Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/DS-ST

Ngày: 23/4/2024

V/v Tranh chấp thừa kế tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đoàn Văn Hiền
  2. Ông Lý Trung Thanh

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Trang - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 35/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2023 về việc tranh chấp thừa kế tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXX-ST-DS ngày 2 tháng 02 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 130/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 186/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Trung H, sinh năm 1962; bà Phạm Thị Ú, sinh năm 1959, cùng địa chỉ cư trú: tổ B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

Người đại diện hợp pháp của ông Phạm Trung H, bà Phạm Thị Ú: Chị Phạm Thị Thanh L, sinh năm 1983, địa chỉ cư trú: Khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang, đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày số 1103 ngày 15/3/2023). (Có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1943. Nơi cư trú hiện nay: tổ E, ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang.

Người đại diện hợp pháp của ông Phạm Văn T: Anh Phạm Vĩnh P, sinh năm 1969. Nơi cư trú hiện nay: tổ E, ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang, đại diện theo ủy quyền. (Theo văn bản ủy quyền số 852 ngày 12/6/2023) (Có đơn xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Phạm Thị M, sinh năm 1945, địa chỉ cư trú: tổ C, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang.
  2. Ông Phạm Hữu Đ, sinh năm 1948, địa chỉ cư trú: tổ B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
  3. Phạm Thị N, sinh năm 1955, địa chỉ cư trú: Số G, đường số D nối dài, khu dân cư L, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bà Phạm Thị M, bà Phạm Hữu Đ, bà Phạm Thị N: Chị Phạm Thị Thanh L, sinh năm 1983, địa chỉ cư trú: Khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang, đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 01/6/2022 và ngày 15/3/2023) (Có đơn xin vắng mặt).

  1. Ông Phạm Văn C, sinh năm 1952, chết năm 1980. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Văn C.
  1. Lê Thị Như Ý, sinh năm 1950, địa chỉ cư trú: tổ B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).
  2. Ông Phạm Quốc T1, sinh năm 1973, địa chỉ cư trú: tổ B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).
  3. Phạm Thị Mỹ H1, sinh năm 1975, địa chỉ cư trú: số C, khu vực Bình Thuận, phường A, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt).
  4. Ông Phạm Quốc T2, sinh năm 1976, địa chỉ cư trú: tổ B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).
  5. Phạm Thị Mỹ T3, sinh năm 1978, địa chỉ cư trú: số C, đường P, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
  6. Phạm Thị Thanh T4, sinh năm 1981, địa chỉ cư trú: tổ B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Phạm Trung H, bà Phạm Thị Ú và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Cụ Phan Thị K (chết năm 2010) và cụ Phạm Văn P1 (chết năm 1986), không để lại di chúc. Cụ P1 và cụ K có tất cả 07 người con gồm: Phạm Văn T, Phạm Thị M, Phạm Hữu Đ, Phạm Thị N, Phạm Thị Ú, Phạm Trung HPhạm Văn C (chết năm 1980). Cụ P1 và cụ K không còn người con nào khác, cũng không có con nuôi hay con riêng. Cha, mẹ cụ K và cụ P1 chết trước cụ K và cụ P1.

Ông Phạm Văn C có vợ là bà Lê Thị Như Ý có các người con gồm: Phạm Quốc T1, Phạm Thị Mỹ H1, Phạm Quốc T2, Phạm Thị Mỹ T3Phạm Thị Thanh T4.

Di sản của cụ P1 và cụ K là diện tích đất 7.256m², thửa số 5606, tờ bản đồ 2, loại đất; LUC toạ lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang, đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01777QSDĐ/aF ngày 20/6/1991 mang tên Phan Thị K. Qua đo đạc thực tế có diện tích 7.779m² tại các điểm 1,9,10,11,2,12,13,14,3,4,5,26,25,24,23,22,21,7,8 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 02/02/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C1, trong đó có diện tích 523m² nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ K, nguyên nhân diện tích tăng thêm là do trước đây đo đạc bằng thủ công nên độ chính xác không cao. Trên phần đất không cây trồng lâu năm hay vật kiến trúc, hiện đang trồng lúa do ông H quản lý sử dụng. Ngoài ra không còn di sản nào khác.

Trước khi chết cụ P1 và cụ K không phải thực hiện nghĩa vụ nào đối với ai.

Nay chị L đại diện theo ủy quyền của ông H yêu cầu: Chia di sản thừa kế của cụ P1 và cụ K diện tích qua đo đạc thực tế 7.779m² tại các điểm 1,9,10,11,2,12,13,14,3,4,5,26,25,24,23,22,21,7,8 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 02/02/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C1 thành 07 phần bằng nhau, giá trị tài sản là 120.000 đồng/m² x 7.779m² = 933.480.000 đồng, ông H yêu cầu được nhận hiện vật và đồng ý hoàn lại giá trị cho những người thừa kế khác. Đối với kỷ phần của ông T đã hoàn giá trị cho con ông T nhận (cũng là người đại diện theo ủy quyền) tổng số tiền là 133.440.000 đồng (tương đương diện tích 1111m²).

Về vị trí yêu cầu giao kỷ phần của ông C tại vị trí thửa tạm số 7 và 14 có diện tích 68m² + 1043m² = 1111m².

Không yêu cầu tính công sức giữ gìn, tôn tạo di sản, không yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện.

Chị L đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị Ú đồng ý giao lại kỷ phần của bà Ú cho ông Phạm Trung H, không yêu cầu ông H phải hoàn lại giá trị.

* Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Phạm Vĩnh P trình bày: Anh là con ruột của ông Phạm Văn T, anh thống nhất phần trình bày của nguyên đơn về hàng thừa kế và di sản thừa kế, anh và ông H đã thỏa thuận xong, ông H đã giao lại cho anh nhận giá trị của một kỷ phần cuả ông T là 133.440.000 đồng (tương đương diện tích 1111m²). Anh đồng ý giao lại kỷ phần của ông Phạm Văn T cho ông H.

- Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị M, bà Phạm Hữu Đ, bà Phạm Thị N: Chị Phạm Thị Thanh L trình bày: thống nhất phần trình bày của nguyên đơn về hàng thừa kế và di sản thừa kế, chị đồng ý giao lại kỷ phần của bà Phạm Thị M, Phạm Hữu ĐPhạm Thị N cho ông H, không yêu cầu hoàn lại giá trị; Đối với kỷ phần của ông C thì đồng ý giao cho các con ông C tại vị trí thửa tạm số 7 và 14 có diện tích 68m² + 1043m² = 1111m².

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Thị Như Ý, Phạm Quốc T1, Phạm Thị Mỹ H1, Phạm Quốc T2, Phạm Thị Mỹ T3, Phạm Thị Thanh T4 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt và không cung cấp các tài liệu, chứng cứ hay có văn bản trình bày nêu ý kiến.

* Kết quả đo đạc: Qua đo đạc thực tế phần đất tranh chấp diện tích 7.779m² tại các điểm 1,9,10,11,2,12,13,14,3,4,5,26,25,24,23,22,21,7,8 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 02/02/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C1. Tăng 523m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01777QSDĐ/aF ngày 20/6/1991 mang tên Phan Thị K thửa số 5606, tờ bản đồ 2, loại đất; LUC toạ lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

* Kết quả xác minh tại Văn phòng Đ1 chi nhánh C1 ngày 03/01/2024: Thửa tạm (2) gồm các điểm 1,6,2,14,13 có diện tích 523m² nằm ngoài thửa số 5606, chưa được cấp giấy chứng nhận. Điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 100 của Luật đất đai số 45/2013/QH13 được ban hành ngày 29/01/2013 và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 15/5/2014 về việc quy định chi tiết thi hành một số điều luật đất đai.

Tại bản tự khai ngày 09/3/2024 bà Phạm Thị M, Phạm Thị N cùng trình bày ý kiến: “Tôi có một phần đất nông nghiệp giáp ranh với phần đất tranh chấp thừa kế hiện nay tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Ranh giới giữa phần đất của tôi với phần đất tranh chấp rõ ràng, được xác định bằng trụ đá bê tông và được phân cách bằng bờ mẫu cụ thể. Theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 02/02/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C1 thể hiện tại các điểm tại các điểm 1,9,10,11,2,12,13,14,3,4,5,26,25,24,23,22,21,7,8 có diện tích 7.779m² tôi không có ý kiến gì”.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Phần đất tranh chấp có diện tích 7.779m². Tăng 523m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01777QSDĐ/aF ngày 20/6/1991 mang tên Phan Thị K thửa số 5606, tờ bản đồ 2, toạ lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Trên phần đất hiện đang trồng lúa, không cây trồng lâu năm và vật kiến trúc.

Giá trị thửa đất tại thời điểm định giá: 120.000 đồng/m² x 7.779m² = 933.480.000 đồng (chín trăm ba mươi ba triệu, bốn trăm tám mươi nghìn đồng).

* Tại phiên tòa:

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Phạm Trung H, bà Phạm Thị Ú và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị M, bà Phạm Hữu Đ, bà Phạm Thị N: Chị Phạm Thị Thanh L có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên dơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị M, ông Phạm Hữu Đ, bà Phạm Thị N thực hiện đúng đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phát biểu về việc giải quyết vụ án:

Về chia thừa kế: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Trung H chia di sản của cụ Phan Thị K và cụ Phạm Văn P1 thừa kế theo pháp luật.

Xác định di sản thừa kế của cụ Phan Thị K và cụ Phạm Văn P1 chết để lại là diện tích 7.779 m² thể hiện tại các điểm 1,9,10,11,2,12,13,14,3,4,5,26,25,24,23,22,21,7,8 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 02/02/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C1, đất toạ lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Trong đó, diện tích đất 7.256m² đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01777QSDĐ/aF ngày 20/6/1991, thửa số 5606, tờ bản đồ 2, loại đất; LUC mang tên Phan Thị K. Và diện tích 523m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có vị trí liền kề diện tích 7.256m², thửa số 5606, tờ bản đồ 2 thể hiện tại các điểm 1,9,10,11,12,13,14,3,4,15,16,17,18,19,20,8 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 02/02/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C1.

Chia cho ông Phạm Trung H được quyền sử dụng bằng hiện vật là diện tích 6.668m², tương đương giá trị: 6.668m² x 120.000 đồng/m² = 800.160.000 đồng (tám trăm triệu, một trăm sáu mươi nghìn đồng) tại vị trí các điểm 1, 14, 26, 7 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 02/02/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C1 (trong đó bao gồm phần đất nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa tạm (1), (2), (3), (4), (5), (6) có diện tích lần lượt là 78m² + 78m² +77m² +77m² +74m² +71m² = 455m² và phần tại thửa tạm (13), (12), (11), (10), (9), (8) có diện tích lần lượt là 1.041m² + 1.037m² + 1.034m² +1.034m² +1.034m² +1.033m² = 6.213m² thửa số 5606, tờ bản đồ 2, nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01777QSDĐ/aF ngày 20/6/1991 mang tên Phan Thị K). Đất tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

Chia cho những người thừa kế thế vị của ông Phạm Văn C gồm: Phạm Quốc T1, Phạm Thị Mỹ H1, Phạm Quốc T2, Phạm Thị Mỹ T3, Phạm Thị Thanh T4 được sử dụng bằng hiện vật là diện tích 1.111m², tương đương giá trị: 1.111m² x 120.000 đồng/m² = 133.320.000 đồng (một trăm ba mươi ba triệu, ba trăm hai mươi nghìn đồng) tại vị trí các điểm 14, 3, 5, 26 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 02/02/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C1 (trong đó bao gồm phần đất nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa tạm (7) diện tích 68m² và phần tại thửa tạm (14) diện tích 1.043m² thửa số 5606, tờ bản đồ 2, nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01777QSDĐ/aF ngày 20/6/1991 mang tên Phan Thị K).

Ông Phạm Trung H, Phạm Quốc T1, Phạm Thị Mỹ H1, Phạm Quốc T2, Phạm Thị Mỹ T3, Phạm Thị Thanh T4 được quyền liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất được chia theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Ông H là người cao tuổi có đơn xin miễn nộp. Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm; anh Phạm Quốc T1, Phạm Thị Mỹ H1, Phạm Quốc T2, Phạm Thị Mỹ T3, Phạm Thị Thanh T4 phải chịu án phí đối với kỷ phần được hưởng của ông Phạm Văn C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Phạm Trung H và bà Phạm Thị Ú yêu cầu chia di sản thừa kế, bị đơn ông Phạm Văn T và bất động sản tranh chấp tại huyện C, tỉnh An Giang, các bên không có thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp về thừa kế tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

[1.2] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị Như Ý, Phạm Quốc T1, Phạm Thị Mỹ H1, Phạm Quốc T2, Phạm Thị Mỹ T3, Phạm Thị Thanh T4 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có yêu cầu phản tố. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về thời điểm mở thừa kế và thời hiệu khởi kiện:

Cụ Phan Thị K chết ngày 17/7/2010 (Theo trích lục khai tử số 105/TLKT-BS ngày 23/01/2017) và cụ Phạm Văn P1 chết ngày 04/12/1986 (Theo trích lục khai tử số 71/TLKT-BS ngày 17/01/2018). Căn cứ vào Điều 611 Bộ luật dân sự xác định thời điểm mở thừa kế của cụ K là ngày 17/7/2010 và cụ P1 là ngày 04/12/1986.

Ông H, bà Ú là con của cụ P1 và cụ K; ngày 07/02/2023, Ông H, bà Ú làm đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế, người đại diện theo ủy quyền không yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện. Căn cứ khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 là còn thời hiệu khởi kiện.

[2.2] Về di sản thừa kế: Căn cứ vào lời khai của các đương sự, tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập, đủ cơ sở xác định di sản thừa kế của cụ P1 và cụ K là diện tích 7.779m² tại các điểm 1,9,10,11,2,12,13,14,3,4,5,26,25,24,23,22,21,7,8 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 02/02/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C1. Trong đó, diện tích đất 7.256m² toạ lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01777QSDĐ/aF ngày 20/6/1991, thửa số 5606, tờ bản đồ 2, loại đất; LUC mang tên Phan Thị K. Và diện tích 523m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có vị trí liền kề diện tích 7.256m², thửa số 5606, tờ bản đồ 2 thể hiện tại các điểm 1,9,10,11,12,13,14,3,4,15,16,17,18,19,20,8 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 02/02/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C1.

Theo văn bản trả lời của Văn phòng Đ1 chi nhánh C1 ngày 03/01/2024: diện tích 523m² nằm ngoài thửa số 5606, chưa được cấp giấy chứng nhận. Điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 100 của Luật đất đai số 45/2013/QH13 được ban hành ngày 29/01/2013 và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 15/5/2014 về việc quy định chi tiết thi hành một số điều luật đất đai. Ngoài ra, tại bản tự khai ngày 09/3/2024 bà Phạm Thị M, Phạm Thị N cùng trình bày: bà có một phần đất nông nghiệp giáp ranh với phần đất tranh chấp thừa kế hiện nay tọa lạc tại ấp B, xã B. Ranh giới giữa phần đất của bà với phần đất tranh chấp rõ ràng, được xác định bằng trụ đá bê tông và được phân cách bằng bờ mẫu cụ thể. Theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 02/02/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C1 thể hiện tại các điểm tại các điểm 1,9,10,11,2,12,13,14,3,4,5,26,25,24,23,22,21,7,8 có diện tích 7.779m² bà không có ý kiến gì. Vì vậy có căn cứ để xác định di sản thừa kế của cụ K và cụ P1 là diện tích 7.779m² (trong đó có 523m² nằm ngoài thửa số 5606, chưa được cấp giấy chứng nhận). Các bên đương sự được quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

[2.3] Về việc chia thừa kế theo pháp luật: Cụ K và cụ P1 chết không để lại di chúc. Do đó Hội đồng xét xử xác định chia di sản theo pháp luật như yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ.

[2.4] Người thừa kế

Căn cứ Khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự những người thuộc hàng thừa kế của cụ K và cụ P1 gồm: Phạm Văn T, Phạm Thị M, Phạm Hữu Đ, Phạm Thị N, Phạm Thị Ú, Phạm Trung HPhạm Văn C.

Ông Phạm Văn C chết năm 1980 trước cụ K (chết năm 2010) và cụ P1 (chết năm 1986) nên các con công Cát gồm: Phạm Quốc T1, Phạm Thị Mỹ H1, Phạm Quốc T2, Phạm Thị Mỹ T3, Phạm Thị Thanh T4 được thừa kế thế vị phần di sản của cụ K và cụ P1 theo quy định tại Điều 652 Bộ luật dân sự.

[2.5] Về việc phân chia di sản: Ông H yêu cầu chia thừa kế phần đất đo đạc thực tế diện tích 7.779m² thành 07 phần bằng nhau, yêu cầu được nhận hiện vật và đồng ý hoàn lại giá trị cho những người thừa kế khác. Không yêu cầu tính công sức giữ gìn, tôn tạo di sản. Đối với phần hưởng của ông C đồng ý giao cho người thừa kế của ông C được hưởng gồm các con: Phạm Quốc T1, Phạm Thị Mỹ H1, Phạm Quốc T2, Phạm Thị Mỹ T3, Phạm Thị Thanh T4 tại vị trí thửa tạm số (7) và (14) có diện tích 68m² + 1043m² = 1111m².

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đã nhận giá trị của một kỷ phần của ông T là 133.440.000 đồng (tương đương diện tích 1111m²) và đồng ý giao lại kỷ phần của ông Phạm Văn T cho ông H. Đối với phần hưởng của ông C đồng ý giao cho người thừa kế của ông C được hưởng gồm các con: Phạm Quốc T1, Phạm Thị Mỹ H1, Phạm Quốc T2, Phạm Thị Mỹ T3, Phạm Thị Thanh T4 tại vị trí thửa tạm số (7) và (14) có diện tích 68m² + 1043m² = 1111m².

Phạm Thị Ú, Phạm Thị M, bà Phạm Hữu Đ, bà Phạm Thị N đồng ý giao lại kỷ phần được hưởng cho ông Phạm Trung H, không yêu cầu ông H phải hoàn trả lại giá trị. Đối với phần hưởng của ông C đồng ý giao cho người thừa kế của ông C được hưởng gồm các con: Phạm Quốc T1, Phạm Thị Mỹ H1, Phạm Quốc T2, Phạm Thị Mỹ T3, Phạm Thị Thanh T4 tại vị trí thửa tạm số (7) và (14) có diện tích 68m² + 1043m² = 1111m².

Như vậy di sản thừa kế của cụ K và cụ P1 là diện tích 7.779m²/7 phần = 1.111,2m². Bà Phạm Thị Ú, Phạm Thị M, bà Phạm Hữu Đ, bà Phạm Thị N và ông Phạm Văn T đồng ý giao lại kỷ phần cho ông H nên ông H được hưởng 6.668m², tương đương giá trị: 6.668m² x 120.000 đồng/m² = 800.160.000 đồng (tám trăm triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng) tại vị trí các điểm 1, 14, 26, 7 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 02/02/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C1 (trong đó bao gồm phần đất nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa tạm (1), (2), (3), (4), (5), (6) có diện tích lần lượt là 78m² + 78m² +77m² +77m² +74m² +71m² = 455m² và phần tại thửa tạm (13), (12), (11), (10), (9), (8) có diện tích lần lượt là 1.041m² + 1.037m² + 1.034m² +1.034m² +1.034m² +1.033m² = 6.213m² thửa số 5606, tờ bản đồ 2, nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01777QSDĐ/aF ngày 20/6/1991 mang tên Phan Thị K).

Kỷ phần thừa kế ông Phạm Văn C: Các con của ông C không có đơn từ chối nhận di sản thừa kế nên các con ông C được hưởng gồm: Phạm Quốc T1, Phạm Thị Mỹ H1, Phạm Quốc T2, Phạm Thị Mỹ T3, Phạm Thị Thanh T4 được hưởng: Diện tích 1.111m², tương đương giá trị: 1.111m² x 120.000 đồng/m² = 133.320.000 đồng (một trăm ba mươi ba triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng) tại vị trí các điểm 14, 3, 5, 26 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 02/02/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C1 (trong đó bao gồm phần đất nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa tạm (7) diện tích 68m² và phần tại thửa tạm (14) diện tích 1.043m² thửa số 5606, tờ bản đồ 2, nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01777QSDĐ/aF ngày 20/6/1991 mang tên Phan Thị K).

Ông Phạm Trung H, Phạm Quốc T1, Phạm Thị Mỹ H1, Phạm Quốc T2, Phạm Thị Mỹ T3, Phạm Thị Thanh T4 được quyền liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất được chia theo quy định của pháp luật.

[3] Về chi phí tố tụng:

Chi phí đo đạc 1.716.000 đồng, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản 1.400.000 đổng. Ông H đã nộp đủ và tự nguyện chịu toàn bộ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Ông H là người cao tuổi có đơn xin miễn nộp. Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm; anh Phạm Quốc T1, Phạm Thị Mỹ H1, Phạm Quốc T2, Phạm Thị Mỹ T3, Phạm Thị Thanh T4 phải chịu án phí đối với kỷ phần được hưởng của ông Phạm Văn C.

QUYẾT ĐỊNH:

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, khoản 2 Điều 184, Điều 228, Điều 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 611, 612, 613, 649, 651, 652, 660 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 100 của Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Về chia thừa kế: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Trung H chia di sản của cụ Phan Thị K và cụ Phạm Văn P1 thừa kế theo pháp luật.
  2. Xác định di sản thừa kế của cụ Phan Thị K và cụ Phạm Văn P1 chết để lại là diện tích 7.779 m² thể hiện tại các điểm 1,9,10,11,2,12,13,14,3,4,5,26,25,24,23,22,21,7,8 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 02/02/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C1, đất toạ lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Trong đó, diện tích đất 7.256m² đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01777QSDĐ/aF ngày 20/6/1991, thửa số 5606, tờ bản đồ 2, loại đất; LUC mang tên Phan Thị K. Và diện tích 523m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có vị trí liền kề diện tích 7.256m², thửa số 5606, tờ bản đồ 2 thể hiện tại các điểm 1,9,10,11,12,13,14,3,4,15,16,17,18,19,20,8 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 02/02/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C1.

    Chia cho ông Phạm Trung H được quyền sử dụng bằng hiện vật là diện tích 6.668m², tương đương giá trị: 6.668m² x 120.000 đồng/m² = 800.160.000 đồng (tám trăm triệu, một trăm sáu mươi nghìn đồng) tại vị trí các điểm 1, 14, 26, 7 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 02/02/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C1 (trong đó bao gồm phần đất nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa tạm (1), (2), (3), (4), (5), (6) có diện tích lần lượt là 78m² + 78m² +77m² +77m² +74m² +71m² = 455m² và phần tại thửa tạm (13), (12), (11), (10), (9), (8) có diện tích lần lượt là 1.041m² + 1.037m² + 1.034m² +1.034m² +1.034m² +1.033m² = 6.213m² thửa số 5606, tờ bản đồ 2, nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01777QSDĐ/aF ngày 20/6/1991 mang tên Phan Thị K). Đất tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

  3. Chia cho những người thừa kế thế vị của ông Phạm Văn C gồm: Phạm Quốc T1, Phạm Thị Mỹ H1, Phạm Quốc T2, Phạm Thị Mỹ T3, Phạm Thị Thanh T4 được sử dụng bằng hiện vật là diện tích 1.111m², tương đương giá trị: 1.111m² x 120.000 đồng/m² = 133.320.000 đồng (một trăm ba mươi ba triệu, ba trăm hai mươi nghìn đồng) tại vị trí các điểm 14, 3, 5, 26 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 02/02/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh C1 (trong đó bao gồm phần đất nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa tạm (7) diện tích 68m² và phần tại thửa tạm (14) diện tích 1.043m² thửa số 5606, tờ bản đồ 2, nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01777QSDĐ/aF ngày 20/6/1991 mang tên Phan Thị K).
  4. Ông Phạm Trung H, Phạm Quốc T1, Phạm Thị Mỹ H1, Phạm Quốc T2, Phạm Thị Mỹ T3, Phạm Thị Thanh T4 được quyền liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất được chia theo quy định của pháp luật.

  5. Chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc 1.716.000 đồng, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản 1.400.000 đồng. Ông H tự nguyện chịu toàn bộ (đã nộp đủ).
  6. Về án phí:
    • Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Phạm Trung H.
    • Anh Phạm Quốc T1, Phạm Thị Mỹ H1, Phạm Quốc T2, Phạm Thị Mỹ T3, Phạm Thị Thanh T4 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 6.666.000 đồng (sáu triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).

Thời hạn kháng cáo đối với bản án của các đương sự có mặt tại phiên tòa là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Phú;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Lưu VP; hồ sơ.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/DS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp thừa kế tài sản

  • Số bản án: 95/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chia di sản thừa kế (Hiếu - Thiệt)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger