Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/DS-ST

Ngày 26-7-2024

“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Phạm Lan Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hồ Lệ Hoa

Ông Hoàng Xuân Niêm

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 47/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2024, về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trần Thị N; Sinh năm: 1967 (Có mặt);
  • Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau;
  • - Bị đơn: 1/ Bà Huỳnh Mỹ N1; Sinh năm: 1976 (Vắng mặt);
  • Địa chỉ: Ấp F L, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau;
  • Chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
  • 2/ Ông Đỗ Văn R; Sinh năm: 1975 (Vắng mặt);
  • Địa chỉ: Ấp F L, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06/3/2024 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày:

Vào ngày 22/4/2022 âm lịch, bà N có cho ông R và bà N1 vay số tiền 100.000.000 đồng, cho vay không kỳ hạn, lãi suất 20%/năm. Từ lúc vay đến nay ông R và bà N1 chưa đóng lãi cho bà, cũng không trả vốn. Khi vay hai bên có viết biên nhận do ông Đỗ Văn R ký. Nay bà N yêu cầu ông R và bà N1 trả số vốn vay 100.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 22/4/2022 âm lịch đến nay bằng số tiền 40.000.000 đồng. Tổng hai khoản là 140.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Huỳnh Mỹ N1 trình bày:

Bà N1 thống nhất với lời trình bày của bà N về số tiền nợ và quá trình thực hiện hợp đồng vay giữa hai bên. Bà thừa nhận vợ chồng bà khi còn sống chung có vay của bà N số tiền 100.000.000 đồng từ ngày 22/4/2022 âm lịch đúng như bà N đã trình bày nhưng hiện nay bà và ông R đã ly hôn vào ngày 23/01/2023 và tự thỏa thuận trả nợ. Theo thỏa thuận của ông bà thì bà N1 nhận đất và nhận trả khoản nợ của bà N nên bà cũng đồng ý trả cho bà N số tiền 100.000.000 đồng nhưng do đất hiện nay chưa hết thời hạn cố đất nên bà chưa bán đất được hay cố tiếp đất cho người khác, vì vậy bà N1 yêu cầu trả dần vì hiện nay bà không có điều kiện trả một lần cho bà N.

Đối với số tiền lãi 40.000.000 đồng bà không có khả năng trả do hiện nay bà không có thu nhập ổn định. Bà yêu cầu ông R tham gia để các bên tự thỏa thuận do số tiền 100.000.000 đồng không phải là toàn bộ tiền vốn mà số vốn chỉ có 60.000.000 đồng, còn 40.000.000 đồng là tiền lãi bà N tự kê. Theo thỏa thuận giữa bà N với bà tại ngày giải quyết ly hôn thì bà N1 chỉ đồng ý trả số tiền 100.000.000 đồng là dứt nợ, hai bên không thỏa thuận trả lãi tiếp.

Đối với ông Đỗ Văn R đã được triệu tập để xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng ông R không có ý kiến và vắng mặt tại phiên tòa không lý do.

Tại phiên tòa:

Bà N yêu cầu bà N1 trả số tiền vốn 100.000.000 đồng và số tiền lãi theo quy định của pháp luật. Đồng thời không yêu cầu ông R cùng có nghĩa vụ trả tiền cho bà với bà N1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: bà Trần Thị N khởi kiện yêu cầu bà N1 và ông R thanh toán nợ vay. Đây là vụ án dân sự, về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Theo đó, bị đơn là bà N1 và ông R có địa chỉ tại xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với bà Huỳnh Mỹ N1 và ông Đỗ Văn R đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong vụ án, được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để xét xử nhưng bà N1 và ông R đều vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà N1 và ông R theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Việc vay tiền giữa bà N với vợ chồng ông R bà N1 là thực tế có xảy ra được bà N1 thừa nhận trong quá trình giải quyết vụ án. Do bà N1 không trả nợ theo thỏa thuận nên bà N khởi kiện yêu cầu ông R và bà N1 thanh toán nợ vay.

[3] Đối với số tiền đã vay: Tại biên bản làm việc ngày 05/7/2024 bà N1 chỉ đồng ý trả cho bà N số tiền 60.000.000 đồng và yêu cầu bà N giảm bớt số tiền lãi. Đối với trình bày của bà N1 cho rằng số nợ vốn thực tế chỉ có 60.000.000 đồng nhưng không có chứng cứ chứng minh. Xét thấy, tại biên bản tự thỏa thuận vào ngày 06/01/2023 trong vụ án ly hôn của bà N1 với ông R thì bà N1 thừa nhận có nợ bà N số tiền 100.000.000 đồng, ngoài số nợ trên thì các khoản nợ phát sinh sau thời điểm thỏa thuận trên thì bà N1 tự thanh toán và biên bản hòa giải ngày 08/4/2024 bà N1 cũng có thừa nhận số nợ 100.000.000 đồng. Do đó có cơ sở xác định số nợ gốc của bà N1 với bà N là 100.000.000 đồng và là nợ riêng của bà N1 đối với bà N.

Tại phiên tòa bà N cũng xác định do không hiểu biết nên có yêu cầu ông R cùng trả nợ và tự nguyện thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu đối với ông R, chỉ yêu cầu bà N1 trả nợ nên không xem xét đối với ông R.

[4] Đối với yêu cầu tính lãi trên số tiền nợ 100.000.000 đồng từ ngày 06/02/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 26/7/2024 theo quy định của pháp luật của bà N thấy rằng do bà N1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên cần buộc bà N1 có nghĩa vụ trả lãi theo yêu cầu của bà N từ ngày 06/01/2023 là phù hợp. Do các bên không thỏa thuận lãi suất và không thống nhất với nhau về lãi suất nên áp dụng mức lãi

suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 làm cơ sở xem xét. Như vậy số tiền lãi của số tiền nợ 100.000.000 đồng x 17 tháng 20 ngày x 10%/năm bằng số tiền 14.722.200 đồng. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N buộc bà N1 phải trả cho bà N tổng số tiền là 114.722.200 đồng, trong đó nợ vốn 100.000.000 đồng, nợ lãi 14.722.200 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người bị thi hành án còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

[5] Về án phí dân sự có giá ngạch: Bà N không phải chịu án phí, số tiền tạm ứng án phí đã nộp được nhận lại, bà N1 phải chịu án phí theo quy định trên số tiền bị buộc phải thanh toán cho bà N.

[6] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N về việc yêu cầu bà Huỳnh Mỹ N1 thanh toán nợ vay.

    Buộc bà Huỳnh Mỹ N1 có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thị N số tiền nợ vay 114.722.200 đồng, trong đó nợ vốn 100.000.000 đồng, nợ lãi 14.722.200 đồng.

  2. Về lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án: Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của bà N cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bà N1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
  3. Về án phí dân sự có giá ngạch: Bà Huỳnh Mỹ N1 phải chịu số tiền 5.736.100 đồng. Bà Trần Thị N không phải chịu án phí. Ngày 06/3/2024, bà N có dự nộp tạm ứng án phí số tiền 3.500.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0016026 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được nhận lại.
  4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật

định.

  1. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Thới Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thới Bình;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Huỳnh Phạm Lan Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 95/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vay nợ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger