Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIỀN HẢI

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/HSST

Ngày: 26/9/2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Hiểu

Ông Hoàng Văn Hiền.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Việt Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 89/2024/TLST- HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Minh C, sinh ngày 05/9/1980 tại xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân N và bà Bùi Thị V; vợ là Nguyễn Lê Anh T và có 02 con; tiền sự: không tiền án: có 01 tiền án: Bản án số 86/2021/HSST ngày 22/12/2021, Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo Trần Minh C 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 23/10/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Nhân thân: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 22/2017/QĐ-TA ngày 17/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải áp dụng biện pháp xử lý hành chính “ Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Trần Minh C thời hạn 01 năm, bị cáo chấp hành xong Quyết định ngày 29/6/2019. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/6/2024 đến ngày 10/6/2024 chuyển tạm giam. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Lê Anh T, sinh năm 1982 (Có mặt)

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.

+ Người làm chứng:

- Ông Trương Minh X, sinh năm 1957 (Vắng mặt)

- Anh Trần Kim T1, sinh năm 1982 (Vắng mặt)

Đều cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 04/6/2024, Trần Minh C đi làm về đến nhà thì thấy số điện 0368515208 mà C lưu tên “AJTJ” của một người đàn ông tự xưng tên M mà C đã gặp trước đó tại xã N gọi đến. C cầm điện thoại lên nghe thì người đàn ông tên M nói “anh có tiền đưa em 200.000 đồng, em lấy cho quả hàng mà chơi”, hiểu ý M bảo C đưa tiền để M mua hộ ma túy hộ nên C đồng ý và hẹn gặp M tại khu vực ngã ba đường liên xã N giáp với xã N thuộc địa phận thôn Đ, xã N, huyện T để giao dịch. Khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày, C đi bộ từ nhà ra đường sau đó xin đi nhờ xe của một người không quen biết đến địa điểm đã hẹn. Gặp nhau, M đưa cho C một túi nilon trong suốt có kẻ viền màu đỏ bên trong có 01 gói ma túy loại Hêrôin được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, C đưa lại cho M 200.000 đồng và nhận gói ma túy cầm ở tay phải đi về hướng xã N mục đích để tìm nơi sử dụng. Khi C đang đi bộ tại khu vực ngã ba đường liên xã thuộc thôn Đ, xã N, huyện T thì bị Công an huyện T phát hiện. Quá trình làm việc, C đã tự giác giao nộp 01 gói ma túy có đặc điểm như trên và khai nhận đây là gói ma túy mà C vừa mua để sử dụng cho bản thân. Công an huyện T đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản quản lý và niêm phong vật chứng. Ngoài ra còn thu giữ, quản lý của Trần Minh C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6310 màu đen đã qua sử dụng để phục vụ việc xác minh, giải quyết. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Minh C, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không phát hiện thu giữ gì thêm.

Tại Bản kết luận giám định số 824/KL- KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy; loại Heroin (H); có khối lượng 0,0530 gam”.

Tại bản Cáo trạng số 97/CT-VKSTH ngày 12/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trần Minh C về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố đối với bị cáo.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng số 97 và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Minh C từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/6/2024.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo sau khi hoàn giám định còn lại là 0,0323 gam

Heroine được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 824/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T.

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T trả lại cho chị Nguyễn Lê Anh T 01 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6310 màu đen đã qua sử dụng.

- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với Kiểm sát viên về bản luận tội.

Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: “Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng không khiếu nại hay có ý kiến gì. Nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vào trưa ngày 04/6/2024, mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như:

  • - Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T lập ngày 04/6/2024 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình;
  • - Các biên bản tạm giữ đồ vật, tài sản, biên bản niêm phong đồ vật bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T lập cùng 04/6/2024 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T;
  • - Biên bản kiểm tra điện thoại do Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T lập ngày 04/6/2024 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T;
  • - Các biên bản làm việc, biên bản xác minh do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 04/6/2024 và ngày 19/7/2024 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T;
  • - Báo cáo chi tiết xác minh danh tính chủ thuê bao 0368515208 của Tập đoàn C2;
  • - Bản Kết luận giám định số 824/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T;
  • - Biên bản ghi lời khai của những người làm chứng là ông Trương Minh X và anh Trần Kim T1;
  • - Biên bản ghi lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Lê Anh T.

Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 04/6/2024, tại khu vực ngã ba đường liên xã thuộc thôn Đ, xã N, huyện T, Công an huyện T, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang Trần Minh C (là đối tượng đang có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy) có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy loại Heroin có khối lượng 0,0530 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo Trần Minh C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm thuộc trường hợp nghiêm trọng.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

1. “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại Điều 248, Điều 250, Điều 251 và Điều 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Heroine, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Trần Minh C là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, làm suy thoái nòi giống con người, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.

[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”.

Về tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5]. Về hình phạt:

[5.1]. Về hình phạt chính: Xét thấy, ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, trong lúc Đảng và Nhà nước đang kiên quyết đấu tranh để bài trừ tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, bản thân bị cáo đã bị xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”, lẽ ra sau khi chấp hành xong các Quyết định bị cáo phải lấy đó làm bài học cho mình, tu chí cai nghiện nhưng vì thiếu bản lĩnh, nên bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi của bị cáo cần thiết phải xử phạt bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt tù cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

[5.2]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có việc làm ổn định, bản thân là đối tượng nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo sau khi hoàn giám định còn lại 0,0323 gam Heroine. Đây là vật nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6310 màu đen đã qua sử dụng thu của bị cáo Trần Min C1, xác định chiếc điện thoại trên là của chị Nguyễn Lê Anh T (vợ bị cáo). C1 mượn chiếc điện thoại của chị T để sử dụng từ khi chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương. Việc C1 sử dụng điện thoại để liên lạc mua ma túy chị T không biết. Ngày 27/8/2024 chị T có đơn xin lại chiếc điện thoại trên. Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện T đã trả lại chiếc điện thoại trên cho chị T là có căn cứ nên được chấp nhận.

[7]. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ trong vụ án: Trần Minh C khai nhận số ma túy là do C nhờ người đàn ông tự giới thiệu tên M (là đối tượng nghiện ma túy) mà C đã gặp trước đó tại xã N mua hộ với giá 200.000 đồng. Cơ quan điều tra đã điều tra, xác minh, kết quả xác minh tại xã N không có ai tên là M nằm trong danh sách các đối tượng sử dụng ma túy thuộc diện theo dõi, quản lý của xã. Tiến hành tra cứu thông tin số thuê bao “0368.515.208” tại Tập đoàn C2 xác định chủ thuê bao là bà Nguyễn Thị M1 sinh năm 1963 trú tại thôn Đ, xã N, huyện T. Bà M1 khai trước đây có sử dụng số thuê bao “0368.515.208”, tuy nhiên khoảng cuối năm 2020 trên đường đi từ xã N đến xã N, bà M1 làm mất chiếc điện thoại di động có lắp số thuê báo nói trên, do thuê bao không quan trọng nên bà M1 không đăng ký làm lại số thuê bao trên, hiện ai đang sử dụng số điện thoại này thì bà M1 không rõ. Bản thân bà M1 không quen biết ai tên là M ở xã N, không quen biết Trần Minh C xã N, huyện T. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có đủ căn cứ để điều tra, xác minh, làm rõ người đã mua ma túy cho C để xử lý theo quy định của pháp luật.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm akhoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Minh C phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Minh C 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/6/2024.
  3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của Bị cáo sau khi hoàn giám định còn lại là 0,0323 gam Heroine được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 824/KL- KTHS của Phòng K Công an tỉnh T.

    (Vật chứng của vụ án đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/9/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải).

  4. Về án phí: Bị cáo Trần Minh C phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/9/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tiền Hải;
  • - Công an huyện Tiền Hải;
  • - Chi cục THADS huyện Tiền Hải;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Chu Thị Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/HSST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 95/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Minh C phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger