Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/HSST

Ngày: 21/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Long Văn Thanh
  2. Ông Đinh Văn Hải

Thư ký phiên tòa: Ông Lục Đức Long – Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Mạnh Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2024/HSST ngày 28 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:

Họ và tên: Mông Thế T; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 06/01/1989; N sinh: huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú: Xóm S, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Chỗ ở hiện nay: tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12 phổ thông; Con ông: Mông Thế H - sinh năm 1968; Con bà: Đàm Thị H1 - sinh năm 1968; Cùng trú tại: tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vợ: Hoàng Thị B - sinh năm 1993 (Trú tại: tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng); Có 02 con, con thứ nhất sinh năm 2017, con thứ hai sinh năm 2020;

Tiền án: Ngày 17/9/2021 Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. (chấp hành xong ngày 15/4/2023)

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2006 Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Cao Bằng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G1.

Ngày 14/01/2009 Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích.

Ngày 25/11/2010 Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xử phạt 12 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản.

Ngày 22/4/2015 Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 12 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản.

Ngày 27/6/2017 Công an phường Đ, thành phố C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng.

Ngày 18/01/2018 Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng từ ngày 13/02/2024 đến nay; Có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Trương Bình G - sinh năm 1993
    Địa chỉ: tổ C, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt có lý do tại phiên toà.
  2. Mông Thị Đ - sinh năm 1989
    Địa chỉ: tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt có lý do tại phiên toà.
  3. Đàm Thị H1 - sinh năm 1968
    Địa chỉ: tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt có lý do tại phiên toà.
  4. Hoàng Thị B - sinh năm 1993
    Địa chỉ: tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt có lý do tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 20 giờ ngày 06/02/2024, Mông Thế T đi từ nhà đến khu vực bến xe khách cũ thành phố C thuộc tổ B, phường S, thành phố C để tìm mua ma tuý về sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp một người đàn ông không quen biết, dáng giống người nghiện nên hỏi mua ma túy. Người này đồng ý, T đưa cho người đàn ông số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng), người này nhận tiền và đưa cho T 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong chứa Methamphetamine. Sau khi mua được ma túy, T đã sử dụng một phần cho bản thân. Ngày 07/02/2024, T cùng gia đình về quê ăn tết tại xóm S, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Đến chiều ngày 12/02/2023, T một mình điều khiển xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI GRAND I10 biển kiểm soát đi về nhà tại tổ B, phường S, thành phố C. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T mang số Methamphetamine mua được vào ngày 06/02/2024 ra sử dụng một phần. Sử dụng xong T có biểu hiện ảo giác nên đã đập phá đồ đạc và ném ra trước cửa nhà. Khi đó, Trương Bình G (sinh năm 1993; Trú tại: tổ C, phường S, thành phố C) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 30L9 - 7018 đi đến hỏi T về sự việc thì T quay vào trong nhà lấy 01 (một) thanh xà beng đập vào phần đầu xe mô tô của G. Sau đó, T lại đi vào nhà lấy ghế, búa và xà beng đập vào xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI GRAND I10 biển kiểm soát 11A - 068.84 và xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH, biển kiểm soát 15B2 - 033.34 của bản thân rồi tiếp tục đập phá xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO LIBERTY, biển kiểm soát 11B1 - 168.29 của em dâu là Mông Thị Đ (sinh năm 1989; Trú tại: tổ B, phường S, thành phố C). Sau khi đập phá xe, T đi vào phòng ngủ của vợ chồng T lấy số tiền 166.500.000đ (Một trăm sáu mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng) ném ra đường.

Hồi 00 giờ 37 phút ngày 13/02/2024, Công an thành phố C tiếp nhận tin báo về việc Mông Thế T (sinh năm 1989; trú tại: tổ B, phường S, thành phố C) có hành vi đập phá tài sản tại khu vực trước nhà nghỉ G2 thuộc tổ B, phường S, thành phố C. Đến khoảng 01 giờ ngày 13/02/2024, T bị đưa đến Trụ sở cơ quan công an để làm rõ sự việc. Quá trình làm việc tại cơ quan điều tra, đến 16 giờ 45 phút ngày 13/02/2024, T đã tự nguyện giao nộp từ trong túi quần đằng sau bên phải đang mặc 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong chứa 1,50g (một phẩy năm mươi gam) Methamphetamine.

Hồi 20 giờ 00 phút ngày 13/02/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành cân xác định khối lượng tang vật chất tinh thể màu trắng dạng cục lẫn bột thu giữ của Mông Thế T, kết quả: Tang vật có khối lượng: 1,50g (một phẩy năm mươi gam).

Ngày 14/02/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 205 đối với vật chứng vụ án. Tại bản kết luận giám định số 158 ngày 20/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: “Mẫu tinh thể màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine”.

Ngày 13/3/2024 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Yêu cầu định giá tài sản số 418 trưng cầu giá trị thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 30L9-7018 và xe mô tô biển kiểm soát: 11B1 - 168.29. Tại kết luận định giá tài sản số 16 ngày 22/3/2024 của Hội động định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C xác định: Tổng giá trị thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 30L9 - 7018 và xe mô tô biển kiểm soát 11B1 - 168.29 là: 1.041.667đ (Một triệu không trăm bốn mươi mốt nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Xét thấy Mông Thế T chưa có tiền án, tiền sự về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, ngày 02/5/2024 Công an thành phố C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Mông Thế T về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân.

Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ các phương tiện, tài sản, đồ vật của bị cáo và những người liên quan. Xét thấy việc trả lại không ảnh hưởng tới quá trình giải quyết vụ án, ngày 09/4/2024 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lại các phương tiện, tài sản cho các chủ sở hữu.

Vật chứng chuyển theo vụ án để xem xét gồm 02 phong bì niêm phong chứa tang vật là ma túy; 01 (một) cục bê tông, kích thước 16cm x 26cm x 12 cm (đã qua sử dụng); 01 (một) tấm phên cách nhiệt kính chắn gió phía sau xe ô tô biển kiểm soát 11A1 - 068.84.

Hành vi của Mông Thế T đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại bản Cáo trạng số 93/CT-VKSTP ngày 27/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Mông Thế T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và nhất trí với khối lượng ma tuý bị thu giữ, nội dung bản kết luận giám định số 158 ngày 20/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh C.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trương Bình G, Mông Thị Đua Đàm Thị H2, Hoàng Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đặt ra vấn đề xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Mông Thế T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Đề nghị xử phạt bị cáo Mông Thế T từ 24 đến 30 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong chứa tang vật là ma túy; 01 (một) cục bê tông, kích thước 16cm x 26cm x 12 cm (đã qua sử dụng); 01 (một) tấm phên cách nhiệt kính chắn gió phía sau xe ô tô biển kiểm soát 11A1-068.84.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Mông Thế T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong vụ án, do đó, có đủ căn cứ để xác định:

    Khoảng 20 giờ ngày 12/02/2024 Mông Thế T có hành vi đập phá tài sản tại khu vực trước nhà nghỉ G2 thuộc tổ B, phường S, thành phố C. Đến 16 giờ 45 phút ngày 13/02/2024 khi đang làm việc với cơ quan điều tra, T đã tự nguyện giao nộp 01 (một) túi nilon màu trắng chứa 1,50g (một phẩy năm mươi gam) Methamphetamine mà T tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

    Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nhằm mục đích sử dụng ma tuý cho bản thân. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yêu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

  3. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 01 tiền án chưa được xoá án tích.

    Trong quá trình điều tra, bị cáo tự thú về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng 02 (hai) tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 (một) tiền án chưa được xoá án tích lại thực hiện hành vi phạm tội mới nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

  4. Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và khối lượng chất ma túy bị cáo tàng trữ, xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, bị cáo có 01 (một) tiền án chưa được xoá án tích nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân, không có ý thức tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới. Do đó, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo và đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.

    Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, không có nghề nghiệp ổn định.

  5. Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trương Bình G, Mông Thị Đ, Đàm Thị H2, Hoàng Thị B không có yêu cầu gì nên không đặt ra vấn đề xem xét.
  6. Về xử lý vật chứng:

    Vật chứng chuyển theo vụ án để xem xét gồm: 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi: Tang vật cân; Mông Thế T hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý; 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi: số 158/KL-KTHS, hoàn mẫu sau giám định vụ Mông Thế T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xét thấy, đây là vật là Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

    Đối với 01 (một) cục bê tông, kích thước 16cm x 26cm x 12 cm (đã qua sử dụng); Xét thấy, không có giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ.

    Đối với 01 (một) tấm phên cách nhiệt kính chắn gió phía sau xe ô tô biển kiểm soát 11A1 - 068.84. Bị cáo khai nhận đây là tấm phên gắn liền chiếc xe ô tô do bị cáo đập phá nên bị hư hỏng, không còn giá trị và không có yêu cầu trả lại nên cần tịch thu tiêu huỷ.

  7. Các nhận định khác:

    Đối với hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của T chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Mông Thế T về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 108/QĐ-XPHC ngày 02/5/2024 của Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng.

    Về nguồn gốc số Methamphetamine bị thu giữ, bị cáo Mông Thế T khai được mua với một người đàn ông không quen biết, việc trao đổi mua bán ma túy không có ai biết và chứng kiến. Do vậy, cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

  8. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  9. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
  10. Các ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố: Bị cáo Mông Thế T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Mông Thế T 27 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 13/02/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi: Tang vật cân; Mông Thế T hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý; 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi: số 158/KL-KTHS, hoàn mẫu sau giám định vụ Mông Thế T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xét thấy, đây là vật là Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

    Đối với 01 (một) cục bê tông, kích thước 16cm x 26cm x 12 cm (đã qua sử dụng); Xét thấy, không có giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ.

    Đối với 01 (một) tấm phên cách nhiệt kính chắn gió phía sau xe ô tô biển kiểm soát 11A1 - 068.84, đã qua sử dụng, không còn giá trị, bị cáo không yêu cầu trả lại nên cần tịch thu tiêu huỷ.

    Xác nhận vật chứng của vụ án đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 120 ngày 03/6/2024.

  3. Về án phí:

    Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

    Buộc bị cáo Mông Thế T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước

  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - Công an tỉnh Cao Băng;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở tư pháp;
  • - Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
  • - Công an TP Cao Bằng;
  • - Thi hành án DS TP Cao Bằng;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/HSST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 95/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mông Thế Tr tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger