|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 95/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26/9/2024
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Thuận và bà Lương Thị Kim Ngân
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Tấn Bửu, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Huy Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 204/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/5/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 162/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995; cư trú: Tổ A, ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
Bị đơn: Anh Thái Bảo Đ, sinh năm 1988; cư trú: Tổ H, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Nguyễn Thị H trình bày: Năm 2015, do mai mối chị H và anh Đ được gia đình hai bên đồng ý đi đến hôn nhân. Sau khi kết hôn, chị H và anh Đắc s tại khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Thời gian đầu, chị H và anh Đ chung sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2022, bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống về tình cảm. Chị H và anh Đ đã sống xa nhau từ cuối năm 2023 cho đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên chị H kiên quyết ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị H và anh Đ có 01 (một) con chung tên Thái Bảo Minh Đ1, sinh ngày 24/11/2016. Hiện cháu Đ1 đang sinh sống với chị H. Chị H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Đ1 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Thái Bảo Đ thông qua người thân là Lương Thị Mỹ D, Thái Kim T (là mẹ, em ruột anh Đ) và cam kết báo lại cho anh Đ biết về việc chị H nộp đơn khởi kiện ly hôn với anh Đ nhưng đến nay, anh Đ không tham gia tố tụng và cung cấp văn bản ý kiến của mình cho Tòa án.
Quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ: Xác minh tình trạng hôn nhân, tình trạng cư trú của các đương sự, ghi nhận ý kiến của cháu Thái Bảo Minh Đ1 cụ thể:
- Công an phường L, thị xã T cung cấp: Anh Thái Bảo Đ, sinh năm 1988 có đăng ký thường trú (chỗ ở hiện nay) tổ H, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.
- Bà Lương Thị Mỹ D (mẹ ruột anh Đ) cho biết: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995 và anh Thái Bảo Đ, sinh năm 1988 là vợ chồng, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2015. Sau khi cưới, vợ chồng chị H và anh Đắc s cùng nhà với bà D. Trong quá trình hôn nhân, cả hai có 01 người con chung tên Thái Bảo Minh Đ1. Vợ chồng chị H, anh Đ mâu thuẫn thế nào thì bà không biết, vợ chồng không thường xuyên cãi vã khi sống cùng bà. Đến năm 2022, thì chị H bỏ nhà đi và dẫn theo cháu Đ1 cho đến nay không quay về. Mặc dù, anh Đ và gia đình có động viên hàn gắn nhưng chị H không quay về.
- Ghi nhận ý kiến của cháu Thái Bảo Minh Đ1: Hiện nay, cháu Đ1 đang sống cùng mẹ là chị H, chi phí sinh hoạt hàng ngày của cháu Đ1 do chị H lo. Nếu chị H và anh Đ ly hôn thì cháu Đ1 có nguyện vọng sống cùng với mẹ là chị H và thời gian rảnh rỗi muốn được chơi với cha là anh Đ.
Tại phiên tòa, chị H kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh Đ và yêu cầu được nuôi dạy con chung tên Đ1, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
- Phát biểu của Kiểm sát viên:
+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ việc đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn vắng mặt tại các buổi họp và làm việc của Tòa án.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H với anh Thái Bảo Đắc .
- Về con chung: Chị H được nuôi dưỡng con chung tên Thái Bảo Minh Đ1, sinh ngày 24/11/2016; anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
*Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Thái Bảo Đắc . Anh Đ có nơi cư trú khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Thái Bảo Đ được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn như theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
* Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Đ do tự tìm hiểu yêu thương nhau, được gia đình hai bên chấp thuận tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 47, ngày 29/7/2015 phù hợp Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa chị H và anh Đ là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Chị H khai, thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống về tình cảm và đã ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh Đ.
Theo kết quả xác minh (lấy lời khai bà Trương Thị Mỹ D1 (mẹ ruột anh Đ)) cho biết: Anh Đ và chị H là vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, chị H và anh Đắc s cùng nhà với bà D1. Trong quá trình hôn nhân, chị H và anh Đ mâu thuẫn thế nào thì bà không biết, vợ chồng không thường xuyên cãi vã khi sống cùng bà. Đến năm 2022, thì chị H bỏ nhà đi và dẫn theo cháu Đ1 cho đến nay không quay về. Mặc dù, anh Đ và gia đình có động viên hàn gắn nhưng chị H không quay về.
Vợ chồng có nghĩa vụ chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng hạnh phúc. Vợ chồng anh Đ và chị H đã sống xa nhau hơn một năm nay. Tòa án tổ chức hòa giải nhiều lần để tạo điều kiện cho anh Đ và chị H hàn gắn tình cảm, nhưng anh Đ vắng mặt và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án.
Tình trạng vợ chồng anh Đ và chị H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục duy trì hôn nhân thì khó xây dựng được gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững. Xét, cho chị H ly hôn với anh Đ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh Đ và chị H có 01 (môth) người con chung tên Thái Bảo Minh Đ1, sinh ngày 24/11/2016. Hiện cháu Đ1 đang sinh sống với chị H. Chị H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Đ1 và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Biên bản ghi nhận ý kiến nguyện vọng của cháu Đ1 có nguyện vọng được sống với chị H. Theo kết quả xác minh (lấy lời khai bà D1), từ khi anh Đ và chị H sống xa nhau cho đến nay thì cháu Đ1 sống cùng chị H.
Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con và nguyện vọng của cháu Đ1, cuộc sống của cháu Đ1 cũng ổn định. Xét, giao cháu Đ1 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Chị H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H khai, tự thỏa thuận không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí, chị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp. Anh Đ không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Thái Bảo Đắc .
Giấy chứng nhận kết hôn số 47 do Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang cấp ngày 29 tháng 7 năm 2015 cho chị Nguyễn Thị H và anh Thái Bảo Đ không còn giá trị pháp lý.
[2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị H được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Thái Bảo Minh Đ1, sinh ngày 24/11/2016 cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Anh Thái Bảo Đ không phải cấp nuôi con chung.
Chị H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về án phí:
Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008064 ngày 16/5/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Chị H đã nộp đủ án phí.
Anh Thái Bảo Đ không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[4] Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị H có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo của anh Đ là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Dương |
Bản án số 95/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 95/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H yêu cầu ly hôn Đ
