TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 95/2025/DS-PT Ngày 19-3-2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Huỳnh Đắc Đương |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Văn Mến |
| Ông Nguyễn Văn Thành |
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Cẩm Nang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 362/2024/TLPT-DS ngày 24 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, di dời tài sản, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp văn bản công chứng và chia thừa kế tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 82/2024/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 07/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Thế P, sinh năm 1958; địa chỉ số E, đường H, Khóm C, Phường D, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Bị đơn:
- Bà Võ Thị Minh N, sinh năm 1960; địa chỉ ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Bà Võ Thị Bửu Â, sinh năm 1940 (mất năng lực hành vi dân sự).
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn bà Võ Thị Bửu Â: Ông Võ Văn T, sinh năm 1977 (con của bà Bửu Â); địa chỉ số A, ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Võ Thị Bửu Â: Ông Nguyễn Tấn L là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Võ Đức T1, sinh năm 1948; địa chỉ ấp C, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Võ Đức T1: Ông Võ Thế P, sinh năm 1958; địa chỉ số E, đường H, Khóm C, Phường D, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (theo văn bản ủy quyền ngày 28 tháng 5 năm 2018).
- Ông Võ Văn T, sinh năm 1977 (có mặt).
- Bà Kim Thị Oan N1, sinh năm 1981; cùng địa chỉ số A, ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Ông Kiên D, sinh năm 1957 (có mặt).
- Bà Kiên Thị Ngọc Q, sinh năm 1980 (có mặt).
- Ông Lương Thế N2, sinh năm 1986 (có mặt).
- Ông Lương Hoàng H, sinh năm 2005 (có mặt).
- Ông Lương Thế P1, sinh năm 2009 (có mặt).
- Ông Kiên Đăng K, sinh năm 1984 (có mặt).
- Bà Trần Thị Mộng T2, sinh năm 1989 (có mặt); cùng địa chỉ ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
- Bà Kiên Thị Tố D1, sinh năm 1988 (có mặt).
- Ông Lê Thanh H1, sinh năm 1986; cùng địa chỉ số A ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Ông Trầm Văn T3, sinh năm 1979 (vắng mặt).
- Bà Trần Ngọc L1, sinh năm 1975; cùng địa chỉ ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
- Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Trà Vinh; địa chỉ số I, L, Phường B, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn N3, chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân thành phố T: Ông Dương Ngọc Vân T4 (theo văn bản ủy quyền ngày 18 tháng 3 năm 2025) (xin xét xử vắng mặt).
- Phòng C1 Trà Vinh (nay là Văn phòng C2); địa chỉ số C, đường N, Phường B, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (xin xét xử vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Võ Thế P là nguyên đơn trong vụ án và ông Võ Văn T là người đại diện theo pháp luật của bà Võ Thị Bửu  là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 3 năm 2018, đơn khởi kiện ngày 01 tháng 3 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ kiện nguyên đơn ông Võ Thế P trình bày: Nguyên cụ Võ Văn H2 (chết năm 1963) và cụ Nghị Thị T5 (chết năm 1982) lúc sinh thời hai cụ có 06 người con chung gồm bà Võ Thị Bửu Â, sinh năm 1940; ông Võ Đức T1, sinh năm 1948; ông Võ Thế P, sinh năm 1958; bà Võ Thị Minh N, sinh năm 1960; bà Võ Thị T6 (đã chết năm 1976, không chồng, con) và ông Võ Văn C, (đã chết năm 1969, không vợ, con). Trước khi qua đời các cụ có tạo lập được tài sản là một thửa đất vườn (hiện chia thành 03 thửa: thửa số 323, thửa số 324, thửa số 469), cùng tọa lạc tại ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Theo di nguyện của cụ Nghị Thị T5 “Thửa đất vườn là nơi dự phòng khi anh chị em của ông P làm ăn thất bại thì có chỗ để lui về” nên các anh em của ông thay phiên nhau giữ gìn và năm 2003 các anh chị em cùng thỏa thuận cử ông P làm người đại diện đứng tên phần tài sản này để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các anh em khi thực hiện việc phân chia tài sản. Tại thửa đất số 469, diện tích 2.856,7m² và thửa đất số 324, diện tích 7.101,1m², cùng tờ bản đồ số 95, cùng tọa lạc tại ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Ông Trầm Văn T3 và bà Trần Ngọc L1 đã lấn chiếm đất của gia đình ông P, ông T3 và bà L1 đã xây dựng lên đất của gia đình ông Phương diện T8 242,2m², nằm trong tổng diện tích 7.101,1m², tờ bản đồ số 95, tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Việc ông Võ Văn T yêu cầu tuyên bố vô hiệu văn bản Công chứng số 27, quyển 01 TP/CC SCC/HĐGD, ngày 09 tháng 02 năm 2003 của Phòng C1 Trà Vinh đã công chứng Tờ thỏa thuận ngày 09 tháng 01 năm 2003 là vô lý, vì các anh em đều thống nhất nhờ ông đứng tên và bà  cũng không mất quyền lợi, mặt khác lúc đó bà  chưa có cơ quan nào tuyên bố bà Võ Thị Bửu  mất năng lực hành vi dân sự, nên ông P không đồng ý yêu cầu của ông T. Từ Tờ thỏa thuận thì ông P mới đại diện đứng ra khởi kiện đất tranh chấp, nay ông T yêu cầu hủy Giấy là không đúng. Việc ông T yêu cầu được công nhận một phần thửa đất số 324, diện tích 6.070m² nằm trong tổng diện tích chung 7.101,1m², tờ bản đồ số 95, tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh cho ông Võ Văn T đại diện đứng tên cho bà Võ Thị Bửu  là không có căn cứ xem xét.
Nay ông P yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản của cụ Võ Văn H2 và cụ Nghị Thị T5 để lại gồm thửa 324, diện tích 7.101,1m² và thửa 469, diện tích 2.856,7m², cùng tờ bản đồ số 95, cùng tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, chia cho các đồng thừa kế gồm bà Võ Thị Bửu Â, ông Võ Đức T1, ông Võ Thế P, bà Võ Thị Minh N mỗi người được hưởng một suất thừa kế theo quy định của pháp luật, còn về cây trồng gắn liền với đất thì ông Võ Thế P yêu cầu ai được nhận di sản phần đất nào thì được hưởng phần cây trồng gắn liền với phần đất đó. Ông Võ Thế P yêu cầu bà Võ Thị Minh N tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng cho ông P 1m ngang chạy dài hết đất để ông P được đứng tên tại thửa đất số 324, nằm trong tổng diện tích 7.101,1m², tờ bản đồ số 95, tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Ông Võ Thế P yêu cầu buộc ông Trầm Văn T3 và bà Trần Ngọc L1 di dời tài sản và trả diện tích 242,2m² mà ông T3 và bà L1 đã lấn chiếm, nằm trong tổng diện tích 7.101,1m², thửa đất số 324, tờ bản đồ số 95, tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn bà Võ Thị Minh N trình bày: Lúc cụ Nghị Thị T5 còn sống có chia đất cho bà tại thửa 931, diện tích 700m², thửa 932, diện tích 4.270m² và cho bà Võ Thị Bửu  tại thửa 930, diện tích 1.610m² và thửa 933, diện tích 4.460m², cùng bản đồ số 12, cùng tọa lạc tại ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh nên bà và bà  có kê khai theo tư liệu đo đạc năm 1991, nhưng cụ T5 cho không có giấy tờ gì cả. Đến năm 2011 thì các anh em đã thỏa thuận cho ông P đại diện, nên các thửa đất trên thành các thửa 323, 324 và 469 cấp cho ông P đại diện đứng tên cho các anh em. Lúc cụ T5 còn sống đã chia cho ông Võ Đức T1, bà Võ Thị Bửu A và ông Võ Thế P mỗi người một căn nhà, còn bà nhận được bộ cột nhà, ngoài ra các anh em đều được chia mỗi người 01 lượng vàng 24kara, nay bà N không tranh chấp các tài sản đã chia này. Việc ông Võ Văn T yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 324 và thửa 469 do ông Võ Thế P đã đứng tên đại diện các anh em là không đúng, vì các anh em của bà đều thống nhất cho ông P đứng tên đại diện. Đối với ông P yêu cầu ông T3, bà L1 trả đất lấn ranh thì bà không tranh chấp phần đất này, nếu ông P thắng kiện thì bà cho ông P được hưởng phần đất ông T3, bà L1 đã lấn.
Nay bà N đồng ý theo yêu cầu chia thừa kế của ông P, bà yêu cầu được hưởng 1 suất thừa kế theo quy định của pháp luật vì đây là tài sản cha mẹ để lại chưa chia cho ai và bà yêu cầu phải tính công sức đóng góp, quản lý, tu bổ làm tăng giá trị đất. Nếu bà N được hưởng suất thừa kế thì bà đồng ý giao đất cho ông P, ông T1 mỗi người 1m ngang chạy dài hết đất vì trước đây bà đã bán cho ông P, ông T1.
Bị đơn bà Võ Thị Bửu  (mất năng lực hành vi dân sự) do ông Võ Văn T đại diện trình bày như sau: Ông Võ Văn T là con của bà Võ Thị Bửu Â, ông bà ngoại của ông có 06 người con như ông Võ Thế P trình bày là đúng và để lại tổng diện tích đất 11.040m² nằm trong các thửa 930, 931, 932, 933, cùng tờ bản đồ số 12, đất cùng tọa lạc tại ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (theo tư liệu đo đạc năm 1991), nay là thửa 324 và thửa 469 mà ông Võ Thế P đang đứng tên và đang yêu cầu chia thừa kế. Cụ T5 đã chia tài sản đều cho các con như sau ông Võ Đức T1 được chia 01 căn nhà ở phường D, thành phố T và 01 lượng vàng 24kra, ông Võ Thế P được chia 01 căn nhà hiện tại ông P đang ở tại số E, Khóm C, Phường D, thành phố T, tỉnh Trà Vinh và 01 lượng vàng 24kra, bà Võ Thị Minh N được chia 01 bộ cột đúc cất nhà, 02 thửa 931, 932 tổng diện tích 4.270m² và 01 lượng vàng 24kra, bà Võ Thị Bửu  (mẹ của ông T) được chia cho 01 căn nhà gắn liền với đất ở Phường D, thành phố T nay đã bán cho ông Võ Thế P và 02 thửa đất số 930, 933, tổng diện tích 6.070m² và 01 lượng vàng 24kra, do đó bà Võ Thị Bửu  đã kê khai 02 thửa trên vào năm 1991, bà N kê khai thửa số 931, thửa 932. Đất của bà Võ Thị Bửu  và bà Võ Thị Minh N đã sử dụng ổn định lâu dài cho đến nay. Bà Võ Thị Bửu  bị bệnh tâm thần từ nhỏ, qua nhiều lần khám bệnh tại Hội đồng giám định y khoa tỉnh Trà Vinh, giám định pháp y tâm thần Trung ương đều kết luận bà  bị tâm thần và Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh cũng đã tuyên bố bà  mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định số 02/2009/QĐ- VDS ngày 13 tháng 3 năm 2009. Cho nên chữ ký của bà  trong tất cả các giao dịch liên quan đến tài sản, đất đai trên chỉ là giả tạo, không có giá trị pháp lý, nhưng UBND thành phố T căn cứ vào Tờ thỏa thuận được xác lập 09 tháng 01 năm 2003 đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng các thửa đất trên cho ông Võ Thế P đứng tên đại diện bà  là vi phạm nghiêm trọng về quản lý sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật.
Việc ông Võ Đức T1, bà Võ Thị Bửu  và ông Võ Thế P và bà Võ Thị Minh N được chia 01 bộ cột nhà và chia mỗi người được chia 01 lượng vàng 24kara thì ông không tranh chấp các tài sản này. Đối với ông Võ Thế P yêu cầu ông T3, bà L1 trả đất lấn ranh thì ông không tranh chấp mà để cho ông P khởi kiện nếu thắng kiện thì ông Võ Minh T7 cho ông P được hưởng phần đất này.
Nay ông yêu cầu tuyên bố vô hiệu văn bản công chứng số 27, quyển 01 TP/CC SCC/HĐGD của Phòng C1 Trà Vinh, tại Tờ thỏa thuận được xác lập 09 tháng 01 năm 2003, hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 022251, thửa số 469, diện tích 2.856,7m² và Giấy chứng nhận số BĐ 022252, thửa số 324, diện tích 7.101,1m², cùng tờ bản đồ số 95, cùng tọa lạc tại ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, do UBND thành phố T cấp cho ông Võ Thế P vào ngày 22 tháng 3 năm 2011. Công nhận một phần thửa đất số 324, diện tích 6.070m² nằm trong tổng diện tích chung 7.101,1m², tờ bản đồ số 95 cho ông Võ Văn T đại diện đứng tên cho bà Võ Thị Bửu Â.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Kim Thị Oan N1 trình bày: Bà là vợ của ông T, sau khi cưới bà về sống chung ông T trên đất đang tranh chấp, bà cùng ông T xây dựng quán bán hủ tiếu, nhưng trong vụ án này bà giao ông T toàn quyền định đoạt toàn bộ các vấn đề liên quan đến đất và tài sản trên đất vì đây là tài sản bên gia đình của ông T, nên bà không tranh chấp hay yêu cầu vấn đề gì trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Kiên D trình bày: Ông sinh sống trên đất từ khi ông cưới bà N cho đến nay, nhưng cha mẹ chưa chia hẳn cho ai cả, nên ông Kiên D mong được cho vợ ông được một suất thừa kế và tính công sức giữ đất, riêng ông không tranh chấp tiền san lắp đất và ông không yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Đức T1 trình bày trình bày: Ông đồng ý chia tài sản thừa kế theo như yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thế P, nếu được chia thừa kế thì ông T1 yêu cầu được hưởng một suất thừa kế theo quy định, nhưng ông T1 tự nguyện giao phần suất tài sản của ông được hưởng cho ông Võ Thế P được toàn quyền hưởng phần suất của ông. Ông T1 yêu cầu bà Võ Thị Minh N tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng cho ông T1 1m ngang chạy dài hết đất để ông được đứng tên tại thửa đất số 324, nằm trong tổng diện tích 7.101,1m², tờ bản đồ số 95, tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, ngoài ra phần đất ông Võ Thế P yêu cầu ông T3, bà L1 trả đất lấn ranh thì ông không tranh chấp, nếu ông P được thắng kiện thì ông T1 cho ông P được hưởng phần đất này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Kiên Thị Ngọc Q, ông Lương Thế N2, ông Kiên Đăng K, bà Trần Thị Mộng T2, bà Kiên Thị Tố D1 và ông Lê Thanh H1 trình bày: Các ông, bà là con của ông Kiên D và bà Võ Thị Minh N, cha mẹ của các ông, bà đã xây dựng nhà ở trên đất tranh chấp từ năm 2009 cho đến nay. Nay các ông, bà yêu cầu được tiếp tục sử dụng nhà trên phần đất đang tranh chấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trầm Văn T3 và bà Trần Ngọc L1 cùng vắng mặt nhưng có lời khai: Ông, bà được cha mẹ cho ở riêng và cất nhà ở trên phần đất như hiện nay, ông T3 và bà L1 không có lấn đất của gia đình ông Võ Thế P, lúc ông, bà xây dựng hàng rào thì có mời ông Võ Văn T qua xác định ranh đất cho rõ ràng thì ông, bà mới xây dựng hàng rào kiên cố cho đến nay, lúc xây dựng không ai phản đối gì, trong quá trình sử dụng cũng không ai tranh chấp gì, cho đến năm 2023 do đã đo đạc đất tranh chấp nhiều lần thì ông Võ Thế P mới phát sinh tranh chấp nên ông, bà không tranh chấp hay yêu cầu gì trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố T do ông Dương Ngọc Vân T4 đại diện theo ủy quyền trình bày: Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Võ Thế P đại diện các đồng thừa kế là Ủy ban nhân dân thành phố T đã thực hiện đúng trình tự thủ tục và đúng đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phòng C1 Trà Vinh, bà Trần Thị L2 trình bày: Phòng C1 Trà Vinh đã chứng thực Tờ thỏa thuận được xác lập 09 tháng 01 năm 2003 theo đúng trình tự thủ tục trong công chứng chứng thực. Mặt khác, bà Võ Thị Bửu  chưa có quyết định của Tòa án nào tuyên bà  là người mất năng lực hành vi dân sự. Do đó ông Võ Văn T yêu cầu tuyên bố vô hiệu văn bản công chứng số 27, quyển 01 TP/CC SCC/HĐGD của Phòng C1 Trà Vinh tại Tờ thỏa thuận ngày 09 tháng 01 năm 2003 là không đúng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 82/2024/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh đã xử: Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Võ Văn T đại diện của bà Võ Thị Bửu  về việc yêu cầu tuyên bố vô hiệu văn bản công chứng số 27, quyển 01 TP/CC SCC/HĐGD của Phòng C1 Trà Vinh và không chấp nhận yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 022251, thửa số 469, tờ bản đồ số 95, diện tích 2.856,7m² và Giấy chứng nhận số BĐ 022252, thửa số 324, tờ bản đồ số 95, diện tích 7.101,1m², đất tọa lạc tại ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, do UBND thành phố T cấp cho ông Võ Thế P vào ngày 22 tháng 3 năm 2011.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Võ Văn T đại diện của bà Võ Thị Bửu Â, yêu cầu nhận công nhận một phần thửa đất số 324, diện tích 6.070m² nằm trong tổng diện tích chung 7.101,1m², tờ bản đồ số 95, tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh cho ông Võ Văn T đại diện đứng tên cho bà Võ Thị Bửu Â.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thế P về yêu cầu bà Võ Thị Bửu  và bà Võ Thị Minh N chia thừa kế quyền sử dụng đất. Buộc ông Võ Văn T đại diện của bà Võ Thị Bửu  và bà Võ Thị Minh N phải có nghĩa vụ giao cho ông Võ Thế P phần đất sau: Ông Võ Thế P được hưởng 01 phần của ông P tại thửa 324, diện tích 1.132,8m² (ký hiệu I); thửa 469, diện tích 471,2m² (ký hiệu J), cùng tờ bản đồ số 95, cùng tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh
Ông Võ Thế P được hưởng 01 phần của ông Võ Đức T1 tại thửa 324, diện tích 1.151,1m² (ký hiệu H) và thửa 469, diện tích 470,8m² (ký hiệu K), cùng tờ bản đồ số 95, cùng tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Bà Võ Thị Minh N được hưởng tại thửa 324, diện tích còn lại là 992,3m² (ký hiệu G) và diện tích 1.117,4m² (ký hiệu F); tại thửa 469, diện tích 468,9m² (ký hiệu O) và diện tích 470,7m² (ký hiệu N), cùng tờ bản đồ số 95, cùng tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Bà Võ Thị Bửu  được hưởng tại thửa 324, tổng diện tích 1.150,2m² (ký hiệu E) và diện tích 1.158,8m² (ký hiệu D); tại thửa 469, diện tích 470,1m² (ký hiệu M) và diện tích 469m² (ký hiệu L), cùng tờ bản đồ số 95, cùng tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Võ Thị Minh N đồng ý giao cho ông Võ Đức T1 diện tích 78,3m², tại thửa 324 (ký hiệu G2) và ông Võ Thế Phương diện T8 78m², tại thửa 324 (ký hiệu G1).
Ông Võ Thế P, ông Võ Đức T1, bà Võ Thị Bửu  (do ông Võ Văn T đại diện), bà Võ Thị Minh N được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên theo phần quyết định này của Bản án, được thể hiện các ký hiệu trong Sơ đồ khu đất tại Công văn số 1164/CNTPTV ngày 08 tháng 7 năm 2024.
Không chấp nhận yêu cầu của ông Võ Thế P, về việc yêu cầu ông Trầm Văn T3 và bà Trần Ngọc L1 di dời tài sản và trả diện tích 242,2m², thửa đất số 324, tờ bản đồ số 95, tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh cho ông Võ Thế P được sử dụng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Võ Thị Minh N, ông Kiên D, ông Kiên Đăng K, bà Trần Thị Mộng T2, bà Kiên Thị Tố D1, ông Lê Thanh H1 di dời nhà, các công trình nằm trên phần đất người khác được chia.
Ghi nhận sự tự nguyện ông Võ Đức T1, ông Võ Thế P, bà Võ Thị Minh N, ông Kiên D, ông Kiên Đăng K, bà Trần Thị Mộng T2, bà Kiên Thị Tố D1, ông Lê Thanh H1 đều thống nhất các cây cối trên phần đất thuộc về người nào thì người đó hưởng cả cây cối có sẵn trên đất.
Ghi nhận sự tự nguyện ông Võ Văn T, ông Võ Thế P, bà Võ Thị Minh N, ông Kiên D, ông Kiên Đăng K, bà Trần Thị Mộng T2, bà Kiên Thị Tố D1, ông Lê Thanh H1, ông Võ Văn T tự nguyện di dời nhà, các công trình trên đất và các cây kiểng của ông T để trả đất cho người được hưởng trên từng phần và ông T được di dời các cây kiểng trong thời gian 06 tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024 nguyên đơn ông Võ Thế P kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm số 82/2024/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thế P chia thừa kế cho những đồng thừa kế mỗi người được hưởng phần bằng nhau, Bản án sơ thẩm đã chia cho bà Võ Thị Bửu  và bà Võ Thị Minh N được hưởng 02 suất thừa kế là không hợp lý, vì bà Võ Thị Bửu Â, ông Võ Văn T và bà Võ Thị Minh N đều không có công sức gì trên phần đất di sản này, mặt khác họ sống trên đất thì cũng được hưởng hoa lợi. Yêu cầu chấp nhận đơn khởi kiện của ông P đối với diện tích ông Trầm Văn T3 và bà Trần Ngọc L1 đã lấn chiếm diện tích 242,2m², nằm trong tổng diện tích 7.101,1m², tờ bản đồ số 95, đất tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Yêu cầu định giá lại phần đất di sản đang tranh chấp, vì Hội đồng định giá áp một mức giá cho cả hai thửa đất là chưa phù hợp.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024 ông Võ Văn T kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xem xét chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Võ Thị Bửu Â, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thế P.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn ông Võ Thế P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bị đơn ông Võ Văn T là người đại diện theo pháp luật của bà Võ Thị Bửu  rút lại toàn bộ yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ kiện.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Võ Thị Bửu  phát biểu quan điểm như sau: Việc rút yêu cầu kháng cáo của bị đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bị đơn, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: thời hạn kháng cáo của nguyên đơn ông Võ Thế P và bị đơn bà Võ Thị Bửu  người đại diện theo pháp luật ông Võ Văn T còn trong hạn luật định là hợp pháp.
Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Võ Thế P. Xét về hàng thừa kế của cụ Võ Văn H2 và cụ Nghị Thị T5 đã sinh 06 người con gồm bà Võ Thị Bửu Â, ông Võ Đức T1, ông Võ Thế P, bà Võ Thị Minh N, bà Võ Thị T6, (chết năm 1976, không chồng, con) và ông Võ Văn C (chết năm 1969, không vợ, con). Như vậy, hàng thừa kế cụ T5, cụ H2 gồm 04 người. Các đương sự xác định thửa 469, diện tích 2.856,7m² và thửa số 324, diện tích 7.101,1m², cùng tờ bản đồ số 95, đất tọa lạc tại ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh là di sản chưa phân chia. Hiện tại bà Võ Thị Minh N và ông Võ Văn T con của bị đơn bà Võ Thị Bửu  đang quản lý di sản. Án sơ thẩm xem xét cho bà Võ Thị Minh N và bà Võ Thị Bửu  mỗi người 01 suất thừa kế là phù hợp với Án lệ 06/2016, vì ông P và hàng thừa kế đều thừa nhận bà N, bà  đã quản lý đất sau khi cụ T5 chết năm 1982 đến nay và thể hiện bà N, bà  có đăng ký kê khai năm 1983, 1991 người đã san lắp rất nhiều ao làm tăng giá trị đất, có công sức gìn giữ di sản trong thời gian dài. Vì vậy, kháng cáo của nguyên đơn không đồng ý tính thêm 01 suất di sản cho bà Võ Thị Minh N và bà Võ Thị Bửu  là không có căn cứ.
Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu ông T3, bà L1 di dời tài sản trả diện tích 242,2m². Phần đất tranh chấp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng cho ông P đại diện hàng thừa kế tại thửa đất 324, nhưng hàng thừa kế khẳng định phần đất của ông T3, bà L1 họ không tranh chấp, ông Trầm Văn T3 và bà Trần Ngọc L1 đã sử dụng từ trước đến năm 2017 thì ông T3, bà Liên tiếp T9 xây dựng hàng rào kiên cố và ông Võ Văn T là người sử dụng đất liền kề thống nhất vị trí ranh giới đất đồng ý cho ông T3, bà L1 xây dựng làm ranh giới. Ủy ban nhân dân thành phố T đã cấp diện tích 242,2m² là thuộc thửa đất số 324, nằm trong tổng diện tích 7.101,1m², tờ bản đồ số 95, tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh nhưng không được đo đạc kiểm tra thực tế thửa đất nên có một phần không đúng đối tượng đang sử dụng đất và tại phiên tòa phúc thẩm ông P khẳng định kể từ khi cấp giấy ông P không biết diện tích này là của gia đình ông đến khi tranh chấp chia thừa kế thì cơ quan chuyên môn thẩm định xác định phần tranh chấp nằm trong thửa đất 324 đã cấp cho ông đại diện đứng tên thì ông mới biết và Tòa án yêu cầu ông làm đơn khởi kiện chung trong vụ án để giải quyết. Như vậy, yêu cầu kháng cáo của ông P là không có căn cứ.
Nguyên đơn ông Võ Thế P kháng cáo cho rằng Hội đồng định giá ngày 12/6/2024 cao so với thực tế và giá tính nguyên thửa đất mà không định giá theo từng vị trí và có đơn yêu cầu định giá lại đất tranh chấp, nhưng theo biên bản định giá Hội đồng định giá đã định theo từng vị trí được ký hiệu trên sơ đồ đất và ông P không cung cấp được chứng cứ chứng minh giá đất đã định là cao nên án sơ thẩm căn cứ vào định giá của Hội đồng định giá ngày 12/6/2024 để giải quyết là phù hợp. Tuy nhiên, tại phần quyết định của bản án sơ thẩm chỉ tuyên chia cho các đương sự phần diện tích theo ký hiệu mà không tuyên tứ cận theo sơ đồ khu đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 324, 469 có diện tích 600m² đất ở nhưng bản án sơ thẩm không giải quyết, chưa định giá, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không ai yêu cầu định giá mà thống nhất chia bằng hiện vật, phần đất ở này là di sản nên chia đều cho hàng thừa kế là đúng quy định. Đề nghị sửa bổ sung phần quyết định của bản án phúc thẩm.
Bị đơn bà Võ Thị Bửu  kháng cáo yêu cầu chấp nhận yêu cầu phản tố bị đơn, tuyên bố Tờ thỏa thuận được xác lập ngày 09 tháng 01 năm 2003 vô hiệu, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 324, 469 và công nhận một phần thửa đất số 324, diện tích 6.070m² nằm trong tổng diện tích chung 7.101,1m², tờ bản đồ số 95, tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh cho ông Võ Văn T đại diện đứng tên cho bà Võ Thị Bửu Â.
Tại phiên tòa hôm nay ông Võ Văn T đại diện bà Võ Thị Bửu  xin rút toàn bộ đơn kháng cáo. Nên căn cứ Điều 289, khoản 5 Điều 308, Điều 312 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đề nghị đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần này. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, căn cứ Điều 289, khoản 1, 5 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa Bản án sơ thẩm số 82/2024/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn ông Võ Thế P kháng cáo, ông Võ Văn T là người đại diện theo pháp luật của bà Võ Thị Bửu  kháng cáo, việc kháng cáo của các đương sự còn trong hạn luật định nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2] Xét nội dung yêu cầu kháng cáo: nguyên đơn ông Võ Thế P kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thế P theo hướng chia di sản thừa kế bằng 4 phần, buộc ông Trầm Văn T3 và bà Trần Ngọc L1 di dời tài sản để trả lại diện tích đất 242,2m², yêu cầu định giá lại tài sản. Ông Võ Văn T kháng cáo yêu cầu xem xét chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Võ Thị Bửu Â, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thế P.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm ông Võ Văn T là người đại diện theo pháp luật của bà Võ Thị Bửu  rút lại toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Xét thấy việc rút lại yêu cầu kháng cáo của đương sự là thật sự tự nguyện và đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm, phần này của án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
[4] Đối với yêu cầu chia thừa kế của ông Võ Thế P. Xét thấy ông Võ Đức T1, ông Võ Thế P, bà Võ Thị Minh N cùng xác nhận đất đang tranh chấp nêu trên có nguồn gốc là của cụ Võ Văn H2 và cụ Nghị Thị T5 tạo dựng và để lại nhưng không có di chúc cho ai hoặc đã tặng cho ai. Sau khi cụ T5 chết thì bà Võ Thị Minh N và bà Võ Thị Bửu  là người đã san lắp ao và là người quản lý, tu bổ, gìn giữ di sản trong thời gian dài làm tăng giá trị đất nên cần tính công sức đóng góp cho bà N và bà  mỗi người thêm 01 suất thừa kế thì mới hợp tình và hợp lý, bảo đảm quyền lợi cho người quản lý đất thừa kế, do đó cấp sơ thẩm xem xét chia thành 6 phần, cho ông T1, ông P mỗi người được hưởng một phần, riêng bà  và bà N mỗi người được hưởng hai phần là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Phần di sản mà các hàng thừa kế được hưởng cụ thể như sau:
Ông Võ Đức T1 được hưởng tại thửa 324, diện tích 1.151,1m² (ký hiệu H) và thửa 469, diện tích 470,8m² (ký hiệu K) cùng tờ bản đồ số 95, cùng tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Tuy nhiên căn cứ vào văn bản cho lại tài sản thừa kế, đề ngày 26 tháng 10 năm 2018 (BL 36, 37) của ông Võ Đức T1 giao phần thừa kế trên cho ông Võ Thế P.
Ông Võ Thế P được hưởng tại thửa 324, diện tích 1.132,8m² (ký hiệu I) và thửa 469, diện tích 471,2m² (ký hiệu J), cùng tờ bản đồ số 95, cùng tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Bà Võ Thị Minh N được hưởng tại thửa 324, diện tích 1.148,6m² (ký hiệu G) và diện tích 1.117,4m² (ký hiệu F) và thửa 469, diện tích 468,9m² (ký hiệu O) và diện tích 470,7m² (ký hiệu N), cùng tờ bản đồ số 95, cùng tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Bà Võ Thị Bửu  được hưởng tại thửa 324, diện tích 1.150,2m² (ký hiệu E) và diện tích 1.158,8m² (ký hiệu D) và thửa 469, diện tích 470,1m² (ký hiệu M) và diện tích 469m² (ký hiệu L), cùng tờ bản đồ số 95, cùng tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
[5] Đối với yêu cầu của ông Võ Thế P buộc ông Trầm Văn T3 và bà Trần Ngọc L1 di dời tài sản trên đất để trả lại cho ông diện tích 242,2m² (thực đo theo ký hiệu B, C, D tổng diện tích 586,5m²). Căn cứ vào khoản 1 Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về ranh giới giữa các bất động sản “Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ...”. Đối chiếu với quy định trên thì phần diện tích 242,2m² mà ông Trầm Văn T3 và bà Trần Ngọc L1 đã sử dụng từ trước cho đến năm 2017 thì ông T3, bà Liên tiếp T9 xây dựng hàng rào kiên cố và trước khi xây dựng ông T3, và L1 có kêu ông Võ Văn T là người sử dụng đất liền kề với ông T3, bà L1 đến xem và thống nhất vị trí ranh giới đất với nhau để ông T3, bà L1 xây dựng hàng rào kiên cố như hiện nay. Việc ông Trầm Văn T3 và bà Trần Ngọc L1 đã sử dụng diện tích 242,2m² từ trước cho đến nay mà ông P và ông T1 cho rằng hai ông không biết việc họ sử dụng và xây dựng từ khi nào là không đúng, bởi vì ông Võ Thế P và ông Võ Đức T1 đã liên tục tranh chấp thừa kế phần đất này với ông Võ Văn T (con của bà Â) và bà N từ rất lâu và liên tục nhưng ông P và ông T1 đều không ngăn cản hay phản đối gì đến việc ông T3, bà L1 đã sử dụng đất này. Mặc dù Ủy ban nhân dân thành phố T đã cấp diện tích 242,2m² là thuộc thửa đất số 324, nằm trong tổng diện tích 7.101,1m², tờ bản đồ số 95, tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, do ông Võ Thế P đứng đại diện các đồng thừa kế vào năm 2011, nhưng không được đo đạc kiểm tra thực tế thửa đất nên có một phần không đúng đối tượng đang sử dụng đất. Từ các căn cứ nêu trên án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông P đại diện các đồng thừa kế, yêu cầu buộc ông Trầm Văn T3 và bà Trần Ngọc L1 di dời tài sản và trả diện tích 242,2m² mà ông T3 và bà L1 đã lấn chiếm, nằm trong tổng diện tích 7.101,1m², thửa đất số 324, tờ bản đồ số 95, tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Đối với yêu cầu định giá lại tài sản của ông Võ Thế P xét thấy án sơ thẩm chia thừa kế là quyền sử dụng đất và chia theo hiện vật không phải chia theo giá trị nên việc định giá lại là không cần thiết.
Bản án sơ thẩm xem xét giải quyết vụ kiện là hợp tình, hợp lý, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên phần quyết định của Bản án không ghi tứ cận cụ thể và loại đất sử dụng nên ảnh hưởng đến việc thi hành án khi bản án có hiệu lực pháp luật nên cần phải sửa phần này của án sơ thẩm.
Từ những nhận định và phân tích trên xét thấy không có cơ sở để thỏa mãn yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Võ Thế P, việc rút yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Võ Văn T là tự nguyện, đúng pháp luật nên được chấp nhận, chấp nhận đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Võ Thị Bửu Â, đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh là phù hợp với các chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ kiện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Võ Thế P, chấp nhận rút yêu cầu kháng cáo của ông Võ Văn T là người đại diện theo pháp luật của bà Võ Thị Bửu Â. Sửa án dân sự sơ thẩm.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Võ Thế P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, bà Võ Thị Bửu  là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí đúng theo quy định của pháp luật nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2, 5 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Võ Thế P, chấp nhận yêu cầu rút kháng cáo của ông Võ Văn T là người đại diện theo pháp luật của bà Võ Thị Bửu Â. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 82/2024/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh về việc tranh chấp thừa kế về tài sản giữa nguyên đơn ông Võ Thế P với bị đơn bà Võ Thị Minh N và bà Võ Thị Bửu Â.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Võ Văn T đại diện theo pháp luật của bà Võ Thị Bửu Â, về việc yêu cầu tuyên bố vô hiệu văn bản công chứng số 27, quyển 01 TP/CC SCC/HĐGD của Phòng C1 Trà Vinh, yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 022251, thửa số 469, tờ bản đồ số 95, diện tích 2.856,7m² và Giấy chứng nhận số BĐ 022252, thửa số 324, tờ bản đồ số 95, diện tích 7.101,1m², tọa lạc tại ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Trà Vinh cấp cho ông Võ Thế P vào ngày 22 tháng 3 năm 2011. Yêu cầu công nhận một phần thửa đất số 324, diện tích 6.070m² nằm trong tổng diện tích chung 7.101,1m², tờ bản đồ số 95, tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh cho ông Võ Văn T đại diện đứng tên cho bà Võ Thị Bửu Â.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thế P về việc yêu cầu bà Võ Thị Bửu  và bà Võ Thị Minh N chia thừa kế quyền sử dụng đất.
Ông Võ Thế P được hưởng diện tích 1.132,8m² (ký hiệu I) có 50m² đất ở, thuộc thửa 324 và diện tích 471,2m² (ký hiệu J) có 50m² đất ở, thuộc thửa 469 cùng tờ bản đồ số 95, đất tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Phần đất (ký hiệu I) có vị trí, tứ cận sau:
- Phía Đông giáp thửa 324 có kích thước 75,25m;
- Phía Tây giáp khu C Láng Thé có kích thước 72,09m;
- Phía Nam giáp thửa 324 có kích thước 18m;
- Phía Bắc giáp thửa 315 có kích thước 15m.
Phần đất (ký hiệu J) có vị trí, tứ cận sau:
- Phía Đông giáp khu C Láng Thé có kích thước 14,64m;
- Phía Tây giáp thửa 315 có kích thước 6,19m;
- Phía Nam giáp thửa 315 có kích thước 45,38m;
- Phía Bắc giáp thửa 469 có kích thước 50,26m.
Ông Võ Thế P được hưởng 01 phần của ông Võ Đức T1 diện tích 1.151,1m² (ký hiệu H), có 50m² loại đất ở, thuộc thửa 324, và diện tích 470,8m² (ký hiệu K) có 50m² loại đất ở, thuộc thửa 469, cùng tờ bản đồ số 95, đất tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Phần đất (ký hiệu H) có vị trí, tứ cận sau:
- Phía Đông giáp thửa 324 có kích thước 78,86m;
- Phía Tây giáp thửa 324 có kích thước 75,25m;
- Phía Nam giáp thửa 324 có kích thước 16,60m;
- Phía Bắc giáp thửa 315 có kích thước 15m.
Phần đất (ký hiệu K) có vị trí, tứ cận sau:
- Phía Đông giáp khu C Láng Thé có kích thước 13m;
- Phía Tây giáp thửa 315 có kích thước 5,70m;
- Phía Nam giáp thửa 469 có kích thước 50,26m;
- Phía Bắc giáp thửa 469 có kích thước 55,96m.
Buộc ông Võ Văn T đại diện theo pháp luật của bà Võ Thị Bửu  và bà Võ Thị Minh N phải có nghĩa vụ giao cho ông Võ Thế P phần đất nêu trên.
Bà Võ Thị Minh N được hưởng diện tích 992,3m² (ký hiệu G) có 50m² loại đất ở và diện tích 1.117,4m² (ký hiệu F) có 50m² loại đất ở thuộc thửa 324. Bà Võ Thị Minh N được hưởng diện tích 468,9m² (ký hiệu O) có 50m² loại đất ở và diện tích 470,7m² (ký hiệu N) có 50m² loại đất ở thuộc thửa 469, cùng tờ bản đồ số 95, đất tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Phần đất (ký hiệu G) có vị trí, tứ cận sau:
- Phía Đông giáp thửa 324 có kích thước 75,38m;
- Phía Tây giáp thửa 324 có kích thước 78,45m;
- Phía Nam giáp thửa 324 có kích thước 14m;
- Phía Bắc giáp thửa 315 có kích thước 12m.
Phần đất (ký hiệu F) có vị trí, tứ cận sau:
- Phía Đông giáp thửa 324 có kích thước 70,58m;
- Phía Tây giáp thửa 324 có kích thước 75,38m;
- Phía Nam giáp thửa 324 có kích thước 17,20m;
- Phía Bắc giáp đường T và thửa 315 có kích thước 5m, 8,83m.
Phần đất (ký hiệu O) có vị trí, tứ cận sau:
- Phía Đông giáp khu C Láng Thé có kích thước 7,90m;
- Phía Tây giáp thửa 315 có kích thước 5,70m;
- Phía Nam giáp thửa 469 có kích thước 72,64m;
- Phía Bắc giáp thửa 315 có kích thước 77,42m.
Phần đất (ký hiệu N) có vị trí, tứ cận sau:
- Phía Đông giáp khu C Láng Thé có kích thước 8,90m;
- Phía Tây giáp thửa 315 có kích thước 5,70m;
- Phía Nam giáp thửa 469 có kích thước 67,41m;
- Phía Bắc giáp thửa 469 có kích thước 72,64m.
Bà Võ Thị Bửu  được hưởng diện tích 1.150,2m² (ký hiệu E) có 50m² loại đất ở và diện tích 1.158,8m² (ký hiệu D) có 50m² loại đất ở, thuộc thửa 324. Bà Võ Thị Bửu  được hưởng diện tích 470,1m² (ký hiệu M) có 50m² loại đất ở và diện tích 469m² (ký hiệu L) có 50m² loại đất ở thuộc thửa 469, cùng tờ bản đồ số 95, đất tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Phần đất (ký hiệu E) có vị trí, tứ cận sau:
- Phía Đông giáp thửa 324 có kích thước 62,52m;
- Phía Tây giáp thửa 324 có kích thước 70,58m;
- Phía Nam giáp đất công cộng có kích thước 21m;
- Phía Bắc giáp đường T có kích thước 7,41m, 8,62m.
Phần đất (ký hiệu D) có vị trí, tứ cận sau:
- Phía Đông giáp thửa 1788 và thửa 1648 có kích thước 13,39m, 40m;
- Phía Tây giáp thửa 324 có kích thước 62,52m;
- Phía Nam giáp thửa 353 có kích thước 25,98m;
- Phía Bắc giáp đường T có kích thước 20m;
Phần đất (ký hiệu M) có vị trí, tứ cận sau:
- Phía Đông giáp khu C có kích thước 10m;
- Phía Tây giáp thửa 315 có kích thước 5,70m;
- Phía Nam giáp thửa 469 có kích thước 61,80m;
- Phía Bắc giáp thửa 469 có kích thước 67,41m.
Phần đất (ký hiệu L) có vị trí, tứ cận sau:
- Phía Đông giáp khu C Láng Thé có kích thước 11,30m;
- Phía Tây giáp thửa 315 có kích thước 5,70m;
- Phía Nam giáp thửa 469 có kích thước 55,96m;
- Phía Bắc giáp thửa 469 có kích thước 61,80m.
Vị trí, tứ cận của các phần đất nêu trên có sơ đồ khu đất kèm Công văn số 1164/CNTPTV ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Văn phòng Đ chi nhánh thành phố T.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thế P về việc yêu cầu ông Trầm Văn T3 và bà Trần Ngọc L1 di dời tài sản và trả diện tích 242,2m² (thực đo theo ký hiệu B, C, D tổng diện tích 586,5m²), thửa đất số 324, tờ bản đồ số 95, đất tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Các đương sự ông Võ Thế P, bà Võ Thị Minh N và bà Võ Thị Bửu  có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và thực hiện nghĩa vụ về tài chính để làm thủ tục xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích và tứ cận theo quyết định của bản án. Ông Võ Thế P có trách nhiệm giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 324, thửa 469, cùng tờ bản đồ số 95, đất tọa lạc ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Võ Thế P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp là là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0001052 ngày 20 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh; ông Võ Thế P đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Võ Thị Bửu Â.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Đắc Đương |
Bản án số 95/2025/DS-PT ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, di dời tài sản, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp văn bản công chứng và chia thừa kế tài sản
- Số bản án: 95/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, di dời tài sản, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp văn bản công chứng và chia thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T/c quyền sử dụng đất
