|
TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 95/2024/HS-ST Ngày 26-9-2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Quang.
2. Bà Lê Thị Tình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thuý Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2024/TLST - HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn T, sinh ngày 25/01/1996 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản P, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn N – sinh năm: 1973 và bà Tòng Thị T1 – sinh năm: 1977; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 01/6/2024 đến ngày 10/6/2024 bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu đến nay, bị cáo có mặt.
- Người làm chứng: Anh Lường Văn L - sinh năm 1994. Địa chỉ: Bản P, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 01/6/2024 Lò Văn T đi làm về đến nhà tại bản P, xã T, huyện T và gặp Lường Văn L đang chơi ở nhà T. Khi gặp L, T rủ L cùng đi ra chợ mua đồ dùng cá nhân, L đồng ý. Sau đó L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25B1- 449.39 của L chở T đi đến chợ thuộc tổ dân phố B, thị trấn T. Sau đó T nhờ L chở T đi đến nghĩa trang ở bản T, xã T huyện T có việc cá nhân, L đồng ý chở T đi tiếp. Khi đi qua nghĩa trang ở bản T, T nhìn thấy một người đàn ông không rõ lai lịch trông giống người nghiện chất ma túy đang đi xe mô tô ngược chiều nên T gọi người này dừng xe lại và cùng lúc này T bảo L dừng xe lại. Khi L dừng xe, T đi bộ về phía người đàn ông vừa gọi cách chỗ L dừng xe khoảng 10 mét. Tại đây qua trao đổi T hỏi và mua được của người này một gói Heroin được gói bằng một mảnh giấy bạc màu trắng với giá 50.000 đồng, mục đích để sử dụng. Sau khi mua được H, T cầm ở trong lòng bàn tay phải rồi quay lại chỗ L đứng nhưng không nói cho L biết việc T vừa mua Heroin. Sau đó T bảo L điều khiển xe mô tô chở T đi về. Đến 19 giờ 15 phút cùng ngày khi L đang điều khiển xe mô tô chở T đi đến cổng của nghĩa trang thuộc bản Tạng Đán, xã T huyện T nhìn thấy Công an thị trấn T đang làm việc. Do lo sợ bị phát hiện nên T đã ném gói H đang cầm ở lòng bàn tay phải xuống mặt đường bê tông nhưng bị Công an phát hiện. Ngay sau đó Công an thị trấn T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình khám nghiệm hiện trường, Công an thu giữ 01 gói Heroin của Lò Văn T có khối lượng 0,1 gam. Tại chỗ Lò Văn T thừa nhận gói vừa ném là Heroin của T, mục đích để sử dụng.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Lường Văn L khai L chỉ được T rủ đi chợ. Việc T mua và tàng trữ H thì L không biết.
Ngày 01/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 44/KL-TCGĐ ngày 01/6/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Lò Văn T có khối lượng là 0,1 gam.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã lấy toàn bộ 0,1 gam chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn T theo T khai nhận là H gửi giám định. Tại bản kết luận giám định số 655/KL-KTHS ngày 05/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 01 (một) Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H1), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Bản Cáo trạng số 67/CT-VKS-TU, ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên để xét xử Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh giấy bạc màu trắng.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Hồi 19 giờ 15 phút, ngày 01/6/2024, tại bản T, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lò Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroin được gói bằng 01 mảnh giấy bạc màu trắng có khối lượng 0,1 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an thị trấn T, huyện T phát hiện, bắt quả tang.
Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tuy nhiên vì muốn có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo Lò Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác nên cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian trên mức khởi điểm của khung hình phạt đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động tự do, không có việc làm và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: 0,1 gam Heroin đã gửi toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật nên không đặt ra để xem xét; 01 mảnh giấy bạc màu trắng là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Các đối tượng hành vi liên quan đến vụ án:
Về nguồn gốc 0,1 gam Heroin, Lò Văn T khai do T mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tại bản T, xã T, huyện T. Quá trình điều tra không xác định được người đàn ông này nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Lường Văn L là người điều khiển xe mô tô chở Lò Văn T và đi cùng Lò Văn T, quá trình điều tra xác định L chỉ được T rủ đi chợ và nhờ chở đi giải quyết việc cá nhân. Việc T mua và tàng trữ Heroin thì L không biết, vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý đối với Lường Văn L là đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư làm bằng phong bì công văn của Công an huyện T bên trong đựng 01 mảnh giấy bạc màu trắng.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 14 giờ 10 phút, ngày 23/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |
Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 95/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
