trị an xã hội nên cần phải xử lý bằng bản án nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[5] Bị cáo Vũ L1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn L hai lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, mỗi hành vi đều thoã mãn cấu thành của tội Trộm cắp tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[6] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cả hai bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đối với bị cáo Vũ L1 chưa có tiền án, tiền sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tài sản các bị cáo chiếm đoạt của bị hại là anh Phạm Xuân Q là 01 xe đạp thể thao địa hình, nhãn hiệu Trinx, màu đỏ đen, theo Kết luận định giá số 243/KL-HĐ ngày 18/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận có giá trị là 2.833.000 đồng (hai triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng). Tuy nhiên, theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà, anh Q trình bày chiếc xe đạp này anh mới mua từ ngày 17/10/2023 với số tiền 6.800.000 đồng, đến ngày 25/11/2023 thì bị các bị cáo chiếm đoạt và hiện không thu hồi được. Hành vi của các bị cáo trên thực tế đã gây thiệt hại cho anh Q cả về giá trị và giá trị sử dụng của chiếc xe đạp. Do vậy, bị cáo Vũ L1 không được hưởng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 như đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

[7] Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò đồng phạm, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt

7

các bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự mới đủ tác dụng răn đe, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn L cao hơn hình phạt của bị cáo Vũ L1 là phù hợp với quy định tại Điều 58 Bộ luật Hình sự.

- Về trách nhiệm dân sự:

[8] Bị hại Đỗ Thị Phương T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không xét.

[9] Bị hại Phạm Xuân Q yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn L và Vũ L1 bồi thường 6.800.000 đồng tiền mua chiếc xe bị mất. Tại phiên toà, các bị cáo nhất trí bồi thường cho anh Q toàn bộ số tiền trên. Do vậy, cần buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho anh Q số tiền 6.800.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng:

[10] Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xét thấy: Đối với 01 điện thoại Nokia màu đen không có nắp mặt sau, IMEI: 355352104/686440/7 là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; đối với 01 áo thể thao dài tay màu đen có kẻ sọc cánh tay, in hình chữ GC; 01 quần thể thao tối màu có kẻ caro in hình chữ LV, 01 áo thể thao tối màu có kẻ caro in hình chữ LV là vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[11] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên xét các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[13] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, các bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 11 năm 2023.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ L1 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 3 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Nokia màu đen không có nắp mặt sau, IMEI: 355352104/686440/7 đã qua sử dụng, tịch thu tiêu hủy 01 áo thể thao dài tay màu đen có kẻ sọc cánh tay, in hình chữ GC; 01 quần thể thao tối màu có kẻ caro in hình chữ LV, 01 áo thể thao tối màu có kẻ caro in hình chữ LV (Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu vật chứng ngày 20/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn LVũ L1 phải liên đới bồi thường thiệt hại cho anh Phạm Xuân Q số tiền 6.800.000đ. Chia kỉ phần mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh Q số tiền là 3.400.000₫ (Ba triệu bốn trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, nếu các bị cáo chưa thi hành xong khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của khoản tiền chưa thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Văn LVũ L1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại Phạm Xuân Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại Đỗ Thị Phương T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND thành phố;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Công an quận Lê Chân;
  • - Phòng PV06; PC10;
  • - THA hình sự;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Sở tư pháp;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thùy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 95/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L, Vũ L Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger