Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 95/2024/HNGĐ-ST

Ngày 22-4-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Phạm Mạnh Hùng

Bà Cao Thị Hạ

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 22/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 10/TB-TA ngày 05 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H; ĐKHKTT: Tổ dân phố C, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Thôn F, xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt;

- Bị đơn: Anh Phạm Hồng C; nơi ĐKHKTT và nơi ở cuối cùng tại Việt Nam: Tổ dân phố C, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: V; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Hồng C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 02/7/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại Tổ dân phố C, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Đến tháng 11/2015, anh C sang Vương quốc Anh để sinh sống và làm việc, vợ chồng chị sống ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian đó, vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng mỗi người một nơi, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Hồng C.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Hồng C có 02 con chung là cháu Phạm Minh N, sinh ngày 29/01/2015 và Phạm Quang A, sinh ngày 07/7/2016. Nguyện vọng của các cháu là muốn được ở với mẹ. Do đó khi ly hôn, chị H đề nghị Tòa án giao cả hai con cho chị H nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về địa chỉ nơi cư trú của anh C: Chị H chỉ biết hiện nay anh C đang ở Vương quốc Anh nhưng anh C không cho chị H biết địa chỉ cụ thể. Anh C vẫn thường xuyên liên lạc qua điện thoại và mạng xã hội với mẹ đẻ của anh C là bà Vũ Thị T, sinh năm 1962; nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng.

Đối với bị đơn là anh Phạm Hồng C:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án cho bà Vũ Thị T, là mẹ đẻ của anh Phạm Hồng C và yêu cầu bà Vũ Thị T cung cấp địa chỉ ở V của anh Phạm Hồng C. Bà Vũ Thị T trình bày anh Phạm Hồng C vẫn thường xuyên liên lạc qua điện thoại và mạng xã hội với bà. Bà Vũ Thị T đã thông báo cho anh C về việc chị H có đơn khởi kiện xin ly hôn đối với anh C, yêu cầu anh C cung cấp địa chỉ hiện tại ở A và gửi lời khai đối với yêu cầu khởi kiện của chị H cho Tòa án nhưng anh C không thực hiện được, do vậy bà T không thể cung cấp được địa chỉ hiện tại của anh C cho Tòa án.

Quan điểm của bà Vũ Thị T như sau: Chị H và anh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 02/7/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh C, chị H chung sống hòa thuận, hạnh phúc và có với nhau 02 con chung. Đến năm 2015 anh chị thống nhất bàn bạc để anh C sang A làm ăn. Từ đó đến nay anh C chưa về Việt Nam. Năm 2020, anh chị bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn do không cùng chung quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã. Nay chị H xin ly hôn anh C, bà T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Hồng C có 02 con chung là cháu Phạm Minh N, sinh ngày 29/01/2015 và Phạm Quang A, sinh ngày 07/7/2016. Khi ly hôn, bà T đề nghị Tòa án giao cho chị H và anh C mỗi người nuôi một con. Việc cấp dưỡng nuôi con đề nghị Tòa án giải quyết theo quan điểm của chị H. Hiện nay hai con chung của chị H, anh C do bà T là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Do anh C và chị H ở nước ngoài nên bà nhận trách nhiệm chăm sóc các cháu.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và quan điểm trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Phạm Hồng C. Về con chung: Giao hai con chung là cháu Phạm Minh N, sinh ngày 29/01/2015 và Phạm Quang A, sinh ngày 07/7/2016 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung và về tài sản chung, chị Nguyễn Thị H không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Ngoài ra đề nghị giải quyết về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và con chung với anh Phạm Hồng C. Anh Phạm Hồng C có đăng ký hộ khẩu thường trú và có nơi cư trú cuối cùng ở thành phố Hải Phòng, hiện đang sinh sống ở V, chị Nguyễn Thị H hiện nay đang sinh sống tại thành phố Hải Phòng. Do đó quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Chị Nguyễn Thị H có mặt. Anh Phạm Hồng C vắng mặt tại địa phương, sinh sống ở nước ngoài nhưng không cung cấp địa chỉ cho Tòa án và nguyên đơn biết. Như vậy, trong trường hợp này bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng, anh C đã biết các văn bản tố tụng của Tòa án được gửi cho anh C thông qua bà Vũ Thị T nhưng anh C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị Nguyễn Thị H kết hôn với anh Phạm Hồng C trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 02/7/2014. Theo Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của chị H và mẹ đẻ của anh C thể hiện quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp, dù được hai bên gia đình khuyên bảo, hòa giải nhưng không có kết quả. Như vậy, mâu thuẫn giữa anh C và chị H đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị đã ly thân trong một thời gian dài nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H về việc xin ly hôn với anh Phạm Hồng C.

[4] Về con chung: Chị H và anh C có hai con chung là cháu Phạm Minh N, sinh ngày 29/01/2015 và Phạm Quang A, sinh ngày 07/7/2016. Ly hôn, chị H đề nghị Tòa án giao hai con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà T là bà nội của hai cháu đề nghị Tòa án giao cho anh C và chị H mỗi người nuôi một con. Tuy nhiên, xét thấy anh C hiện đang ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể, không có ý kiến về việc nuôi con chung trong trường hợp anh C và chị H ly hôn. Mặt khác, cháu Phạm Minh N và cháu Phạm Quang A có đơn trình bày nguyện vọng muốn được ở với chị H nếu bố mẹ các cháu ly hôn. Do đó, việc chị H yêu cầu giao hai con chung cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình và phù hợp với nguyện vọng của hai con chung, nên cần được chấp nhận. Hội đồng xét xử giao hai con là cháu Phạm Minh N, sinh ngày 29/01/2015 và Phạm Quang A, sinh ngày 07/7/2016 cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên cần ghi nhận việc chị H tạm thời chưa yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Hồng C được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Phạm Hồng C.
    2. Về con chung: Giao hai con chung là cháu Phạm Minh N, sinh ngày 29/01/2015 và Phạm Quang A, sinh ngày 07/7/2016 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận việc chị Nguyễn Thị H tạm thời chưa yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.

    Sau khi ly hôn, không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

    1.3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

  2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008783 ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo:

    Chị Nguyễn Thị H (có mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

    Anh Phạm Hồng C (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HCTP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thúy Hà

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Mạnh Hùng - Cao Thị Hạ

Bùi Thị Thúy Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/HNGĐ-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 95/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger