Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/HNGĐ-ST

Ngày 29 tháng 8 năm 2024

Về việc: Ly hôn, tranh chấp về

nuôi con khi ly hôn

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Minh và ông Trương Xuân Vũ

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Ngọc Triều – Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái: Ông Lý Văn Tầm – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 149/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 62/2024/QÐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Tạ Thị T, sinh năm 1985. Vắng mặt, có lý do.

Bị đơn: Anh Trương Văn B, sinh năm 1981. Vắng mặt, không có lý do.

Cùng địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu có trong hồ sơ nguyên đơn chị Tạ Thị T trình bày:

Chị và anh Trương Văn B đăng ký kết hôn ngày 06 tháng 10 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nên vợ chồng thường sảy ra tranh cãi. Anh B không có trách nhiệm với gia đình, còn chửi và đánh chị. Hiện chị và anh B đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Văn B.

Về nuôi con: Chị và anh B có 02 con là Trương Thị H, sinh ngày 11 tháng 10 năm 2008 và Trương Bảo O, sinh ngày 05 tháng 9 năm 2016, hiện đang ở với chị.

Chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 2 con và chị không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn anh Trương Văn B vắng mặt không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tạ Thị T.

Toà án tiến hành xác minh tại nơi cư trú của đương sự xác định: Anh Trương Văn B có đăng ký thường trú và có cư trú tại thôn K, xã T, huyện L; quá trình chung sống, chị T và anh B có phát sinh nhiều mâu thuẫn hiện anh chị đang sống ly thân. Chị T có nơi ở ổn định và có thu nhập đảm bảo việc nuôi con, hai con hiện đang sống ổn định cùng chị T.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70,72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 56, 81,82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Tạ Thị T được ly hôn với anh Trương Văn B. Về nuôi con: Giao cho chị Tạ Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trương Thị H, sinh ngày 11 tháng 10 năm 2008 và Trương Bảo O, sinh ngày 05 tháng 9 năm 2016 cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí: Chị Tạ Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Về quyền kháng cáo: Chị T và anh B có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án về hôn nhân và gia đình, bị đơn anh Trương Văn B có hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

Nguyên đơn chị Tạ Thị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Trương Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vắng mặt các đương sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Tạ Thị T và anh Trương Văn B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Theo chị T, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, anh B không có trách nhiệm với gia đình nên vợ chồng thường sảy ra tranh cãi, đánh nhau. Hiện anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Tòa án đã triệu tập anh B nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do, không có ý kiến với yêu cầu khởi kiện của chị T. Qua đó cho thấy, anh B không có thiện chí hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Toà án xác minh tại nơi cư trú của bị đơn xác định chị T và anh B có nhiều mâu thuẫn, hiện đang sống ly thân. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh B đã trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ, cần chấp nhận.

[3] Về nuôi con: Chị T và anh B có 02 con là Trương Thị H, sinh ngày 11 tháng 10 năm 2008 và Trương Bảo O, sinh ngày 05 tháng 9 năm 2016, hiện đang ở ổn định với chị T và các con đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Chị T yêu cầu Toà án giải quyết cho chị tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 2 con và chị không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy: Chị T yêu cầu Toà án giải quyết cho chị trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 2 con là chính đáng, phù hợp tình hình thực tế và phù hợp với quy định pháp luật. Cháu H và cháu O đang sống ổn định cùng chị T và đều có nguyện vọng ở với mẹ, anh B không có ý kiến về việc nuôi con, chị T có nơi ở ổn định và có điều kiện đảm bảo việc nuôi con. Do đó, giao cháu H và cháu O cho chị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Do nguyên đơn không yêu cầu nên Toà án không xem xét

[4] Về chia tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh B không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn; Chị T và anh B có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 238, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Chị Tạ Thị T được ly hôn anh Trương Văn B.

2. Về nuôi con: Giao cho chị Tạ Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trương Thị H, sinh ngày 11 tháng 10 năm 2008 và Trương Bảo O, sinh ngày 05 tháng 9 năm 2016 cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Anh Trương Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Tạ Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo T lai thu số AA/2023/0001878 ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Tạ Thị T và anh Trương Văn B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bán án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 - Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND huyện Lục Yên;
  • - Chi cục THADS H. Lục Yên;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Trung Tâm;
  • - Lưu: Hồ sơ; TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Hà Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 95/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger