|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 95/2024/HS-ST Ngày 28/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Phong
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Giai Thưởng
Bà Bùi Thị Lợi
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải – Thư ký
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thuỷ- Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 98/2024/TLHS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST ngày 15/8/2024 đối với các bị cáo:
1. Vũ Văn C, sinh năm 1988
HKTT: thôn T, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Vũ Văn H, sinh năm: 1964 và bà Lê Thị N, sinh năm 1959; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị P (đã ly hôn). Con có 01 con, sinh năm 2015.
Tiền án: Tại bản án số: 169/2021/HSST ngày 30/6/2021 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, án phí HSST 200.000 đồng. Ngày 12/4/2022, chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Ngày 18/5/2022, đã nộp án phí HSST. Đến nay chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.
2. Đỗ Minh T, sinh năm 1998
HKTT: Khu phố D, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Đỗ Trọng Đ, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1979; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Hoàng Thị K, sinh năm 2001. Con: Có 03 con lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã T, Bắc Ninh. Có mặt.
3. Đỗ Tiến T1, sinh năm 1993
HKTT: Xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo T; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Đỗ Văn Đ1, sinh năm 1971 và bà Đỗ Thị N1, sinh năm 1975; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Đỗ Thị N2, sinh năm 1994 (đã ly hôn). Con có 01 con, sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã T. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 05 giờ ngày 17/3/2024, tại phòng trọ của quán B ở khu phố K, phường N do chị Nguyễn Thị N3, sinh năm 1987 trú tại khu phố T, phường G, thị xã T làm chủ, lực lượng công an thị xã T kiểm tra, phát hiện bắt giữ 03 đối tượng vừa thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đang thực hiện hành vi chia nhỏ số ma túy ra để bán gồm Vũ Văn C, sinh năm 1988 trú tại thôn T, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội; Đỗ Minh T, sinh năm 1998 trú tại khu phố D, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh và Đỗ Tiến T1, sinh năm 1993 trú tại xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Vật chứng thu giữ gồm:
- T2 tại trên mặt chiếu nhựa được trải trên các tấm nhựa kê giáp tường phía Đông Nam có:
- + 01 đĩa nhựa, trên đĩa nhựa có 04 mảnh giấy bạc được gấp thành hình máng, trên các máng giấy bạc đều bám dính chất màu nâu đen được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1.
- + 01 túi nilon màu trắng, viền kẻ màu đỏ trong có chứa chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2.
- + 01 túi nilon màu trắng, viền kẻ màu xanh bên trong có 09 viên nén hình tròn màu hồng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M3.
- + Tại vị trí trước mặt C ngồi có 04 gói được bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng, mở ra bên trong mỗi gói đều chứa 01 túi nilon màu trắng, viền kẻ màu đỏ, trong chứa chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M4. 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 gói bọc ngoài bằng mảnh vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, mở ra bên trong có 01 gói bọc ngoài bằng mảnh giấy bạc màu trắng, trong có 01 túi nilon màu trắng, viền kẻ màu đỏ, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và chất màu hồng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M5.
- + 02 túi nilon màu trắng, viền kẻ màu đỏ bên trong mỗi túi đều có 01 gói được bọc ngoài bằng mảnh giấy màu vàng, trong có 01 túi nilon màu trắng viền kẻ màu đỏ chứa chất tinh thể màu trắng và chất màu hồng được niêm phong trong phong bì thư theo quy định ký hiệu M6.
- + 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy được làm từ 02 vỏ lon bia S gắn chồng lên nhau, trên thành lon bia phía trên có gắn 01 ống thủy tinh. Tại vị trí trên nắp vỏ lon bia phía trên gắn ống hút nhựa màu trắng, đỏ, tím, vàng; 01 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 cuộn giấy bạc màu trắng; 06 bật lửa gas, trong đó 04 bật lửa màu đỏ, 01 bật lửa màu trắng, 01 bật lửa màu xanh; 01 đoạn ống hút màu trắng; 01 túi nilon màu trắng bên trong có 20 túi nilon màu trắng, viền kẻ màu đỏ; Tại túi áo khoác phía trong, bên trái của Vũ Văn C có 390.000 đồng; Đỗ Tiến T1 tự giác giao nộp 01 điện thoại Iphone 6 màu trắng, gắn sim số 0777.811.893; Vũ Văn C tự giác giao nộp 01 điện thoại Iphone XR màu đỏ; 01 điện thoại Oppo A57 gắn sim số 0382.348.966; Đỗ Minh T tự giác giao nộp 01 điện thoại I phone XS Max gắn sim số 0965465442.
Sau khi bắt quả tang, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra nước tiểu của T, C, T1 kết quả: mẫu nước tiểu của T, C, T1 có dương tính với ma túy Methamphetamine.
Ngày 17/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T ra Quyết định trưng cầu giám định số 526 trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh B giám định mẫu vật được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1, M2, M3, M4, M5, M6.
Tại bản kết luận giám định số: 756/KL – KTHS ngày 19/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
“Chất màu nâu đen bám dính trên 04 mảnh giấy bạc được gấp thành hình máng bên trong phong bì thư M1 gửi giám định là ma tuý; Là ma tuý Methamphetamine; Không xác định được khối lượng.
- Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư M2 gửi giám định có khối lượng là 0,4611 gam; là ma tuý; Loại ma tuý Methamphetamine.
- 09 viên nén hình tròn màu hồng bên trong phong bì thư M3 gửi giám định có khối lượng là 0,8944 gam; là ma tuý; Loại ma tuý Methamphetamine.
- Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư M4 gửi giám định có khối lượng là 0,5084 gam; là ma tuý; Loại ma tuý Methamphetamine.
- Chất tinh thể màu trắng và chất màu hồng bên trong phong bì thư M5 gửi giám định có khối lượng là 0,1607 gam; là ma tuý; Loại ma tuý Methamphetamine.
- Chất tinh thể màu trắng, màu hồng bên trong phong bì thư M6 gửi giám định có khối lượng là 0,2645 gam; là ma tuý; Loại ma tuý Methamphetamine.”
Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐCP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Với nội dung trên, bản cáo trạng số 98/CT-VKS –TT ngày 09/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành đã truy tố bị cáo Đỗ Minh T, Vũ Văn C và Đỗ Tiến T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai nhận:
C, T, và T1 có quan hệ là bạn bè xã hội, cả ba đều là người sử dụng ma tuý đá, ma túy ngựa. Khoảng 17 giờ ngày 16/3/2024, C đến phòng ngủ của T tại quán B ở khu phố K, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh để chơi thì gặp T1 tại đây. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, C nhờ T đi mua hộ C 2.500.000 đồng tiền ma túy đá và ma túy ngựa về để bán và cùng sử dụng T đồng ý. C đưa cho T 400.000 đồng tiền mặt còn lại sẽ chuyển khoản 2.100.000 đồng sẽ chuyển vào tài khoản của T sau. T rủ T1 đi mua ma túy cùng, T1 đồng ý. T, T1 biết việc C nhờ T đi mua ma túy về để cùng sử dụng và để C bán lẻ kiếm tiền lời. T thuê taxi của một người không quen biết và cùng T1 đi mua ma túy.
Qua bạn bè xã hội T biết được một người tên Đ2, ở xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh có bán ma túy đá, ma túy ngựa. Trên đường đi, T sử dụng Zalo có tên hiển thị “Zìnnnn Zinnnn” đăng ký bằng số điện thoại 0965.465.xxx gọi điện vào tài khoản Zalo của Đ2 có tên hiển thị là “Lú Lẫn” để hỏi mua ma túy, Đ2 bảo T đỗ xe ở trước cổng khu đô thị L thuộc phường H, thị xã T để Đ2 sang đón. Do T bảo tài khoản của mình đang bị lỗi nên C sử dụng số tài khoản 0541000232299 của mình mở tại ngân hàng V chuyển số tiền 2.100.000 đồng vào số tài khoản 101.6868.359 của T1 mở tại ngân hàng V. Khi đến trước cổng khu đô thị L, T bảo người lái taxi dừng xe lại đứng chờ. Khoảng 05 phút sau, Đ2 đi xe ôtô (T không nhớ loại xe ô tô gì, biển kiểm soát là bao nhiêu) đến đón T đi sang nhà Đ2, còn T1 ở lại xe taxi đợi T. Tại nhà Đ2, T bảo Đ2 bán cho 02 gam ma túy đá và 10 viên ma túy ngựa, Đ2 đồng ý bán và nói giá là 2.000.000 đồng. T nhắn tin Z vào tài khoản Zalo của T1 có tên hiển thị “Đỗ TI” để bảo T1 chuyển khoản số tiền 1.600.000 đồng đến số tài khoản Ngân hàng A có số 0825982005 để T mua ma túy. T1 dùng số tài khoản 101.6868.359 của mình mở tại Ngân hàng V chuyển số tiền 1.600.000 đồng đến số tài khoản 0825982005 mở tại Ngân hàng A để T mua ma túy, đồng thời T đưa cho Đ2 400.000 đồng tiền mặt, tổng số tiền
T trả cho Đ2 là 2.000.000 đồng. Đ2 đưa cho T 01 túi nilon màu trắng có viền kẻ màu đỏ trong có 10 viên nén màu hồng, 01 túi nilon màu trắng, viền kẻ màu đỏ trong có chất tinh thể màu trắng, 01 túi ni lon màu trắng bên trong có chứa các túi nilon nhỏ có viền kẻ màu đỏ để chia ma túy. Sau đó Đ2 lái xe ô tô của Đ2 chở T quay lại cổng khu đô thị L. T cầm 02 túi ma túy đi lên xe taxi T1 ngồi chờ và đi về phòng trọ của T. Số tiền 500.000 đồng C đưa còn lại T trả tiền taxi.
Khi về đến cửa phòng trọ, T đưa cho T1 cầm 02 túi ma túy đá, ma tuý ngựa vừa mua được và 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa các túi nilon nhỏ, T1 cầm vào phòng trọ của T, còn T đi chơi. Toản cất giấu số ma túy vào hộp giấy ở góc phòng ngủ rồi T1 nằm ngủ trên đệm ở phòng ngủ. Đến khoảng 02 giờ ngày 17/3/2024, T1 đang ngủ thì C đến hỏi T1 “có đồ đây không?” tức hỏi ma túy đâu. T1 không biết đưa ma túy đá, ma túy ngựa cho C như thế nào nên T1 gọi điện Z cho T hỏi. T nhắn tin zalo cho C là “mua được 05 viên ma túy ngựa và 02 gam ma túy đá”.
Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, khi T, T1 về phòng ngủ thì thấy C đang sử dụng ma túy đá, ngựa. C nhìn thấy ở trên chiếu trong phòng ngủ của T có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 cuộn giấy bạc màu trắng nên C xé một mảnh giấy bạc rồi gấp thành máng và đổ ma túy đá ra, rồi lấy bật lửa gas đốt nóng dưới máng và sử dụng ma túy. C bảo T và T1 “chơi đi” tức C mời T và T1 sử dụng ma túy thì T và T1 đồng ý. C lấy túi nilon màu trắng bên trong có chứa ma túy đá ở trên chiếu trước mặt C đưa cho T để T sử dụng. T cầm túi ma túy Đ3 và hỏi T1 túi ma túy ngựa đâu thì T1 lấy 01 túi nilon màu trắng có viền kẻ màu đỏ trong có 10 viên ma túy ngựa đưa cho T, T lấy 01 viên trong túi ra và lấy mảnh giấy bạc vặn thành máng rồi để viên ma túy ngựa lên máng giấy bạc rồi cầm túi ma túy đá đổ một phần lên máng giấy bạc và dùng bật lửa hơ dưới máng giấy bạc cho ma túy đá và ma túy ngựa tan chảy hòa quyện với nhau và bốc khói rồi dùng bộ dụng cụ để hút. Sau khi T sử dụng xong thì T mời T1 sử dụng ma túy. T1 đồng ý. T dùng bật lửa hơ dưới máng giấy bạc vừa sử dụng cho ma túy đá và ma túy ngựa tan chảy hòa quyện với nhau và bốc khói để cho T1 và C hít. T và T1 sử dụng ma túy xong thì cả hai nằm ra đệm bên cạnh để nghỉ. Khoảng 5 phút sau, C ngồi chia túi ma túy đá ra các túi nilon nhỏ để bán lẻ kiếm tiền lời, C hỏi T “có cân tiểu ly không”, T bảo “không có cân, để em chia cho” và ngồi dậy chia ma túy giúp C, T chia ma túy ra các túi nilon nhỏ được 06 túi ma túy, rồi đưa lại cho C. C bọc ngoài 06 túi nilon chứa ma túy bằng giấy bạc màu trắng. Khi C và T vừa chia xong số ma túy để bán thì bị bắt quả tang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 98/CT-VKS –TT ngày 09/8/2024. Trong phần luận tội đã phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đỗ Minh T, Vũ Văn C và Đỗ Tiến T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 và khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 (đối với bị cáo T1, T) Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52 (Đối với bị cáo Chung); Điều 17, Điều 55, Điều 58, Điều 38 BLHS xử phạt:
Xử phạt bị cáo Vũ Văn C từ 07 năm 06 tháng đến 08 tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ 10 năm đến 11 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 17/3/2024.
Xử phạt bị cáo Đỗ Minh T từ 07 năm 02 tháng đến 07 năm 08 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ 09 năm 02 tháng đến 10 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 17/3/2024.
Xử phạt bị cáo Đỗ Tiến T1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ 09 năm đến 10 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 17/3/2024.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Chung tuy mua ma tuý để bán kiếm lời lẽ ra phải áp dụng hình phạt bổ sung để răn đe tuy nhiên bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ đều là người khuyết tật nặng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đối với bị cáo T, T1 đi mua hộ ma tuý cho C và là những đối tượng nghiện ma tuý không có nghề nghiệp, tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định.
Tịch thu, tiêu hủy 01 đĩa nhựa; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy được làm từ 02 vỏ lon bia S gắn chồng lên nhau, trên thành lon bia phía trên có gắn 01 ống thủy tinh. Tại vị trí trên nắp vỏ lon bia phía trên gắn ống hút nhựa màu trắng, đỏ, tím, vàng; 01 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 cuộn giấy bạc màu trắng; 06 bật lửa gas (trong đó 04 bật lửa màu đỏ, 01 bật lửa màu trắng, 01 bật lửa màu xanh); 01 túi nilon màu trắng bên trong có 20 túi nilon màu trắng, viền kẻ màu đỏ; 01 đoạn ống hút màu trắng.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 6 màu trắng, gắn sim số 0777.811.893 của Đỗ Tiến T1; 01 điện thoại Oppo A57 gắn sim số 0382.348.966 của Vũ Văn C; 01 điện thoại Iphone Xsmax gắn sim số 0965465442 của Đỗ Minh T.
Hoàn trả bị cáo Chung số tiền 390.000đ, 01 điện thoại Iphone XR màu đỏ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Các bị cáo sau khi nghe luận tội của Đại diện Viện kiểm sát thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau.
1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, khiếunại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
Lời khai của bị cáo Vũ Văn C, Đỗ Minh T và Đỗ Tiến T1 tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu có trong hồ sơ có căn cứ xác định: Khoảng 05 giờ ngày 17/3/2024, tại phòng ngủ của T tại quán B ở khu phố K, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (do chị Nguyễn Thị N3 làm chủ). Lực lượng công an thị xã T kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Vũ Văn C, Đỗ Minh T, Đỗ Tiến T1 vừa có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể: C là người khởi xướng, bỏ số tiền 2.500.000đ và bảo T đi mua ma tuý về sử dụng và bán kiếm lời. T là người cung cấp địa điểm, công cụ sử dụng ma tuý và cùng T1 trực tiếp đi mua ma tuý. T1 biết rõ việc đi mua ma tuý về sử dụng và bán kiếm lời nhưng vẫn đi cùng T. Quá trình sử dụng ma tuý, T1 là người trực tiếp lấy 10 viên ma tuý ngựa đưa cho T để cả 03 cùng sử dụng. Số ma tuý còn lại 2,28915 gam ma tuý Methamphetamine Chung, T và T1 khai nếu có người hỏi mua sẽ bán kiếm lời. Do đó có đủ căn cứ để xét xử bị cáo Vũ Văn C, Đỗ Minh T và Đỗ Tiến T1 phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý" theo điểm b khoản 2 Điều 255 và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy còn là nguồn gốc dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, do vậy cần xử lý nghiêm bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3]. Xét vai trò, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo,
HĐXX nhận thấy: Về vai trò, đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo C1 là người khởi xướng bỏ tiền và bảo T đi mua ma tuý về sử dụng và bán kiếm lời; Bị cáo Chung là người mời T và T1 sử dụng ma túy. Bị cáo T là người biết C1 đi mua ma túy về để bán kiếm lời khi C1 nhờ đi mua ma tuý và cung cấp công cụ sử dụng ma tuý, địa điểm để sử dụng trái phép chất ma túy, mời T1 sử dụng ma túy và hỗ trợ C1, T1 sử dụng ma túy. Bị cáo T1 biết C1 mua ma túy về bán kiếm lời vẫn đồng ý cùng T đi mua ma tuý và là người trực tiếp lấy ma tuý đưa cho T để cả ba sử dụng. Do đó bị cáo Chung có vai trò cao nhất sau đó đến bị cáo T, bị cáo T1. HĐXX sẽ xem xét vai trò của từng bị cáo khi lượng hình.
Về nhân thân: Bị cáo Chung là người có nhân thân xấu đã bị Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo T, cáo T1 chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Chung phạm tội khi chưa được xoá án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T, T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T1 có ông nội là Đỗ Văn Đ4, bố là Đỗ Văn Đ1 tham gia kháng chiến, tham gia công tác có nhiều thành tích được tặng kỷ niệm chương, giấy khen; bị cáo Đỗ Minh T có ông Nguyễn Văn C2 là cụ ngoại được tằng bằng khen tổ quốc ghi công, có ông nội được tặng danh hiệu 45 năm tuổi đảng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đối với lần phạm tội này của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện cải tạo các bị cáo thành người tốt.
Về hình phạt bổ sung: Bên cạnh việc các bị cáo phải chịu hình phạt chính là hình phạt tù, cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên, các bị cáo nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản riêng; bị cáo C1 có bố mẹ bị khuyết tật nặng nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với số ma tuý còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 đĩa nhựa; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy được làm từ 02 vỏ lon bia S gắn chồng lên nhau, trên thành lon bia phía trên có gắn 01 ống thủy tinh. Tại vị trí trên nắp vỏ lon bia phía trên gắn ống hút nhựa màu trắng, đỏ, tím, vàng; 01 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 cuộn giấy bạc màu trắng; 06 bật lửa gas (trong đó 04 bật lửa màu đỏ, 01 bật lửa màu trắng, 01 bật lửa màu xanh); 01 túi nilon màu trắng bên trong có 20 túi nilon màu trắng, viền kẻ màu đỏ; 01 đoạn ống hút màu trắng là dụng cụ các bị cáo sử dụng ma túy có giá trị thấp nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 điện thoại Iphone 6 màu trắng, gắn sim số 0777.811.893 của T1; 01 điện thoại Oppo A57 gắn sim số 0382.348.966 của C1; 01 điện thoại Iphone Xsmax gắn sim số 0965465442 của T các bị cáo sử dụng vào việc liên lạc, giao dịch mua bán ma tuý nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền 390.000đ, 01 điện thoại Iphone XR màu đỏ của C1 không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên trả lại bị bị cáo C1 phù hợp nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Tình tiết liên quan trong vụ án:
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho T. Do T chỉ biết tên “Đ2” ở T, T không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của Đ2. T không nhớ đường về nhà Đ2. Ngày 21/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã tiến hành xác minh tại xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh nhưng chưa có căn cứ để xác minh làm rõ đối tượng. Cơ quan điều tra tách tài liệu liên quan đến Đ2, tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xem xét xử lý sau là phù hợp.
Đối với khối lượng 2,28915 gam ma tuý Methamphetamine mà Cơ quan Công an đã thu giữ của Vũ Văn C và Đỗ Tiến T1 khai nhận nếu không bị bắt thì C sẽ sử dụng để bán hết số ma túy thu giữ, T có một phần ma túy trong số ma túy trên (04 viên ma túy ngựa), T sẽ mời C, T1 tiếp tục sử dụng hết số ma túy trên. Vì vậy, hành vi của C, T không cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Đối với chị Nguyễn Thị N3 - chủ nhà cho T thuê, do chị N3 không biết việc T thuê nhà để sử dụng ma túy. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T không xem xét xử lý đối với chị N3 là phù hợp.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn C, Đỗ Minh T và Đỗ Tiến T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255 và khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 (đối với bị cáo T1, T) Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52 (Đối với C); Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 47; Điều 55 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Xử phạt bị cáo Vũ Văn C 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 10 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/3/2024.
Xử phạt bị cáo Đỗ Minh T 07 năm 02 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 09 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/3/2024.
Xử phạt bị cáo Đỗ Tiến T1 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/3/2024.
Tạm giam mỗi bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về vật chứng:
Tịch thu, tiêu huỷ 01 túi niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh B có ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định trong vụ Vũ Văn C, SN 1988 ở Đ, G, Hà Nội cùng 1 số đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (QĐTC 926, 17/3/2024 – T).
Tịch thu, tiêu hủy 01 đĩa nhựa; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy được làm từ 02 vỏ lon bia S gắn chồng lên nhau, trên thành lon bia phía trên có gắn 01 ống thủy tinh. Tại vị trí trên nắp vỏ lon bia phía trên gắn ống hút nhựa màu trắng, đỏ, tím, vàng; 01 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 cuộn giấy bạc màu trắng; 06 bật lửa gas (trong đó 04 bật lửa màu đỏ, 01 bật lửa màu trắng, 01 bật lửa màu xanh); 01 túi nilon màu trắng bên trong có 20 túi nilon màu trắng, viền kẻ màu đỏ; 01 đoạn ống hút màu trắng.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 6 màu trắng, gắn sim số 0777.811.893 của Đỗ Tiến T1; 01 điện thoại Oppo A57 gắn sim số 0382.348.966 của Vũ Văn C; 01 điện thoại Iphone Xsmax gắn sim số 0965465442 của Đỗ Minh T.
Hoàn trả bị cáo Chung số tiền 390.000đ, 01 điện thoại Iphone XR màu đỏ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 121 ngày 23/8/2024)
4. Về án phí: Bị cáo Vũ Văn C, Đỗ Minh T và Đỗ Tiến T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND TX Thuận Thành; - Chi cục THADS TX Thuận Thành; - Công an TX Thuận Thành; - Những NTGTT; - Lưu án văn, hồ sơ |
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Xuân Phong |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Bùi Thị Lợi – Trần Giai Thưởng |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Xuân Phong |
Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 95/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ch và đồng bọn tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
