Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 95/2023/HS-ST

Ngày: 28/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Năm.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Trần Văn Nam

Ông Trần Hữu Trung

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hùng - Thư ký tòa án nhân dân thị xã Đông Triều.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tham gia phiên tòa: Ông Tống Duy Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 28/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2023/HS-ST ngày 27/10/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2023/QĐXXST-HS ngày 15/11/2023 đối với bị cáo: Nguyễn Thế N - tên gọi khác: không; sinh ngày: 28/9/1990 tại thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương; nơi thường trú: khu ĐT, phường HT, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang S và bà Lê Thị T; bị cáo có vợ là Chu Thị T, và 03 con, lớn sinh năm 2015, nhở sinh năm 2017; tiền án: ngày 01/9/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt 08 (Tám) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", ngày 18/01/2022 chấp hành xong bản án; tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 01/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đông Triều; có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến:

Ông Lê Văn H, sinh năm 1973. Địa chỉ: thôn TT, xã BD, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Ông Nguyễn Tiến T, sinh năm 1962. Địa chỉ: thôn TT, xã BD, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Những người chứng kiến có tên trên cùng vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 01/8/2023, tại thôn TT, xã BD, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, qua công tác tuần tra Công an thị xã Đông Triều phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Thế N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Nam 01 (một) túi nilon kích thước (1,5x02)cm chứa chất tinh thể màu trắng.

Tại Bản kết luận giám định số 1124/KL-KTHS ngày 07/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật thu giữ của Nguyễn Thế N gửi giám định là ma túy; Loại: Methamphetamine; khối lượng: 0,296 (không phây hai chín sáu gam).

(Methamphetamine nằm trong Danh mục IIC, STT:247 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ Ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất).

Tại phiên tòa, Nguyễn Thế N khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Về nguồn gốc ma túy, N khai: Tối ngày 01/8/2023 N thuê một xe mô tô của một người đàn ông không quen biết chở đi từ nhà đến khu vực phường SĐ, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) nhờ mua hộ 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) ma túy, loại Methamphetamine, một lúc sau người đàn ông này quay lại đưa cho N 01 (một) túi nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Sau đó N cầm túi nilon chứa ma túy trong lòng bàn tay phải rồi thuê xe mô tô chở đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn TT, xã BD, thị xã Đông Triều, Nam xuống xe mô tô và đang đi bộ đi tìm nơi sử dụng ma túy thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Những người chứng kiến gồm các anh Lê Văn H, Nguyễn Tiến T cùng có lời khai xác nhận việc chứng kiến cơ quan điều tra khám xét và thu giữ ma túy do Nguyễn Thế N tàng trữ.

Tại cáo trạng số 91/CT-VKSĐT ngày 26/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố bị cáo Nguyễn Thế N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự

Đại diện Viện kiểm sát căn cứ khoản điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thế N từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù kể từ ngày bắt giữ (01/8/2023).

Về vật chứng: căn cứ điểm c khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1124/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định;

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu xám, gắn sim số 0395432921.

Bị cáo không tranh luận, thừa nhận luận tội là đúng.

Thực hiện quyền nói lời sau cùng, bị cáo nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố và xét xử đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; không bị khiếu nại, tố cáo nên được Hội đồng xét xử đánh giá là hợp pháp.

    Những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập cũng như do người tham gia tố tụng cung cấp bảo đảm đúng quy định theo Bộ luật Tố tụng hình sự, được Hội đồng xét xử đánh giá là hợp pháp.

  2. Hành vi phạm tội của bị cáo xác định được như sau:

    Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 01/8/2023, tại thôn TT, xã BD, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Thế N có hành vi tàng trữ trái phép 0,296gam (không phẩy hai chín sáu gam) ma túy, loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an thị xã Đông Triều phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

  3. Hành vi cất giấu 0,296gam (không phẩy hai chín sáu gam) ma túy, loại Methamphetamine, để sử dụng của bị cáo Nguyễn Thế N là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước. Bị cáo là người thành niên, có đủ khả năng nhận thức, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, đối chiếu với các yếu tố cấu thành tội phạm đủ căn cứ khẳng định Nguyễn Thế N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
  4. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị áp dụng điều luật cũng như mức hình phạt đối với bị cáo; Hội đồng xét xử đánh giá cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều là có căn cứ, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận phân tích đánh giá trong luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

    Bị cáo nhận tội; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác như biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định, sơ đồ hiện trường, biên bản khám xét nên bị cáo được đánh giá là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

  5. Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Thế N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  6. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội khi trước đó ngày 01/9/2021 đã bị Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 18/01/2022 chấp hành xong bản án; chưa được xóa án tích lại phạm tội mới nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  7. Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước và gây mất an ninh trật tự nên cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình nghị án, Hội đồng xét xử cũng xem giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của nhà nước và pháp luật.
  8. Vật chứng vụ án:

    Cần tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1124/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh chưa mẫu vật hoàn lại sau giám định;

    Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu xám, gắn sim số 0395432921.

  9. Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng; xét thấy bị cáo không có tài sản, công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng.
  10. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Thế N quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có căn cứ để xử lý.
  11. Bị cáo có quyền kháng cáo trong phạm vi và thời hạn luật định.
  12. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thế N 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù kể từ ngày bắt giữ (01/8/2023).

Về vật chứng:

Áp dụng: khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1124/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh chưa mẫu vật hoàn lại sau giám định;

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu xám, gắn sim số 0395432921.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều số 20 ngày 26/10/2023)

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Thế N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 332; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thị xã Đông Triều;
  • - CQCSĐT CA thị xã Đông Triều;
  • - CQ THA HS CA thị xã Đông Triều
  • - Chi cục THADS thị xã Đông Triều;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh
  • - Nhà tạm giữ Công an thị xã Đông Triều
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh
  • - Lưu hồ sơ + THA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Văn Năm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 95/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thế N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger