TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
1
Bản án số: 95/2024/HNGĐ-ST
Ngày 29 - 9 - 2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Trương Trần Thanh Thư
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Lê Huỳnh Sinh
- 2. Bà Bùi Thị Út
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hoàng Vân– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Tường V – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 446/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 61/2024/QÐST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim B, sinh năm 1995; (có mặt)
Địa chỉ: Khu phố A, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Bị đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1991; (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố E, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn Khởi kiện, trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Lê Thị Kim B trình bày:
Bà và ông Trần Văn C tiến đến hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, vào ngày 26/5/2014. Hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống chung với nhau tại nhà chồng ở Khu phố E, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Quá trình chung sống, lúc đầu vợ chồng cũng hạnh phúc nhưng từ năm 2021 đến nay, nảy sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã, ông C không đi làm chỉ ở nhà, còn thường xuyên chửi, đòi đánh bà, vợ chồng không có tiếng nói chung. Không thể chịu đựng được nên khoảng tháng 01/2024, bà và con về sống cùng với ba mẹ bà tại Khu phố A, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Thời gian sống ly thân, vợ chồng bỏ mặc nhau, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai, cũng không ai đặt vấn đề quay trở về chung sống. Nay tình cảm vợ chồng đã không còn không thể tiếp tục hôn nhân nên bà làm đơn đề nghị ly hôn với ông Trần Văn C.
Bà và ông Trần Văn C có một người con chung tên là Trần Lê Bảo A, sinh ngày 16/6/2016. Cháu A đang sống cùng bà. Nếu ly hôn, bà đề nghị được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, bà đang bán hàng, thu nhập khoảng 7.000.000 đồng/tháng, đủ để lo cho con.
Về tài sản chung, nợ chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Bị đơn vắng mặt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang- T, tỉnh Ninh Thuận phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án.
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án
Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án:
- Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho bà Lê Thị Kim B được ly hôn với ông Trần Văn C. Về con chung: Giao con chung là Trần Lê Bảo A, sinh ngày 16/6/2016 cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng. Ông C không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản, nợ chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bà Lê Thị Kim B yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn C. Ông C cư trú tại Khu phố E, phường Đ, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang- T, tỉnh Ninh Thuận.
[1.2] Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho ông C. Ông C vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 điều 227 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về Quan hệ hôn nhân:
[2.1] Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Kim B và ông Trần Văn C là hoàn toàn tự nguyện, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy Chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Quá trình chung sống, bà B cho rằng vợ chồng không hạnh phúc, xảy ra nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vả, vợ chồng không có tiếng nói chung. Từ khoảng tháng 01/2024, bà và ông C đã tự sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai, cũng không ai đặt vấn đề quay trở về chung sống. Nay tình cảm không còn, không thể quay trở về chung sống nên bà B yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn.
[2.2] Tại tờ khai xác nhận tình trạng hôn nhân ngày 23/8/2024, chính quyền địa phương xác định: tình trạng hôn nhân giữa bà Lê Thị Kim B và ông Trần Văn C có mâu thuẫn, bất hòa, không có tiếng nói chung. Quá trình tố tụng, ông C không có ý kiến đối với yêu cầu của bà B, cũng không phản đối chứng cứ do bà B cung cấp (khoản 2 điều 92 của BLTTDS). Tại phiên tòa, bà B xác định bà không còn tình cảm vợ chồng với ông C nữa, nếu quay về chung sống thì cũng không hạnh phúc, mâu thuẫn sẽ ngày một trầm trọng hơn nên bà yêu cầu ly hôn với ông C.
[2.4] Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân của bà B, ông C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cho bà B ly hôn với ông C.
[3] Về nuôi con chung:
[3.1] Bà B và ông C có một con chung tên Trần Lê Bảo A, sinh ngày 16/6/2016. Cháu A hiện đang sống cùng bà B. Xét thấy: Từ khi bà B, ông C sống ly thân nhau, cháu A do bà B trực tiếp chăm sóc và nguyện vọng của cháu A được sống cùng mẹ. Để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của trẻ, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà B, giao cho bà B trực tiếp nuôi hai con chung.
[3.2] Ông C không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà B không yêu cầu.
[4] Các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang- T, tỉnh Ninh Thuận là phù hợp nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Q, nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 2 Điều 227; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Kim B đối với bị đơn ông Trần Văn C.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kim B được ly hôn với ông Trần Văn C.
2. Về con chung:
Giao cho bà Lê Thị Kim B có quyền và nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Lê Bảo A, sinh ngày 16/6/2016.
Ông Trần Văn C không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Bà Lê Thị Kim B phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí Toà án số 0002956 ngày 22-7-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang- T, tỉnh Ninh Thuận. Bà Lê Thị Kim B đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai, có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 29-9-2024); vắng mặt bị đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trương Trần Thanh Thư |
Bản án số 95/2024/HNGĐ-ST ngày 29/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 95/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
