|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 95/2024/DS-PT Ngày 22 - 7 - 2024 V/v Tranh chấp chia di sản thừa kế |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trọng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Huy Cẩn.
Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc: Bà Lê Thị Huệ - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 18/7 và 22/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 06/2024/TLPT-DS ngày 23 tháng 01 năm 2024. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 62/2023/DS-ST ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 49/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Đào Thị L, sinh năm 1949; Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn (bà Đào Thị L): Ông Nguyễn Quốc T - Văn phòng L5 thuộc Đoàn luật sư tỉnh P; địa chỉ: Số A, đường H, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Có mặt tại phiên tòa ngày 18/7, vắng mặt phiên tòa ngày 22/7/2024).
-
Bị đơn: Ông Đào Văn N, sinh năm 1960; Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Đào Văn T1, sinh năm 1981 (con trai ông Đào Văn N); địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).
-
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đào Thị L1, sinh ngày 15/9/1964; Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).
- Bà Đào Thị T2, sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).
- Anh Đào Văn S, sinh năm 1979 (là con trai của bà Đào Thị M – đã chết); Địa chỉ: K, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, (vắng mặt).
- Anh Đào Vạn N1, sinh năm 1983 (là con trai của bà Đào Thị M – đã chết); Địa chỉ: Số nhà G, đường B, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, (vắng mặt).
- Bà Dương Thị T3, sinh năm 1960 (là vợ ông Đào Văn N); Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
-
Anh Đào Văn T1, sinh năm 1981 (con trai ông Đào Văn N); Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Thái N2, sinh năm 1966; địa chỉ: TDP V, thị trấn L, huyện L, Vĩnh Phúc, (có mặt).
- Chị Dương Thị H, sinh năm 1986 (là vợ anh Đào Văn T1); Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1954; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Đào Văn N và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đào Văn T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại phiên toà, nguyên đơn bà Đào Thị L trình bày: Bố bà là cụ Đào Văn L2, sinh năm 1923 (chết năm 2012), mẹ bà là cụ Dương Thị B, sinh năm 1926 (chết năm 1951). Sinh thời cụ L2 và cụ B đều sinh ra và sinh sống tại thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc cho đến khi chết, cụ L2 và cụ B chung sống với nhau từ năm 1945. Cụ L2 và cụ B có 01 người con đẻ duy nhất là bà (Đào Thị L), ngoài ra cụ L2 và cụ B không nhận ai làm con nuôi.
Quá trình chung sống năm 1950 cụ L2 và cụ B có tạo lập được khối tài sản là 01 ngôi nhà gỗ 05 gian (trong đó có gỗ Sưa), trên diện tích đất 864m² thuộc thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Trước khi cụ B chết thì cụ không có ý kiến gì về việc định đoạt tài sản. Sau khi cụ B chết, cụ L2 chung sống với Nguyễn Thị M2, sinh năm 1928 và có 01 người con chung là bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1954. Đến năm 1954 cụ L2 kết hôn với cụ Dương Thị Đ, sinh năm 1930; địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Cụ L2 và cụ Đ có 05 người con là Đào Thị L1, sinh năm 1964, Đào Thị T2, sinh năm 1970, Đào Văn N, sinh năm 1960; đều trú tại: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, Đào Thị H1, sinh năm 1958 (đã chết khi chưa có chồng con), Đào Thị M, sinh năm 1956 (đã chết năm 2002, có chồng đã ly hôn và có 02 con là Đào Văn S và Đào Vạn N3). Năm 1992 thì cụ Đ chết và đến năm 2012 thì bố bà là Đào Văn L2 chết. Trước khi cụ L2 và cụ Đ chết thì không có ý kiến hay văn bản gì thể hiện việc phân chia hay định đoạt tài sản.
Đối với cụ Dương Thị Đ tuy không phải là mẹ đẻ của bà nhưng đã có công chăm sóc, nuôi dưỡng bà từ rất nhỏ sau khi mẹ bà là cụ Dương Thị B chết, cụ Đ đã chăm sóc, nuôi dưỡng bà cho đến khi bà đi xây dựng gia đình riêng. Khi cụ Đ chết thì bà đã thực hiện việc trở tang theo phong tục, tập quán của địa phương như con đẻ.
Quá trình chung sống cụ Đào Văn L2, cụ Dương Thị B và cụ Dương Thị Đ có để lại khối tài sản:
Tài sản thứ nhất: 01 ngôi nhà bằng gỗ (trong đó có gỗ Sưa), ngôi nhà này năm 2018 ông Đào Văn N đã dỡ bỏ để xây 01 ngôi nhà mới trên đất. Anh Đào Văn T1 là người đã bán số gỗ Sưa được 350.000.000 đồng và quản lý toàn bộ số tiền trên.
Tài sản thứ hai: Quyền sử dụng đất diện tích 430m² (diện tích đo đạc thực tế 445,4m2) tại thửa số 422, tờ bản đồ số 5 thuộc thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Quyền sử dụng đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) mang tên Đào Văn L2. Toàn bộ diện tích đất này hiện ông Đào Văn N là người đang quản lý, sử dụng.
Tài sản thứ ba: Quyền sử dụng diện tích đất 200m² (diện tích đo đạc thực tế 274m²) tại thửa số 106, tờ bản đồ số 5 thuộc thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Quyền sử dụng đất đã được cấp GCNQSDĐ mang tên Đào Văn L2. Toàn bộ diện tích đất này hiện anh Đào Văn T1 là người trực tiếp quản lý, sử dụng.
Quá trình chung sống thì ông N đã có hành vi cản trở không cho bà và các chị em khác của bà vào thắp hương cho cụ L2, cụ B và cụ Đ, ông N đã khóa cổng không cho bà và các chị em khác của bà vào nhà. Đối với anh T1 thì có thái độ hỗn láo, thách thức, súc phạm bà và các chị em khác của bà.
Vì vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bà khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết phân chia di sản thừa kế của cụ Đào Văn L2, cụ Dương Thị B và cụ Dương Thị Đ theo pháp luật. Đối với số tiền 350.000.000 đồng bán gỗ sưa, anh T1 đang quản lý, sử dụng thì bà đề nghị anh T1 thanh toán kỷ phần thừa kế cho bà theo pháp luật. Diện tích đất 445,4m² và diện tích đất 274m² thì bà đều xin được hưởng bằng hiện vật. Kỷ phần thừa kế của bà được hưởng bà đề nghị gộp chung với kỷ phần thừa kế của bà Đào Thị L1 và bà Đào Thị T2 cho tiện việc quản lý, sử dụng.
Bị đơn, ông Đào Văn N vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm nhưng quá trình giải quyết vụ án, ông N đã có lời khai, ý kiến trình bày thể hiện: Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Đào Thị L. Toàn bộ diện tích 430m² đất tại thửa số 422, tờ bản đồ số 05 thuộc thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (hiện ông đang quản lý, sử dụng) là đất thờ cúng từ bố ông cho ông (bản thân ông là con trai duy nhất của cụ L2).
Đối với diện tích đất 200m² tại thửa số 106, tờ bản đồ số 05 thuộc thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (hiện con trai ông là anh Đào Văn T1 đang quản lý, sử dụng) thì có nguồn gốc là do vợ chồng ông và cụ L2 cùng góp tiền để mua đất
của Ủy ban nhân dân (UBND) xã L. Tuy nhiên năm 2008 cụ L2 đã cho con trai ông là anh Đào Văn T1, bản thân ông nhất trí, không có ý kiến gì.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đào Thị L1 và bà Đào Thị T2 trình bày: Bà đồng ý với ý kiến và lời trình bày của nguyên đơn, bà Đào Thị L.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đào Văn T1 trình bày: Nguồn gốc diện tích đất 200m² thuộc thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc hiện anh đang quản lý sử dụng có nguồn gốc là do ông nội anh là cụ Đào Văn L2 và bố anh là ông Đào Văn N mua của UBND xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Bản thân anh đã ra ở và xây dựng công trình trên đất từ năm 2000 đến nay. Khi anh ra ở trên đất, xây dựng công trình trên đất thì không có tranh chấp gì với bà L, bà L1, bà T2. Đối với quyền sử dụng đất thì vẫn đứng tên cụ Đào Văn L2. Năm 2008 cụ L2 đã viết giấy cho anh diện tích đất này (có xác nhận của UBND xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc).
Đối với ý kiến trình bày của nguyên đơn, bà Đào Thị L về việc năm 2018 bố anh đã dỡ ngôi nhà 05 gian cũ, anh đã bán gỗ S1 (từ ngôi nhà 05 gian) được 350.000.000 đồng, anh không thừa nhận. Anh cũng không biết ông Lê Xuân C có địa chỉ: Xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc là ai.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Đào Thị L anh không chấp nhận bất cứ yêu cầu nào.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Dương Thị T3: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Bà T3 cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Đào Thị L gửi cho Tòa án. Quá trình Tòa án tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ bổ sung đối với quyền sử dụng đất hiện các đương sự đang tranh chấp (hiện ông Đào Văn N đang quản lý, sử dụng), bà T3 đứng tại cổng nhưng không đồng ý mở cổng để Đại diện Tòa án, Đại diện UBND xã L, huyện V vào gia đình. Bà T3 khẳng định mình không liên quan gì đến vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chị Dương Thị H: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Chị H cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Đào Thị L gửi cho Tòa án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị M1 tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án, bà M1 trình bày: Bà là con chung duy nhất của cụ Đào Văn L2 và cụ Nguyễn Thị M2. Cụ L2 và cụ M2 chung sống với nhau được một thời gian ngắn, sau khi sinh ra bà thì cụ L2 và cụ M2 đã không cùng chung sống với nhau. Sau khi không chung sống với cụ L2, thì cụ M2 đã đưa bà về sinh sống tại xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (bà không mang họ bố mà mang họ mẹ). Bản thân bà thì vẫn thường xuyên đi lại với cụ L2, cụ Đ và các chị em khác của mình (chị em cùng cha khác mẹ). Khi cụ L2 chết thì bà thực hiện việc trở tang của con với bố, hàng năm đến ngày giỗ của các cụ thì bà vẫn có mặt.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Đào Thị L bà không có ý kiến gì, bà không đòi hỏi được chia quyền lợi. Trường hợp bà được hưởng, được chia quyền lợi thì bà tự nguyện nhường toàn bộ cho bà Đào Thị L, ông Đào Văn N, bà Đào Thị L1, bà Đào Thị T2 và bà Đào Thị M (do bà M đã chết nên các con của bà M là Đào Vạn N3 và Đào Văn S được hưởng).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đào Vạn Năng tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án đã có ý kiến thể hiện: Mẹ anh là bà Đào Thị M, sinh năm 1956 (chết năm 2002) là con của cụ Đào Văn L2 và cụ Dương Thị Đ. Bà M thì chết trước cụ Đ và chết sau cụ L2. Bà M có 02 người con là anh (Đào V) và Đào Văn S. Ngoài ra bà M không nhận ai khác làm con nuôi theo quy định của pháp luật hay con nuôi thực tế. Trước khi chết thì bà M đã ly hôn với bố anh theo pháp luật.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Đào Thị L anh không có ý kiến gì. Trường hợp anh được hưởng kỷ phần thừa kế thì anh xin được hưởng bằng hiện vật. Đề nghị gộp phần thừa kế anh được hưởng với phần thừa kế của anh S được hưởng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đào Văn S tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án đã có ý kiến thể hiện: Anh đồng ý với ý kiến trình bày của anh Đào Vạn Năng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn (bà Đào Thị L), ông Nguyễn Quốc T trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2023/DS-ST ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
Căn cứ các Điều 611, 612, 649, 650, 651, 652, 654, 660, 357, 468 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, X:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị L về việc chia di sản thừa kế theo pháp luật của cụ Dương Thị B, cụ Đào Văn L2 và cụ Dương Thị Đ.
- Buộc anh Đào Văn T1 phải trả cho bà Đào Thị L số tiền 140.000.000đ; trả cho bà Đào Thị L1, bà Đào Thị T2, ông Đào Văn N mỗi người 52.500.000đ; trả cho anh Đ3 và anh Đào Văn S mỗi người 26.250.000đ, (tổng 350.000.000 đồng, là tiền bán gỗ sưa tháo dỡ từ ngôi nhà cấp IV, 05 gian xây dựng từ năm 1950 là di sản do cụ B, cụ L2, cụ Đ để lại).
-
Chia cho ông Đào Văn N được quản lý, sử dụng diện tích 227m2 (trong tổng diện tích đất 445,4m2 theo đo đạc thực tế) tại thửa số 422, tờ bản đồ số 5 thuộc thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (theo sơ đồ ký hiệu A1).
- Chia cho bà Đào Thị L, bà Đào Thị L1 và bà Đào Thị T2 được cùng nhau quản lý, sử dụng diện tích đất 130,1m2 (trong tổng diện tích đất 445,4m2 theo đo đạc thực tế) tại thửa số 422, tờ bản đồ số 5 thuộc thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (theo sơ đồ ký hiệu A2) và toàn bộ tài sản là cây cối lâm lộc, công trình, vật kiến trúc gắn liền với đất.
- Trích 38,3m2 (trong tổng diện tích đất 445,4m2 theo đo đạc thực tế) tại thửa số 422, tờ bản đồ số 5 thuộc thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (theo sơ đồ ký hiệu A3) làm lối đi chung của 02 diện tích đất A1 và A2.
- Buộc ông Đào Văn N và bà Dương Thị T3 phải tự tháo dỡ, thu dọn 01 phần mái tôn, diện tích 5,1m2 và 02 Cánh cổng sắt để đảm bảo lối đi chung của 02 diện tích đất A1 và A2 (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
- Buộc ông Đào Văn N phải thanh toán cho bà L, bà L1 và bà T2, mỗi người 24.837.000₫.
- Buộc ông Đào Văn N phải thanh toán cho anh Đào Văn S và anh Đào Văn S mỗi người 36.000.000đ.
-
Chia cho anh Đào Văn T1 sử dụng phần diện tích 136,1m2 (trong đó có 37m2 ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) tại thửa số 106, tờ bản đồ số 05 thuộc thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (theo sơ đồ ký hiệu S1).
-
Chia cho bà Đào Thị L, bà Đào Thị L1 và bà Đào Thị T2 được cùng nhau quản lý, sử dụng diện tích đất 137,9m2 (trong đó có 37m2 ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) tại thửa số 106, tờ bản đồ số 05 thuộc thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (theo sơ đồ ký hiệu S2).
Buộc anh Đào Văn T1 phải tự tháo dỡ, di dời, thu dọn toàn bộ tài sản, công trình, vật kiến trúc trên đất.
-
Buộc anh Đào Văn T1 phải thanh toán cho bà Đào Thị L, bà Đào Thị L1 và bà Đào Thị T2 mỗi người 40.660.000đ; thanh toán cho anh Đ3 và anh Đào Văn S mỗi người 480.000.000đ; thanh toán cho ông Đào Văn N số tiền 960.000.000đ.
(Tổng số tiền anh Đào Văn T1 phải thanh toán cho bà Đào Thị L 180.660.000đ (một trăm tám mươi triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng); thanh toán cho bà Đào Thị L1, bà Đào Thị T2 mỗi người 93.160.000đ (chín mươi ba triệu một trăm sáu mươi ba nghìn đồng); thanh toán cho anh Đào Vạn N3 và anh Đào Văn S mỗi người 506.250.000đ (Năm trăm linh sáu triệu hai trăm lăm mươi nghìn đồng); thanh toán cho ông Đào Văn N 1.012.500.000đ (một tỷ không trăm mười hai triệu lăm trăm nghìn đồng)).
-
Chia cho bà Đào Thị L, bà Đào Thị L1 và bà Đào Thị T2 được cùng nhau quản lý, sử dụng diện tích đất 137,9m2 (trong đó có 37m2 ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) tại thửa số 106, tờ bản đồ số 05 thuộc thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (theo sơ đồ ký hiệu S2).
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo, nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Đào văn N4 và anh Đào văn T1 có đơn kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, đề nghị Hội đồng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm khẳng định trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định; các đương sự đều chấp hành đúng quy định của pháp luật. Kiểm
sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm. Về án phí, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
-
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông N4 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh T1 được làm trong hạn luật định; đơn hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Về tố tụng: Đối với anh Đào Văn S và anh Đào Vạn Năng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M1, bà Dương Thị T3 và chị Dương Thị H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do Vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Đối với cụ Nguyễn Thị M2, sinh năm 1928; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc là người đã có thời gian chung sống với cụ Đào Văn L2 và có 01 người con chung là bà Nguyễn Thị M1, xác định mình không có quyền lợi hay nghĩa vụ gì trong vụ án, cấp sơ thẩm không đưa cụ M2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là phù hợp.
- Tại cấp sơ thẩm ngày 30/8/2023, bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1940; địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc có đơn đề nghị gửi Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường thể hiện chồng bà là ông Đào Văn T4 có nhận cụ Đào Văn L2 làm bố (nhưng chỉ đi lại với nhau trên tình cảm). Nay đối với việc tranh chấp di sản thừa kế theo đơn khởi kiện của bà Đào Thị L thì bà và các con của bà và ông T4 là Đào Văn K, Đào Văn T5, Đào Thị L3, Đào Thị N5, Đào Thị Đ2 đều xác định không có quyền lợi hay nghĩa vụ gì trong vụ án. Do đó, cấp sơ thẩm không xác định những người có tên trên là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là có căn cứ, đúng quy định.
-
Xét nội dung kháng cáo của bị đơn Hội đồng xét xử thấy rằng:
- Về nội dung: Cụ Đào Văn L2, sinh năm 1923 (chết năm 2012) và cụ Dương Thị B, sinh năm 1926 (chết năm 1951); cụ L2 và cụ B chung sống với nhau từ năm 1945. Cụ L2 và cụ B có 01 người con đẻ duy nhất là bà Đào Thị L, ngoài ra cụ L2 và cụ B không có người con nào khác, kể cả con nuôi. Quá trình chung sống năm 1950 cụ L2 và cụ B có tạo lập được khối tài sản là 01 ngôi nhà gỗ 05 gian (trong đó có gỗ Sưa), trên diện tích đất 864m² thuộc thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Trước khi cụ B chết thì cụ không có ý kiến gì về việc định đoạt tài sản.
- Sau khi cụ B chết, cụ L2 chung sống với cụ Nguyễn Thị M2, sinh năm 1928 và có 01 người con chung là bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1954. Đến năm 1954 cụ L2 kết hôn với cụ Dương Thị Đ, sinh năm 1930; cụ L2 và cụ Đ có 05 người con là bà Đào Thị L1, bà Đào Thị T2, ông Đào Văn N, bà Đào Thị H1, sinh năm 1958 (đã chết khi chưa có chồng con) và bà Đào Thị M, sinh năm 1956 (đã chết năm 2002, có chồng đã ly hôn và có 02 con là Đào Văn S và Đào Vạn N3). Năm 1992 thì cụ Đ chết và đến năm 2012
- cụ L2 chết. Trước khi cụ L2 và cụ Đ chết thì không có ý kiến hay văn bản gì thể hiện việc phân chia hay định đoạt tài sản.
-
Quá trình chung sống cụ Đào Văn L2, cụ Dương Thị B và cụ Dương Thị Đ có để lại khối tài sản:
Tài sản thứ nhất: 01 ngôi nhà bằng gỗ (trong đó có gỗ Sưa), ngôi nhà này năm 2018 ông N đã dỡ bỏ để xây 01 ngôi nhà mới trên đất, anh T1 là người đã bán số gỗ Sưa được 350.000.000 đồng và quản lý toàn bộ số tiền trên.
Tài sản thứ hai: Quyền sử dụng đất diện tích 430m² (diện tích đo đạc thực tế 445,4m²) tại thửa số 422, tờ bản đồ số 5 thuộc thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; đất đã được cấp GCNQSDĐ mang tên Đào Văn L2, toàn bộ diện tích đất này hiện ông N là người đang quản lý, sử dụng.
Tài sản thứ ba: Quyền sử dụng diện tích đất 200m² (diện tích đo đạc thực tế 274m²) tại thửa số 106, tờ bản đồ số 5 thuộc thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; đất đã được cấp GCNQSDĐ mang tên Đào Văn L2, toàn bộ diện tích đất này hiện anh T1 là người trực tiếp quản lý, sử dụng.
- Đối với GCNQSDĐ cấp cho ông Đào Văn L2, quá trình giải quyết vụ án anh T1 thừa nhận đang quản lý, tuy nhiên anh không giao nộp cho Tòa án, trong khi các cơ quan quản lý không còn lưu giữ được hồ sơ cấp giấy chứng nhận và quyết định cấp giấy. Căn cứ lời khai của các đương sự, sổ cấp giấy chứng nhận, bản phô tô giấy chứng nhận do nguyên đơn cung cấp thì toàn bộ diện tích của 02 thửa được cấp giấy chứng nhận đều là đất thổ cư, do đó hội đồng xét xử sẽ phân chia quyền sử dụng đất và xác định toàn bộ là đất thổ cư theo sổ sách và giấy chứng nhận đã cấp. Sau này khi thực hiện việc cấp giấy chứng nhận, thực hiện thủ tục hành chính cơ quan quản lý đất đai sẽ xác định theo đúng quy định của luật đất đai và các văn bản hướng dẫn.
- Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đều không có ý kiến đề nghị áp dụng thời hiệu khởi kiện trong vụ án, vì vậy cấp sơ thẩm không xem xét áp dụng thời hiệu khi xét xử vụ án là đúng quy định.
-
Về xác định diện, hàng thừa kế: Quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều khẳng định, khi còn sống cụ L2 chung sống với 03 người phụ nữ. Trong đó, giữa cụ L2 và là cụ Dương Thị B có 01 người con chung là bà L; cụ L2 chung sống với cụ Nguyễn Thị M2 thời gian ngắn có 01 người con chung là bà Nguyễn Thị M1; cụ L2 và cụ Dương Thị Đ có các người con gồm: Ông Đào Văn N, bà Đào Thị L1, bà Đào Thị T2, bà Đào Thị H1 (đã chết khi còn nhỏ và không có chồng, con gì) và bà Đào Thị M đã chết năm 2002), bà M có các con là anh Đào Vạn N3 và anh Đào Văn S.
- Đối với cụ M2 thì xác định mình không có quyền lợi hay nghĩa vụ gì trong vụ án. Đối với bà L không phải là con đẻ của cụ Đ nhưng sau khi mẹ đẻ của bà L là cụ Dương Thị B chết (năm 1951) thì bà L được cụ Đ chăm sóc, nuôi dưỡng (khi đó bà L chỉ mới 03 tuổi) cho đến khi bà L đi xây dựng gia đình. Khi cụ Đ chết thì bà L đã thực hiện việc trở tang theo phong tục, tập quán của địa phương như
- con đẻ với mẹ ruột. Vì vậy bà L có quyền và được hưởng di sản thừa kế của cụ Đ theo quy định tại Điều 654 của Bộ luật Dân sự.
- Cụ B (chết năm 1951), diện và hàng thừa kế của cụ B là cụ L2 và bà L. Cụ Đ (chết năm 1992) diện và hàng thừa kế của cụ Đ là cụ L2, bà L, ông N, bà T2, bà L1 và bà M (đã chết nên anh Đào Vạn N3 và anh Đào Văn S được thừa kế quyền lợi của bà M). Cụ L2 (chết năm 2012), diện và hàng thừa kế của cụ L2 gồm bà Đào Thị L, ông Đào Văn N, bà Đào Thị L1, bà Đào Thị T2, bà Nguyễn Thị M1, bà Đào Thị M (đã chết trước cụ L2 nên anh Đào Vạn N3 và anh Đào Văn S được thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật). Cấp sơ thẩm xác định diện, hàng thừa kế của cụ B, cụ Đ và cụ L2 là đúng quy định.
-
Về xác định di sản và phân chia di sản thừa kế: Đối với tài sản thứ nhất số tiền 350.000.000 đồng bán gỗ sưa: Bà L, bà L1, bà T2 trình bày trong quá trình cụ L2 chung sống với cụ B thì năm 1950, cụ L2 và cụ B có cùng nhau tạo lập được 01 ngôi nhà 05 gian bằng gỗ (trong đó có gỗ sưa). Lý do các bà biết ngôi nhà này được xây dựng từ năm 1950 là do các cụ kể lại và trên thanh xà ngang cột nhà có ghi năm xây dựng là 1950. Năm 2018 ông N đã dỡ ngôi nhà trên để xây dựng 01 ngôi nhà mới, anh T1 đã bán gỗ Sưa được số tiền 350.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án mặc dù anh T1 không thừa nhận có số gỗ sưa trên và bán được số tiền 350 triệu, tuy nhiên trên cơ sở lời trình bày của bà L, bà L1 và bà T2 cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ là các bức ảnh chụp 03 thanh gỗ sưa; chứng cứ thể hiện việc ông Nguyễn Tiến V, địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc là người đã trả giá để mua gỗ Sưa với anh T1, số tiền 320.000.000 đồng nhưng anh T1 không bán. Quan trọng nhất đặc biệt là lời khai của người mua số gỗ sưa là ông Lê Xuân C, sinh năm 1965; địa chỉ: Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc với số tiền 350.000.000 đồng.
- Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm đã tiến hành làm việc, lấy lời khai đối với ông Lê Xuân C, trong đó ông C khẳng định ông không có quan hệ anh em họ hàng, không có mâu thuẫn gì với các đương sự trong vụ án, ông trình bày: Bản thân ông là người buôn gỗ sưa, ông khẳng định năm 2018 ông có mua của anh T1 85kg gỗ sưa với giá 350.000.000đ, ông trực tiếp mua và giao tiền tại nhà anh T1, ông C cho biết thêm lý do ông đứng ra làm chứng vì số gỗ sưa này được dỡ ra từ ngôi nhà cổ của các cụ và mang tính tâm linh. Việc trình bày của ông V, ông C về việc mua bán gỗ sưa với anh T1 cũng phù hợp với lời trình bày của ông N trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm. Do tài sản này được hình thành từ năm 1950 khi đi cụ L2 và cụ B đang chung sống cùng nhau, nên cấp sơ thẩm xác định đây là tài sản chung của cụ L2 và cụ B đồng thời xác định số tiền anh T1 là người đang quản lý toàn bộ 350.000.000₫ là có căn cứ.
- Đối với số tiền trên cụ B và cụ L2 mỗi người là chủ sở hữu 1/2, tương ứng 175.000.000đ. Cụ B chết năm 1951 nên phần di sản của cụ B được chia cho cụ L2 và bà L mỗi người 1/2 phần di sản của cụ B, tương ứng 87.500.000đ; như vậy cụ L2 được hưởng tổng số tiền 262.500.000đ (175.000.000đ + 87.500.000₫), bà L được hưởng 87.500.000đ. Sau khi cụ B chết, thì cụ L2 kết hôn với cụ Dương Thị Đ, quan hệ hôn nhân được hình thành trong thời kỳ Luật Hôn nhân và gia
- đình năm 1959 có hiệu lực. Vì vậy tài sản của cụ L2 được hưởng nêu trên đã trở thành tài sản sản chung của cụ L2 và cụ Đ trong thời kỳ hôn nhân theo quy định tại Điều 15 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959. Cụ L2 và cụ Đ mỗi người được hưởng 1/2 giá trị tài sản, tương ứng số tiền 131.250.000₫ (262.500.000đ : 2). Cụ Đ (chết năm 1992), phần di sản của cụ Đ được chia cho 06 người là cụ L2, bà L, ông N, bà L1, bà T2, bà M (anh N3 và anh S được thừa kế), kỷ phần mỗi người được hưởng là 21.875.000đ. Anh N3 và anh S mỗi người được hưởng 10.937.500đ. Năm 2012 cụ L2 chết, di sản của cụ L2 153.125.000₫ (131.250.000đ + 21.875.000đ) được chia đều cho 06 người con là bà L, ông N, bà L1, bà T2, bà M (do bà M đã chết nên các con của bà M là anh Đào Vạn N3 và anh Đào Văn S được thừa kế) và bà M1 mỗi kỷ phần được hưởng tương ứng là 25.520.000đ (làm tròn). Anh N3 và anh S mỗi người được hưởng ½ kỷ phần tương ứng 12.760.000 đồng.
- Do bà M1 tự nguyện nhường phần di sản mình được hưởng cho bà L, ông N, bà L1, bà T2, bà M (do bà M đã chết nên anh S và anh N3 được hưởng phần quyền lợi của bà M) nên bà L, ông N, bà L1, bà T2 mỗi người được hưởng số tiền 5.104.000 đồng (25.520.000đ/05); anh N3 và anh S mỗi người được hưởng 2.552.000₫ (5.104.000đ/2). Như vậy, sau khi chia thừa kế, bà L được 139.999.000₫ (87.500.000đ + 21.875.000đ + 25.520.000đ + 5.104.000đ); ông N, bà L1, bà T2 mỗi người được 52.499.000đ (21.875.000đ + 25.520.000đ + 5.104.000₫); anh N3 và anh S mỗi người được 26.249.500₫ (10.937.500đ + 12.760.000đ + 2.552.000₫).
- Do anh T1 là người đang quản lý toàn bộ số tiền 350.000.000 đồng nếu trên, nên cần buộc anh T1 phải thanh toán trả cho bà L, ông N, bà L1, bà T2, anh S và anh N3 số tiền được chia thừa kế theo quy định của pháp luật nêu trên.
-
Đối với tài sản thứ hai là quyền sử dụng thửa đất số 422, tờ bản đồ số 5, diện tích 430m² đất thổ cư (đo thực tế 445,4m²) thuộc thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, đã được cấp GCNQSDĐ mang tên ông Đào Văn L2. Bà L và các đương sự khác trong vụ án đều xác định đây là tài sản chung của cụ L2 và cụ Dương Thị Đ. Bà L không có ý kiến đề nghị xác định là tài sản của cụ B. Diện tích đất đo đạc thực tế lớn hơn diện tích đất tại GCNQSDĐ là 15,4m². Tuy nhiên căn cứ kết quả xác minh tại UBND xã L xác định việc sử dụng đất không có tranh chấp về mốc giới với các hộ liền kề, đã được phân định, xác định mốc giới nên xác định toàn bộ diện tích 445,4m² đất là di sản của cụ L2 và cụ Đ để lại. Căn cứ kết quả định giá của Hội đồng định giá xác định, giá trị quyền sử dụng đất là 1.000.000 đồng/01m². Từ khi Tòa án cấp sơ thẩm có Quyết định thành lập hội đồng định giá, đưa ra giá, kết luận về giá thì các đương sự đều không có ý kiến khiếu nại về việc định giá, khiếu nại về giá nên cấp sơ thẩm căn cứ vào giá do Hội đồng định giá kết luận để làm căn cứ giải quyết vụ án. Tổng giá trị di sản theo kết quả định giá là 445.400.000 đồng.
- Quá trình giải quyết vụ án ông N và người đại diện cho rằng toàn bộ diện tích đất tại thửa số 422, tờ bản đồ số 05 là đất ông được hưởng thờ cúng (vì ông là con trai trưởng). Tuy nhiên, ông N và người đại diện không có bất kỳ tài liệu giấy tờ gì chứng minh ông được cụ Lưu tặng cho, được hưởng để thờ cúng, trong khi đó GCNQSDĐ vẫn mang tên cụ Đào Văn L2; ông N chưa bao giờ kê
- khai và cũng không có tên trong bất kỳ sổ sách tài liệu gì của cơ quan nhà nước. Do đó cấp sơ thẩm xác định đây là di sản của cụ L2 và cụ Đ và chia thừa kế theo pháp luật là hoàn toàn có căn cứ đúng quy định.
-
Về việc phân chia cụ thể: Cấp sơ thẩm cho rằng bản thân ông N là con trai duy nhất của cụ L2, ông N đã ở trên đất từ nhỏ đến nay, là người thực hiện việc làm ma và cúng giỗ cho các cụ theo phong tục, tập quán của địa phương nên trích 01 phần công sức bằng quyền sử dụng đất 47,1m² cho ông N là chưa phù hợp, vì thực tế trước đây thửa đất của cụ L2 là thửa lớn, diện tích hơn 800m², năm 1993 khi làm thủ tục cấp GCNQSDĐ, cụ L2 đã tách đôi, trong đó cho ông N ½ thửa đất (hơn 400m²), cụ L2 đứng tên 1/2. Tuy nhiên, sau khi cấp sơ thẩm xét xử anh N3 và anh S đều nhất trí, tại phiên tòa phúc thẩm bà L, bà L1, bà T2 đều nhất trí và không có ý kiến gì về việc trích công sức cho ông N diện tích đất 47,1m², do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm không điều chỉnh, sửa về nội dung này.
Để thực hiện chia di sản bằng hiện vật một cách phù hợp, đúng quy định, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đảm bảo việc sử dụng ổn định, hiệu quả các công trình có trên đất cho gia đình ông N, cấp sơ thẩm thực hiện việc trích 01 phần đất là 38,3m² (trong đó 15,4m² đất tăng thêm) làm lối đi chung giữa diện tích đất xem xét chia cho bà L, bà L1, bà T2 và phần đất xem xét chia cho ông N là phù hợp (vì phần đất có thể cắt để chia bằng hiện vật ở phía trong, cần phải mở lối đi chung).
- Diện tích 360m² đất còn lại, cụ L2 và cụ Đ mỗi người được 1/2 tương ứng diện tích 180m². Phần di sản của cụ Đ được chia đều cho 06 người gồm: Cụ L2, bà L, ông N, bà T2, bà L1 và bà M (bà M đã chết nên anh N3 và anh S được thừa kế). Kỷ phần bà L, ông N, bà T2, bà L1 mỗi người được chia là 30m²; anh N3 và anh S mỗi người được chia 15m². Phần di sản của cụ L2 210m² (trong đó có 180m² của cụ + 30m² 1 suất kỷ phần được hưởng của cụ Đ) được chia 06 người gồm: Bà L, ông N, bà L1, bà T2, bà M (bà M đã chết nên anh N3 và anh S được thừa kế) và bà M1. Kỷ phần mỗi người được chia là 35m² (anh N3 và anh S mỗi người được hưởng 17,5m²). Do bà M1 tự nguyện nhường kỷ phần thừa kế được hưởng cho bà L, ông N, bà L1, bà T2 và M (bà M đã chết nên anh N3 và anh S được thừa kế) nên bà L, ông N, bà L1, bà T2 mỗi người được hưởng 07m². Anh N3 và anh S mỗi người được hưởng 3,5m2. Tổng diện tích đất bà L, bà L1 và bà T2 được chia là 216m², tương ứng số tiền 216.000.000 đồng, (kỷ phần của mỗi người là 72m² đất trị giá 72.000.000 đồng). Ông N được chia diện tích đất 119,1m² (tương ứng với số tiền 119.100.000 đồng). Anh N3 và anh S được chia diện tích đất 72m² (tương ứng số tiền 72.000.000 đồng, kỷ phần của mỗi người là 36.000.000 đồng).
- Đối với di sản là quyền sử dụng thửa đất số 422, tờ bản đồ số 5, diện tích 445,4m² đất là di sản của cụ L2 và cụ Đ, trên cơ sở ý kiến, nguyện vọng của các bên cấp sơ thẩm thực hiện việc chia thừa kế bằng hiện vật là có căn cứ đúng quy định. Tại cấp sơ thẩm anh N3 và anh S đề nghị được chia bằng hiện vật (đối với kỷ phần của mẹ các anh nếu còn sống), do đó đáng lẽ ra trên cơ sở cân đối tất cả các di sản của các cụ để lại, cần chia cho anh S và anh Năng kỷ p mà mẹ anh nếu còn sống được hưởng bằng hiện vật (quyền sử dụng đất) đối với di sản này
-
mới là phù hợp. Tuy nhiên sau khi xét xử sơ thẩm xong (cấp sơ thẩm chia kỷ phần các anh được hưởng đều bằng tiền) nhưng anh S và anh N3 đều không kháng cáo, nhất trí với bản án sơ thẩm. Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, anh N3 và anh S gửi đơn xin xét xử vắng mặt, đồng thời có ý kiến nhất trí với bản án sơ thẩm, các anh đều đề nghị nhận bằng tiền mặt, không yêu cầu chia bằng hiện vật nữa. Xét thấy, nguyện vọng của anh S và anh N3 là chính đáng, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm không sửa bản án để xem xét việc chia bằng hiện vật cho anh N3 và anh S.
Trên cơ sở xem xét ý kiến, nguyện vọng của các đương sự khác thuộc hàng thừa kế thứ nhất, khối di sản để lại để chia cho anh N3 và anh S toàn bộ kỷ phần được hưởng giá trị bằng tiền thay vì hiện vật. Bà L, bà L1 và bà T2 trình bày kỷ phần của các bà được chia bằng hiện vật (đối với cả hai thửa đất), đề nghị được gộp chung để quản lý chung, sau này các bà tự thống nhất phân chia sau. Mặc dù đã được giải thích pháp luật về việc sau này không thống nhất được có thể sẽ tranh chấp phức tạp, tuy nhiên các bà vẫn đề nghị chia gộp kỷ phần các bà được hưởng, không cần tách bạch vị trí, diện tích, kích thước cụ thể, các bà xin tự chịu trách nhiệm về các vấn đề có thể phát sinh. Việc bà L, bà L1 và bà T2 đề nghị không trái pháp luật nên cấp sơ thẩm chấp nhận và chia gộp kỷ phần được hưởng của các bà là đúng quy định. Nếu sau này các bên có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
-
Căn cứ kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án đối với quyền sử dụng đất, các công trình xây dựng trên đất của ông N và bà T3, nhu cầu sử dụng đất của ông N, bà L, bà L1 và bà T2; đảm bảo giá trị các công trình trên đất (trong đó có ngôi nhà 2 tầng kiên cố, lợp mái ngói của ông N, bà T3), cũng như tránh xáo trộn cuộc sống, ảnh hưởng hoạt động kinh tế của ông N bà T3, cấp sơ thẩm cân đối và chia cho ông N được quản lý, sử dụng diện tích đất 277,0m² và chia cho bà L, bà L1 và bà T2 được cùng nhau quản lý, sử dụng diện tích đất 130,1m², đồng thời trích 38,3m² đất làm lối đi chung cho 02 diện tích đất đã được chia cho ông N, chia cho bà L, bà L1 và bà T2, người được chia nhiều hơn so với kỷ phần được hưởng có trách nhiệm thanh toán chênh lệch giá trị bằng tiền là hoàn toàn phù hợp.
Trên diện tích đất bà L, bà L1 và bà T2 được chia có một số cây cối, lâm lộc, công trình, vật kiến trúc của ông N (04 cây Dừa, 03 cây Sưa, 01 cây Nhãn, 01 cây Ôi, 01 cây Mít, 01 cây Bưởi và 01 gian chuồng chăn nuôi, lợp pờ lô xi măng và ngói). Tổng giá trị tài sản là 11.390.000 đồng. Tất cả các tài sản trên là tài sản hợp pháp của ông N, bà T3 khi ông N và bà T3 xây dựng, kiến thiết thì bà L, bà L1, bà T2 đều không có ý kiến gì, do đó cần buộc bà L, bà L1, bà T2 phải thanh toán giá trị các tài sản có trên đất cho ông N và bà T3.
- Kỷ phần của ông N được hưởng là 119,1m² nhưng được chia 277m², do đó ông N phải thanh toán cho bà L, bà T2, bà L1 giá trị của 85,9m² đất tương ứng với số tiền 85.900.000 đồng (kỷ phần của mỗi người là 28.633.000 đồng); thanh toán cho anh N3 và anh S giá trị 72m² đất tương ứng với số tiền 72.000.000 đồng (kỷ phần của mỗi người là 36.000.000 đồng). Tuy nhiên bà L, bà
- L1 và bà T2 phải thanh toán giá trị tài sản trên đất cho ông N, bà T3 11.390.000 đồng. Sau khi đối trừ nghĩa vụ thì ông N phải thanh toán cho bà L, bà L1 và bà T2 số tiền 74.510.000 đồng (85.900.000 đồng - 11.390.000 đồng), mỗi người là 24.837.000đồng (làm tròn). Bà L, bà L1, bà T2 được cùng nhau quản lý, sở hữu các tài sản trên diện tích đất mà mình được chia.
-
Đối với tài sản thứ ba là quyền sử dụng 200m² đất thổ cư, thửa đất số 106, tờ bản đồ số 5 (Diện tích đo đạc thực tế 274m²), thuộc thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, đã được cấp GCNQSDĐ ngày 30/3/1993 mang tên cụ Đào Văn L2. Các đương sự đều xác nhận về nguồn gốc do cụ L2 đấu giá năm 1990 của UBND xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi cụ L2 đấu giá đất năm 1990 thì cụ Đ vẫn còn sống. Quá trình giải quyết vụ án ông N cho rằng việc đấu giá đất là cả ông và cụ L2 cùng nhau thực hiện, nhưng ông N không giao nộp được bất cứ tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ. Trong khi đó anh Đào Văn T1 cho rằng mình đã được cụ Đào Văn L2 cho toàn bộ diện tích đất tại thửa số 106, tờ bản đồ số 05 (theo “Đơn xin đề nghị” đề ngày 05/3/2008) nhưng khi cụ L2 còn sống anh T1 không thực hiện việc đăng ký, kê khai đối với quyền sử dụng theo quy định tại Điều 95 Luật Đất đai năm 2013. Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm đã nhiều lần yêu cầu anh T1 giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ là bản chính đơn cho đất đề ngày 05/3/2008 nhưng anh T1 đều từ chối (chỉ cho xem).
- Bà L, bà L1 và bà T2 đều cho rằng chữ ký, chữ viết tại giấy cho đất ngày 05/3/2008 không phải là chữ ký, chữ viết của cụ L2 nên đề nghị Tòa án trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết “Lưu, Đào Văn L2” tại “Đơn xin đề nghị” ngày 05/3/2008. Theo đề nghị của bà L Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường đã có văn bản trao đổi với V1 Bộ C1 (tại thành phố Hà Nội) đề nghị việc giám định chữ ký, chữ viết “Lưu, Đào Văn L2” tại “Đơn xin đề nghị”. V1 Bộ C1 trả lời không có căn cứ để giám định đối với tài liệu đề nghị giám định không phải là bản chính.
-
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, anh T1 có giao nộp bản chính đơn cho đất đề ngày 05/3/2008. Xem xét “Đơn xin đề nghị” ngày 05/3/2008 thấy rằng có rất nhiều điểm bất hợp lý, không phù hợp cụ thể:
- Về mặt hình thức: Mặc dù đơn có xác nhận của UBND xã, tuy nhiên không thể hiện ngày tháng năm xã xác nhận, bản thân ông Khổng Duy B1 – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L thời điểm bấy giờ là người xác nhận vào đơn, nhưng nội dung trình bày không thống nhất, ban đầu ông trình bày khi ký xác nhận vào đơn có cả anh T1 và cụ L2, sau đó ông lại thay đổi nội dung trình bày do thời gian đã lâu, ông không nhớ nội dung đơn, không nhớ tại thời điểm ký xác nhận có những ai vì hàng ngày ông phải ký xác nhận chứng thực nhiều biên bản. Nội dung xác nhận của Ủy ban ở mặt riêng biệt. Người viết hộ đơn là ông Dương Đức L4 (là bố vợ anh Đào Văn T1), mặc dù ông L4 thừa nhận có viết hộ đơn nhưng ông L4 cũng không ký vào đơn; trong đơn chỉ có chữ ký của anh Đào Văn T1, ngoài ra có chữ ký “Lưu” trong đơn, tuy nhiên chữ ký “Lưu” trong đơn nét run, ký không đúng vị trí ghi chữ “Đào Văn L2”, ngoài ra không có bất kỳ người làm chứng nào.
- Anh T1 cho rằng chữ ký “Lưu” là chữ ký của cụ L2 trực tiếp ký vào, trong khi bà L, bà L1 và bà T2 cho rằng giấy trên là giả, cụ Lưu k cho anh T1 và ông N đất. Bà L làm đơn đề nghị giám định chữ ký trong đơn và đề nghị sử dụng chữ ký trong giấy khai sinh gốc nộp tại Tòa án trong đó có chữ ký của cụ L2. Tuy nhiên anh T1 và người đại diện cho rằng chữ ký mẫu đó không đảm bảo giá trị pháp lý, không thừa nhận. Tòa án yêu cầu các đương sự cung cấp các mẫu chữ ký của cụ L2 cùng thời điểm, tuy nhiên tất cả các đương sự đều khẳng định không cung cấp được mẫu chữ ký cùng thời điểm để giám định, đồng thời bà L cũng rút yêu cầu giám định. Việc không giám định chữ ký do các đương sự không cung cấp được mẫu chữ ký để giám định (mẫu có trong hồ sơ thì các đương sự không thừa nhận), không đề nghị giám định. Trong trường hợp này kể cả chữ “L2” trong đơn đúng là chữ ký của cụ L2 thì cũng không chắc chắn đảm bảo tính khách quan, vì thời điểm năm 2008 cụ L2 đã rất cao tuổi (85 tuổi), sức khỏe kém, trí tuệ, độ minh mẫn khó đảm bảo, trong khi không có bất kỳ người nào làm chứng.
- Về mặt nội dung: “Đơn xin đề nghị” có nội dung rất chung chung, không thể hiện rõ việc tặng cho hay thừa kế diện tích đất trên, số ô, số thửa, diện tích, vị trí cụ thể. Hơn nữa đây là tài sản chung của cụ L2 và cụ Đ, nên cụ L2 cũng không thể định đoạt toàn bộ diện tích đất này được. Trong suốt thời gian cụ L2 còn sống từ năm 2008 đến năm 2012 khi cụ L2 mất và sau khi cụ L2 mất anh T1 không làm bất kỳ thủ tục gì về việc kê khai đăng ký, làm các thủ tục sang tên giấy chứng nhận theo quy định (giấy chứng nhận vẫn đứng tên cụ L2).
- Ngoài ra đối với việc giao nộp chứng cứ tài liệu, tại cấp sơ thẩm Tòa án đã nhiều lần yêu cầu anh T1 giao nộp tài liệu chứng cứ là bản gốc đơn cho đất, tuy nhiên anh T1 không chấp hành, cố tình không giao nộp (anh T1 mang đến Tòa án xuất trình cho xem, nhưng không giao nộp), đến cấp phúc thẩm mới giao nộp, do đó về nguyên tắc không được xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
Như vậy không có căn cứ xác định cụ L2 đã cho anh T1 quyền sử dụng 200m² đất thổ cư, thửa đất số 106, tờ bản đồ số 5, thuộc thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, đã được cấp GCNQSDĐ mang tên cụ Đào Văn L2. Qua xem xét thẩm định tại chỗ, diện tích thực tế là 274m², xác minh tại địa phương được biết việc diện tích tăng là do sai số do đo đạc, thời điểm giao đất đã lâu, công tác giao và quản lý của Hợp tác xã không chặt chẽ, tuy nhiên anh T1 và gia đình vẫn sử dụng ổn định, không tranh chấp với ai, không vi phạm quy hoạch, do đó cấp sơ thẩm xác định toàn bộ diện tích 274m² đất là di sản của cụ L2 và cụ Đ để lại và chia thừa kế theo quy định là có căn cứ.
- Quá trình giải quyết vụ án anh T1 đã chống đối, cản trở quyết liệt, không cho Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đối với tài sản tranh chấp theo quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã có thông báo yêu cầu anh T1 chấm dứt hành vi cản trở việc định giá, hoãn việc xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản nhiều lần do sự chống đối, không hợp tác của anh T1. Do anh T1 chống đối, không hợp tác việc định giá tài sản nên Hội đồng định giá không có cơ sở để xác định giá trị các tài sản trên diện
- tích đất hiện các đương sự đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng, sở hữu hợp pháp của anh T1 và chị H. Tại cấp phúc thẩm anh T1 cũng không đồng ý việc thẩm định lại, bản thân anh T1 và các đương sự cũng không ai có ý kiến thắc mắc gì về tài sản có trên đất và giá trị các tài sản có trên đất. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào kết quả thẩm định của Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết. Việc anh T1 và gia đình chống đối, không hợp tác, không cho thẩm định định giá thì anh T1 và gia đình phải tự chịu trách nhiệm. Hội đồng định giá cấp sơ thẩm xác định giá trị quyền sử dụng đất hiện các đương sự đang tranh chấp là 20.000.000 đồng/01m². Anh T1 và các đương sự khác trong vụ án đều không có ý kiến, khiếu nại về giá do Hội đồng định giá kết luận. Vì vậy Hội đồng xét xử sơ thẩm căn cứ vào giá do Hội đồng định giá kết luận để làm căn cứ, cơ sở giải quyết vụ án và xác định tổng giá trị di sản theo kết quả định giá là 5.480.000.000 đồng là có căn cứ đúng quy định.
-
Về việc phân chia cụ thể: Đối với việc quản lý sử dụng thửa đất số 106, tờ bản đồ số 5 diện tích 200m² (đo thực tế 274m²), anh T1 trình bày năm 2000, cụ L2 nói với ông N làm nhà cho anh thì cụ sẽ cho đất, sau đó ông N làm nhà 2 tầng cho anh và anh ở đó kinh doanh (cụ L2 có ở cùng anh một vài năm), đến năm 2003 anh lập gia đình và đến năm 2015 anh sửa nhà như hiện nay. Trong khi đó bà L, bà T2 và bà L1 trình bày thời điểm năm 2000 thì cụ L2 có làm gian quán để bán hàng, đến năm 2015 anh T1 mới làm nhà. Mặc dù các bên đương sự có xuất trình các giấy xác nhận về thời điểm làm nhà khác nhau, theo lời trình bày của các bên, nhưng đến nay cũng không có tài liệu chính xác chứng minh cho lời khai của các bên.
Từ khi được trực tiếp quản lý sử dụng diện tích đất trên, anh T1 ngoài việc quản lý còn sử dụng để kinh doanh phục vụ cuộc sống gia đình, như vậy là đã được hưởng lợi từ việc sử dụng đất, cấp sơ thẩm xác định quá trình anh T1 quản lý sử dụng có công sức tôn tạo duy trì tài sản, từ đó trích công sức cho anh T1 34m² đất là chưa phù hợp. Tuy nhiên, sau khi cấp sơ thẩm xét xử anh N3 và anh S đều nhất trí, tại phiên tòa phúc thẩm bà L, bà L1, bà T2 không có ý kiến gì về việc trích công sức cho anh T1, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét sửa về nội dung này.
- Diện tích 274m² đất ở, sau khi trích 34m² còn lại 240m², được chia cho cụ L2 và cụ Đ mỗi người 1/2 tương ứng với diện tích đất 120m². Phần di sản thừa kế của cụ Đ 120m² được chia đều cho cụ L2, bà L, ông N, bà T2, bà L1, bà M (bà M đã chết nên anh N3 và anh S được thừa kế), trong đó mỗi người được 20m². Anh N3 và anh S mỗi người được 10m² đất. Phần di sản của cụ L2 140m² (120 + 20), được chia cho 06 người là bà L, ông N, bà L1, bà T2, bà M (bà M đã chết nên anh S và anh N3 được thừa kế) và bà M1. Nên bà L, ông N, bà L1, bà T2, bà M1 mỗi người được 23,3m² (làm tròn). Anh N3 và anh S mỗi người được 11,65m². Do bà M1 tự nguyện nhường kỷ phần thừa kế mình được hưởng cho bà L, ông N, bà T2, bà L1, bà M (bà M đã chết nên anh S và anh N3 được thừa kế) nên bà L, ông N, bà L1 và bà T2 mỗi người được 4,66m²; anh N3 và anh S mỗi người được hưởng 2,33m².
- Bà L, bà L1 và bà T2 đề nghị được chia bằng hiện vật, chia gộp kỷ phần các bà được hưởng. Bà L, bà L1 và bà T2 cùng nhau được chia tổng diện tích 143,9 (làm tròn) m² tương ứng với số tiền 2.878.000.000 đồng (kỷ phần của mỗi người là 47,96m², tương ứng với số tiền 959.400.000 đồng). Ông N được chia diện tích đất 47,96m² tương ứng với số tiền 959.400.000 đồng. Anh N3 và anh S được chia diện tích đất 47,96m² tương ứng với số tiền 959.400.000 đồng, kỷ phần của mỗi người là 23,98m² tương ứng số tiền 480.000.000 đồng (làm tròn). Anh T1 được trích công sức diện tích 34m² tương ứng với số tiền 680.000.000 đồng.
- Căn cứ kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án thì hiện anh T1 và chị H đã xây dựng công trình kiên cố là nhà ở 03 tầng trên phần diện tích đất 136,1m² (ký hiệu S1 theo đồ đo đạc). Phần còn lại 137,9m² (ký hiệu S1 theo đồ đo đạc) hiện anh T1 và chị H đang sử dụng làm nhà xưởng. Tại phiên tòa các bà L, L1 và T2 cũng nhất trí đề nghị chia cho các bà kỷ phần được hưởng vào vị trí đất chưa làm nhà, để cho anh T1 tiếp tục quản lý sử dụng phần diện tích đã có nhà, anh T1 có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch cho các bà và đồng thừa kế khác. Hội đồng xét xử thấy rằng, đối với ngôi nhà 03 tầng anh T1, chị H đang ở đã được xây dựng đã lâu, đây là chỗ ở duy nhất hiện nay của vợ chồng anh T1, vì vậy để tạo điều kiện cho vợ chồng anh T1, tránh xáo trộn cuộc sống cũng như ảnh hưởng đến các công trình xây dựng, trên cơ sở ý kiến các đương sự cần chia cho anh T1 sử dụng phần diện tích đất 136,1m², chia cho bà L, bà L1 và bà T2 được cùng nhau quản lý, sử dụng diện tích đất 137,9m².
- Anh T1 được trích công duy trì tôn tạo tài sản diện tích 34m², trong khi được quản lý sử dụng diện tích 136,1m², do đó anh T1 có trách nhiệm phải thanh toán chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất, cụ thể thanh toán giá trị quyền sử dụng 47,96m² đất cho ông N số tiền là 959.400.000 đồng; thanh toán cho anh N3 và anh S giá trị quyền sử dụng 47,96m² số tiền là 959.400.000 đồng (kỷ phần của mỗi người là 479.700.000.000 đồng); thanh toán cho bà L, bà L1, bà T2 giá trị quyền sử dụng 06m² đất số tiền là 120.000.000 đồng (kỷ phần của mỗi người là 40.000.000 đồng). Do anh T1 chống đối, cản trở, không để Tòa án tiến hành việc định giá tài sản nên anh T1 phải chịu hậu quả pháp lý cho hành vi của mình. Anh T1, chị H phải tự tháo dỡ, di dời và thu dọn toàn bộ tài sản của mình trên phần đất đã được chia cho bà L, bà L1 và bà T2.
- Về chi phí tố tụng: Do nguyên đơn bà Đào Thị L tự nguyện chịu và đã chi phí xong toàn bộ, bà L không yêu cầu Tòa án xem xét nên cấp sơ thẩm không xem xét là đúng quy định.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
-
Án phí sơ thẩm:
- Đối với bà Đào Thị L và ông Đào Văn N đều đã trên 60 tuổi và có đơn đề nghị được miễn tiền án phí; bà Nguyễn Thị M1 hiện đã trên 60 tuổi và tự nguyện nhường kỷ phần thừa kế mình được hưởng cho những người thừa kế khác. Cấp sơ thẩm miễn án phí cho bà L và ông N đồng thời xác định những người được bà M1
- tặng cho kỷ phần thừa kế mà bà M1 được hưởng thì không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là đúng quy định.
-
Đối với bà Đào Thị L1, bà Đào Thị T2 mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với kỷ phần thừa kế được hưởng (trừ phần bà M1 tặng cho), đồng thời mỗi người phải chịu một phần án phí tương ứng đối với phần trích công sức cho anh T1.
Bà L1 và bà T2 phải chịu án phí đối với số tiền 1.086.728.000 đồng, cụ thể án phí mỗi bà phải chịu là: 36.000.000 đồng + (286.728.000 đồng x 3%) = 44.601.000 đồng (làm tròn).
-
Đối với anh Đào Vạn N3 và anh Đào Văn S mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với kỷ phần thừa kế được hưởng (trừ phần bà M1 tặng cho), đồng thời mỗi người phải chịu một phần án phí tương ứng đối với phần trích công sức cho anh T1.
Anh sâm và anh N3 mỗi người phải chịu án phí đối với số tiền 543.363.500đ, cụ thể án phí mỗi người phải chịu là: 20.000.000 đồng + (143.363.000 đồng x 4%) = 25.734.000 đồng (làm tròn).
- Đối với anh Đào Văn T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Án phí phúc thẩm: Miễn án phí phúc thẩm cho ông Đào Văn N, anh Đào Văn Tỉnh phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm.
-
Án phí sơ thẩm:
- Từ phân tích trên thấy rằng không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông N và anh T1, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Tuy nhiên do bản án sơ thẩm có nhầm lẫn trong việc tính toán số liệu, án phí, việc tuyên án chưa thực sự rõ ràng, do đó Hội đồng xét xử sẽ điều chỉnh cách tuyên.
- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Vĩnh Phúc tại phiên tòa là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đào Văn N và anh Đào Văn T1, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2023/DS-ST ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
Căn cứ các Điều 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 652, 654, 660, 357 và 468 của Bộ luật Dân sự; các Điều 26, 147, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị L về việc chia di sản thừa kế theo pháp luật của cụ Dương Thị B, cụ Đào Văn L2, cụ Dương Thị Đ.
-
Di sản của cụ Dương Thị B, cụ Đào Văn L2, cụ Dương Thị Đ để lại gồm có:
- Số tiền 350.000.000 đồng, do anh Đào Văn T1 bán gỗ Sưa (hiện do anh T1 quản lý toàn bộ).
- Quyền sử dụng 445,4m² đất thổ cư, thửa đất số 422 và Quyền sử dụng 274m² đất thổ cư, thửa đất số 106 tờ bản đồ số 5; đều địa chỉ: thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 30/3/1993 đứng tên ông Đào Văn L2.
-
Diện và hàng thừa kế của cụ Dương Thị B, cụ Đào Văn L2, cụ Dương Thị Đ gồm có:
- Hàng thừa kế của cụ Dương Thị B: Cụ Đào Văn L2 và bà Đào Thị L.
- Hàng thừa kế của cụ Dương Thị Đ gồm: Cụ Đào Văn L2, bà Đào Thị L, ông Đào Văn N, bà Đào Thị L1, bà Đào Thị T2, bà Đào Thị M(đã chết trước cụ L2 nên anh Đào Vạn N3 và anh Đào Văn S được thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật).
- Hàng thừa kế của cụ Đào Văn L2 gồm: Bà Đào Thị L, ông Đào Văn N, bà Đào Thị L1, bà Đào Thị T2, bà Nguyễn Thị M1, bà Đào Thị M (đã chết trước cụ L2 nên anh Đào Vạn N3 và anh Đào Văn S được thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật).
-
Di sản của cụ Dương Thị B, cụ Đào Văn L2, cụ Dương Thị Đ để lại gồm có:
-
Phân chia di sản thừa kế:
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị M1 về việc tặng cho kỷ phần thừa kế mà mình bà được hưởng cho các đồng thừa kế gồm: Bà Đào Thị L, ông Đào Văn N, bà Đào Thị L1, bà Đào Thị T2, bà Nguyễn Thị M1, bà Đào Thị M(đã chết nên anh Đào Vạn N3 và anh Đào Văn S được hưởng).
- Đối với số tiền 350.000.000 đồng, do anh Đào Văn T1 bán gỗ Sưa mà có: Buộc anh Đào Văn T1 phải trả cho bà Đào Thị L số tiền 139.999.000đ; trả cho các bà Đào Thị L1, bà Đào Thị T2 và ông Đào Văn N mỗi người số tiền 52.499.000đ; trả cho anh Đào Vạn N3 và anh Đào Văn S mỗi người 26.249.500đ.
-
Đối với quyền sử dụng 445,4m² đất ở, thửa đất số 422, tờ bản đồ số 5:
- Chia cho ông Đào Văn N quyền sử dụng diện tích 227m² đất ở trị giá 227.000.000đ, tại thửa số 422, tờ bản đồ số 5 (bản đồ 299); địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Diện tích đất chia cho ông N được giới hạn bởi các điểm 3, 4, 5, 6, 7, 8, 14, 15, 4 (có sơ đồ kèm theo).
- Chia cho bà Đào Thị L, bà Đào Thị L1 và bà Đào Thị Thanh q sử dụng diện tích 130,1m² đất ở trị giá 130.100.000đ, tại thửa số 422, tờ bản đồ số 5; địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc và toàn bộ tài sản gắn liền với đất (Bà L, bà L1 và bà Thanh quản 1, sử dụng chung phần diện tích được chia, kỷ phần của mỗi người 43,36m²). Diện tích đất chia cho bà L, bà L1 và bà T2 được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 15, 14, 11, 12, 13, 1 (có sơ đồ kèm theo).
- Trích 38,3m² đất tại thửa số 422, tờ bản đồ số 5; địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Diện tích 38,3m² đất làm lối đi chung được giới hạn bởi các điểm 8, 9, 10, 11, 14, 8, (Có sơ đồ kèm theo).
- Buộc ông Đào Văn N và bà Dương Thị T3 phải tháo dỡ, thu dọn 01 phần mái tôn, diện tích 5,1m² và 02 Cánh cổng sắt để đảm bảo lối đi chung (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
- Buộc ông Đào Văn N phải thanh toán cho bà Đào Thị L, Đào Thị T2 và bà Đào Thị L1 số tiền 74.510.000đ, trong đó kỷ phần của mỗi người là 24.837.000₫ (Hai mươi tư triệu, tám trăm ba mươi bảy nghìn đồng).
- Buộc ông Đào Văn N phải thanh toán cho anh Đào Văn S và anh Đào Văn S số tiền 72.000.000đ, trong đó kỷ phần mỗi người 36.000.000₫ (Ba mươi sáu triệu đồng).
-
Đối với quyền sử dụng 274m² đất thổ cư, thửa đất số 106, tờ bản đồ số 5 (Bản đồ 299); địa chỉ: thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc trị giá 5.480.000.000₫.
- Chia cho anh Đào Văn T1 quyền sử dụng diện tích 136,1m², tại thửa số 106, tờ bản đồ số 05 (Bản đồ 299); địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, trị giá 2.722.000.000đ. Diện tích đất chia cho anh T1 được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 9, 1', 1 (có sơ đồ kèm theo).
- Chia cho bà Đào Thị L, bà Đào Thị L1 và bà Đào Thị Thanh q sử dụng diện tích 137,9m² đất ở, tại thửa số 106, tờ bản đồ số 05 (Bản đồ 299); địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, trị giá 2.758.000.000đ. (Bà L, bà L1 và bà Thanh quản 1, sử dụng chung phần diện tích được chia và các tài sản có trên đất; kỷ phần của mỗi người là 45,96m²). Diện tích đất chia cho bà L, bà L1 và bà T2 được giới hạn bởi các điểm 1, 9, 7, 8,1 (có sơ đồ kèm theo).
- Buộc anh Đào Văn T1 phải tháo dỡ, di dời, thu dọn toàn bộ tài sản, công trình, vật kiến trúc có trên phần đất chia cho bà L, bà T2 và bà L1.
- Buộc anh Đào Văn T1 phải thanh toán cho bà Đào Thị L, bà Đào Thị L1, bà Đào Thị T2 giá trị quyền sử dụng 06m² đất ở là 120.000.000 đồng, trong đó kỷ phần của mỗi người là 40.000.000 đồng.
- Buộc anh Đào Văn T1 phải thanh toán cho anh Đào Vạn N3 và anh Đào Văn S giá trị quyền sử dụng 47,96m² đất ở là 959.400.000 đồng, trong đó kỷ phần của mỗi người là 479.700.000đ.
- Buộc anh Đào Văn T1 phải thanh toán cho ông Đào Văn N giá trị quyền sử dụng 47,96m² đất ở là 959.400.000 đồng.
Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án số tiền nêu trên, người phải thi hành án không trả được thì hàng tháng còn phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Các đương sự có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
-
Về án phí:
-
Án phí dân sự sơ thẩm:
- Miễn án phí cho bà Đào Thị L, ông Đào Văn N và bà Nguyễn Thị M1.
- Bà Đào Thị L1 và bà Đào Thị T2 mỗi người phải chịu 44.601.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
- Anh Đào V và anh Đào Văn S mỗi người phải chịu 25.734.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
- Án phí phúc thẩm: Ông Đào Văn N không phải chịu; anh Đào Văn T1 phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0004585 ngày 16/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Anh T1 đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
-
Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Thu Hà Nguyễn Huy Cẩn |
Nguyễn Xuân Trọng |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Xuân Trọng |
Bản án số 95/2024/DS-PT ngày 22/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp chia di sản thừa kế
- Số bản án: 95/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của người kháng cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm
