|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 95/2025/DS-PT Ngày 18 - 03 - 2025 “Về việc tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Châu
Các Thẩm phán: Ông Ngô Đê
Ông Lê Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Tấn Tài - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Thạch Vũ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 05/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 62/2024/DS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 28/2025/QĐ-PT ngày 10 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2025/QĐ-PT ngày 27/02/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị N, sinh năm 1957, có mặt.
Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trịnh Thị N: ông Đỗ Hiếu N1, sinh năm 1978. Địa chỉ: ấp A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long theo văn bản ủy quyền ngày 11/12/2020, có mặt.
- Bị đơn: Bà Kim Thị A, sinh năm 1955, vắng mặt.
Địa chỉ: ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh
Người đại diện theo ủy quyền của bà Kim Thị A: ông Trịnh Phi T, sinh năm 1979. Địa chỉ: ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh theo văn bản ủy quyền ngày 16/10/2024, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trịnh Thị Sa P, sinh năm 1976. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trịnh Thị Sa P: ông Trịnh T1, sinh năm 1981. Địa chỉ: ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh theo văn bản ủy quyền ngày 06/03/2025, có mặt.
- Ông Trịnh Phi T, sinh năm 1979, có mặt.
- Ông Trịnh T1, sinh năm 1981, có mặt.
Cùng địa chỉ: ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh
- Bà Trịnh Thị T2, sinh năm 1983, vắng mặt.
Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trịnh Thị T2: ông Trịnh T1, sinh năm 1981. Địa chỉ: ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh theo văn bản ủy quyền ngày 06/03/2025, có mặt.
- Bà Kim Thị D, sinh năm 1984, vắng mặt.
- Anh Trịnh Tấn D1, sinh ngày 01/3/2005, vắng mặt.
Cùng địa chỉ: ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh
Người đại diện theo ủy quyền của bà Kim Thị D và anh Trịnh Tấn D1: ông Trịnh T1, sinh năm 1981. Địa chỉ: ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh theo văn bản ủy quyền ngày 16/10/2024, có mặt.
- Bà Trịnh Thị Sa P, sinh năm 1976. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bà Trịnh Thị N là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/4/2020 và tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trịnh Thị N là ông Đỗ Hiếu N1 trình bày và có yêu cầu như sau:
Bà Trịnh Thị N và ông Trịnh T3 (chết năm 2014) là anh em ruột, có mẹ tên là bà Kim Thị H, sinh năm 1939 (chết năm 1958), có cha tên ông Trịnh Văn B có vợ khác sau khi bà H qua đời, bà N và ông T3 về chung sống với ông, bà ngoại là cụ Kim R và cụ Kim Thị O tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Cụ Kim R không phải là ông ngoại ruột của bà N và ông T3. Ông ngoại ruột của bà N và ông T3 là cụ Hứa K, sinh năm 1911 (chết năm 1980). Cụ Hứa K và cụ Kim Thị O chỉ có 01 người con và chia tay khi bà Kim Thị H chưa sinh ra. Cụ R và cụ O chung sống với nhau từ năm 1942 cho đến khi chết không có con chung. Ông Trịnh T3 có 04 người con là Trịnh Thị Sa P, Trịnh Phi T, Trịnh T1 và Trịnh Thị T2. Khi còn sống thì ông, bà ngoại bà N là cụ Kim R và cụ Kim Thị O có tạo dựng được một số tài sản, trong đó có 35.710m² đất, bao gồm các thửa đất:
- Thửa 345, tờ bản đồ số 10, diện tích 6.540m², đất tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Thửa 407, tờ bản đồ số 10, diện tích 2.410m², đất tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Thửa 334, tờ bản đồ số 10, diện tích 17.540m², đất tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Thửa 745, tờ bản đồ số 10, diện tích 3.642m², đất tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Thửa 522, tờ bản đồ số 10, diện tích 2.910m², đất tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Thửa 955, tờ bản đồ số 10, diện tích 1.860m², đất tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Thửa 831, tờ bản đồ số 10, diện tích 240m², đất tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Thửa 2024, tờ bản đồ số 10, diện tích 559m², đất tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Năm 1976, bà Trịnh Thị N có gia đình và ra ở riêng cùng địa phương, được ông bà ngoại cho diện tích đất 8.950m² để sinh sống thuộc 02 thửa đất số 345 và 407, cùng tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Sau này bà N đổi phần đất này với em chồng bà là ông Kim N2 nên hiện tại ông Kim N2 đang quản lý, sử dụng đất.
Ông Trịnh Thái kết H1 với bà Kim Thị A và ở cùng ông, bà ngoại. Ông bà ngoại cũng cho ông T3 diện tích 8.642m² thửa 02 thửa đất 745, tờ bản đồ số 10, diện 3.642m² và 5.000m² trong thửa 334, cùng tờ bản đồ số 10 để sinh sống.
Khoảng năm 1978, ông T3 chuyển nhượng thửa 745, tờ bản đồ số 10, diện tích 3.642m², đất tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh cho bà Kim Thị K1 ngụ cùng ấp với ông T3. Sau khi bà K1 chết, con bà K1 là ông Kim C chuyển nhượng lại cho ông Kim Đ, hiện tại thửa đất này ông Kim Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đang sử dụng.
Sau khi ông, bà ngoại chết (cụ O chết vào ngày 24/10/1993) thì ông T3 tiếp tục quản lý 06 thửa đất còn lại là thửa 334, 745, 522, 955, 831 và 2024.
Năm 2018, ông Trịnh T3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối thửa 2024, tờ bản đồ số 10, diện tích 559m², đất tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, bà N và bà Kim Thị A tranh chấp thửa đất này và vụ việc được Ủy ban nhân dân xã T hòa giải thành vào năm 2019.
Như vậy lúc sinh thời ông, bà ngoại có 08 thửa đất với tổng cộng 35.710m² đất. Đã chia cho bà N 8.950m² (thuộc thửa đất 345 và 407), chia cho ông T3 8.642m² (thửa 745 có diện tích 3.642m² và thửa 334 có diện tích 5000m²) cùng tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại ấp Đ (nay là ấp L), xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Còn lại diện tích 12.540m² trong thửa 334 và các thửa đất 522, 955, 2024 và 831, cùng tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh với tổng diện tích 18.109m² chưa chia.
Cụ Kim Thị O chết vào ngày 24/10/1993 đến ngày 09/12/1993, ông T3 đi kê khai đăng ký quyền sử dụng đất. Đến năm 1995 thì được cấp giấy thuộc các thửa đất 334, 522, 955 và 831, cùng tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh cho hộ ông T3 với tổng diện tích 17.550m². Còn đối với thửa 2024, tờ bản đồ số 10, diện tích 559m² cấp 2018 đã giải quyết xong năm 2019. Đây là di sản của ông, bà ngoại để lại, ông, bà ngoại chết không để lại di chúc, ông T3 kê khai và đăng ký sau ngày cụ O chết mà không có sự đồng thuận của bà N là không đúng với quy định của pháp luật.
Nay ông đại diện theo ủy quyền của bà N yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế cho bà Trịnh Thị N được hưởng thừa kế thửa 334, diện tích 5.517,2m² (theo thực đo) và thửa 955, diện tích 923,3m² (theo thực đo), cùng tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp Đ (nay là ấp L), xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh .
Tại phiên tòa sơ thẩm ông Đỗ Hiếu N1 tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với các thửa 522, diện tích 2.910m², thửa 831, diện tích 240m², cùng tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại ấp Đ (nay là ấp L), xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh không yêu cầu Tòa án giải giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 07/7/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Kim Thị A trình bày và có yêu cầu như sau:
Chồng bà là ông Trịnh T3 là cháu ngoại của cụ Kim R và cụ Kim Thị O. Vào năm 1975, em chồng của bà là bà Trịnh Thị N lập gia đình ra ở riêng, ông bà ngoại chia tài sản cho bà N bằng 09 công đất ruộng và 01 công đất trồng cây lâu năm vào năm 1976. Phần còn lại cụ Kim Thị O cho vợ chồng bà do vợ chồng bà sống chung và nuôi dưỡng ông, bà ngoại. Khi cụ R và cụ O chết, vợ chồng bà đứng ra tổ chức đám và thờ cúng cho đến nay. Từ năm bà N lập gia đình ra ở riêng đến năm cụ O chết là 17 năm, tức là từ năm 1975-1992 và đến năm chồng bà chết là năm 2014 tức là 39 năm, đây là một thời gian dài nếu không đồng ý với phần tài sản mà ông, bà đã chia sao không ý kiến với ông, bà ngoại hoặc chồng bà mà chờ đến chết mới đòi chia. Từ khi chồng bà cưới bà về và ở chung với ông, bà ngoại, đến năm 1986 ông ngoại (cụ Kim R) bị bệnh chết, đến năm 1992 bà ngoại (cụ Kim Thị O) chết. Sau đó chồng bà tự kê khai đất ruộng kể cả đất nhà ở và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 27/3/1995 hợp pháp các thửa đất như sau:
Thửa đất số: 334, tờ bản đồ số 10, diện tích 14.000m², mục đích sử dụng trồng lúa, vợ chồng bà mua thêm của ông K2- bà T4 cư ngụ Đôn C1 A với diện tích 3.540m² (do thửa đất liền kề canh) và chồng bà đăng ký chung với tổng diện tích là 17.540m² chứ không phải là đất của ông bà ngoại toàn bộ 17.540m².
Thửa đất 955, tờ bản đồ số 10, diện tích 1.860m², mục đích sử dụng trồng cây lâu năm gắn liền với đất ở.
Thửa đất 831, tờ bản đồ số 10, diện tích 240m², loại đất trồng cây lâu năm tọa lạc tại ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Đến ngày 13/4/2019, bà Trịnh Thị N có xin đất nền nhà cho con ở, bà cũng đồng ý chia phần đất của bà cho bà N bằng 235m² thuộc thửa đất 2087, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh và đã được Ủy ban xã T chia thừa kế cho bà N xong vào năm 2019.
Nay bà Trịnh Thị N tiếp tục xin chia thừa kế nữa, bà không thấy tài sản nào còn là của ông, bà ngoại cả. Bà và các con đang sử dụng là tài sản của chồng bà là ông Trịnh T3 để lại nên bà không đồng ý. Tất cả tài sản đó bà đã chia cho các con mỗi người bằng 3000m².
Tại bản tự khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị Sa P, ông Trịnh Phi T, ôngTrịnh Thường và bà Trịnh Thị T2: thống nhất với lời trình bày của bà A, không có ý kiến bổ sung.
Căn cứ phiếu cung cấp thông tin số: 218/PCCTT-CNHTrC ngày 01/7/2021 của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T theo tài liệu năm 1983 thể hiện cụ Kim R có đăng ký được ghi theo sổ đăng ký ruộng đất là thửa 191, diện tích 16.400n2, tờ bản đồ số 3.
Căn cứ kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 07/02/2024, thì đất tranh chấp gồm thửa 334 có diện tích 5.517,2m² (theo thực đo), thửa 955 có diện tích 923,3m² (theo thực đo) và thửa 831, diện tích 34,2m² (theo thực đo), cùng tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp Đ (nay là ấp L), xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh và theo kết quả định giá của Hội đồng định giá thì giá trị quyền sử dụng đất diện tích 6.474,7m² bằng 836.051.200 đồng và giá trị cây trên phần đất tranh chấp bằng 26.465.000. Tổng giá trị tài sản tranh chấp bằng 862.516.200 đồng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 62/2024/DS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, đã quyết định:
Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 92, 147, 157, 165, 244, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ các điều 197, 198, 199, 221, 609, 612, 649 và 652 của Bộ luật dân sự năm 2015;Căn cứ Điều 2 Luật đất đai năm 1993; Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật đất đai; Các điều 26, 95, 97, 98, 99, 100, 166 và 203 của Luật đất đai năm 2013; Điều 236 Luật đất đai năm 2024; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 3 Điều 26, điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị N yêu cầu chia thừa kế đối với các thửa đất của ông, bà ngoại của bà N và ông T3 để lại gồm các thửa 334 có diện tích 5.517,2m² (theo thực đo), thửa 955 có diện tích 923,3m² (theo thực đo), cùng tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp Đ (nay là ấp L), xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị N đã rút không xem xét đối với các thửa đất số 522, diện tích 2.910m² và thửa đất số 831, diện tích 240m², cùng tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại ấp Đ (nay là ấp L), xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí thẩm định, định giá và lệ phí yêu cầu cung cấp thông tin, án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024, bà Trịnh Thị N có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận đơn khởi kiện và kháng cáo của nguyên đơn.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự vắng mặt tại phiên toà phúc thẩm không có gởi cho Toà án cấp phúc thẩm ý kiến trình bày, tài liệu chứng cứ nào khác so với ở cấp sơ thẩm; các đương sự có mặt tại phiên toà không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án;
Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
Trong quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập chứng cứ đầy đủ. Đối với thửa 334, có 01 phần diện tích 3.540m² được cho là đất ông T3 nhận chuyển nhượng từ ông K2 và bà T4 nhưng không xác định được vị trí đất ở đâu; cấp sơ thẩm chưa thu thập quá trình biến động đối với các thửa 522, 955, 831 như thu thập đối với thửa 334. Trong quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, ông là người đại diện cho nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện đối với các thửa 522, diện tích 2.910m² và thửa 831, diện tích 240m², nhưng cấp sơ thẩm cho rằng ông đã rút đơn khởi kiện các thửa này là không chuẩn xác. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
Không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của nguyên đơn, vì các phần đất trên cụ Kim Thị O khi còn sống đã chia phần cho ông T3 và bà N xong. Các bên đã canh tác ổn định không có tranh chấp khiếu nại trước khi ông T3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến sau khi ông T3 chết. Do vậy, xác định phần đất trên thuộc quyền sử dụng của ông T3 và bà A, không phải là di sản thừa kế.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án và kháng cáo của nguyên đơn: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm, cho thấy kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ để chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 62/2024/DS-ST ngày 08/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày tranh tụng của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy rằng:
- [1] Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Trịnh Thị N là hợp lệ và còn trong thời hạn luật định nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Các đương sự là bị đơn, là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn vắng mặt nhưng đã ủy quyền cho người có mặt tham gia phiên tòa và việc Toà án đưa vụ án này ra xét xử là lần thứ 2 nên căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử là đúng quy định.
- [3] Xét nội dung vụ án, kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
- [3.1] Về nguồn gốc đất, quá trình đăng ký kê khai:
Xét thấy các thửa 334, 955, 522 và 831, cùng tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp Đ (nay là ấp L), xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh có nguồn gốc của cụ Kim R và cụ Kim Thị O (là ông bà ngoại của ông T3 và bà N) được các bên thừa nhận.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Đỗ Hiếu Nghĩa L đại diện cho nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với thửa 522, diện tích 2.910m² và thửa 831, diện tích 240m², không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã đình chỉ xét xử đối với phần đã rút là đúng quy định theo Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đỗ Hiếu N1 cho rằng ông không có rút đối với yêu cầu khởi kiện này, tuy nhiên, ông không có chứng cứ gì để chứng minh. Đồng thời, tại đơn kháng cáo của bà Trịnh Thị N cũng không thể hiện có kháng cáo đối với phần Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử. Do đó, xét thấy phần đình chỉ xét xử [mục 2 của phần quyết định của Bản án sơ thẩm] đã có hiệu lực khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Như vậy, xác định bà Trịnh Thị N còn tranh chấp đối với thửa 334, diện tích 5.517,2m² (theo thực đo) nằm trong tổng diện tích 17.540m² loại đất trồng lúa và thửa 955 diện tích 923,3m² (theo thực đo) nằm trong diện tích 1.860m², loại đất trồng cây lâu năm gắn liền với đất ở, cùng tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp Đ (nay là ấp L), xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Đối chiếu phần đất tranh chấp nêu trên theo tư liệu năm 1983 thể hiện:
- + Đối với thửa 334: Cụ Kim R có đứng tên kê khai thửa đất số 191, diện tích 16.400n2, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp Đ (nay là ấp L), xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (không có tên cụ Kim Thị O). Sau khi cụ R chết vào năm 1986, cụ Kim Thị O tiếp tục chia cho bà Trịnh Thị N thêm 2,4 công (tương đương 2.400m² nay thuộc thửa 407) nằm trong diện tích 16.400m² thuộc thửa 191 này nên diện tích còn lại là 14.000m² được cụ O giao cho vợ chồng ông Trịnh Thái canh T5 quản lý, sử dụng từ khi cụ Kim Thị O còn sống. Cụ Kim Thị O không có tiếp tục đăng ký kê khai đối với diện tích đất này sau khi cụ Kim R chết. Sau đó, ông Trịnh T3 có nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông K2 và bà T4 với diện tích bằng 3.540m² liền kề với thửa đất 191 nên đến năm 1993, ông T3 có đơn xin kê khai cấp toàn bộ diện tích đất bằng 17.540m² thuộc thửa 334, sử dụng liên tục từ khi đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 27/3/1995. Như vậy, cho thấy 01 phần diện tích đất thuộc thửa 334 có nguồn gốc của cụ Kim R và cụ Kim Thị O nhưng đã được phân chia cho 02 cháu của cụ O là bà Trịnh Thị N và ông Trịnh Thái X khi cụ O còn sống, do đó các thửa đất trên không còn là di sản của cụ O nữa, cộng lại cụ Kim R đã chết từ năm 1986 tính đến nay thì thời hiệu chia thừa kế cũng không còn.
- + Đối với thửa 955: Mặc dù được bên ông T3 thừa nhận là đất này có nguồn gốc của cụ Kim R và cụ Kim Thị O, nhưng cũng đã giao cho vợ chồng ông Trịnh T3 sử dụng từ khi cụ Kim Thị O còn sống, cụ Kim Thị O cũng không có đăng ký kê khai thửa đất này qua các thời kỳ, và bà Trịnh Thị N cũng thừa nhận thửa đất này đã giao cho ông Trịnh T3 sử dụng trước khi cụ Kim Thị O chết. Cho nên phần đất này cũng không còn là di sản của cụ O để lại.
Như vậy, việc phân chia đã được thực hiện trên thực tế và đã được điều chỉnh trên sổ sách giấy tờ về đất đai; thỏa thuận phân chia không vi phạm quyền lợi của thừa kế nào, không ai tranh chấp nên có cơ sở xác định đất không còn là di sản thừa kế của cụ R, cụ O nữa mà đã chuyển thành quyền sử dụng đất hợp pháp của hộ ông Trịnh Thái . Vì vậy, yêu cầu khởi kiện chia thừa kế đối với tài sản là di sản của ông, bà ngoại bà N là không còn nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu chia di sản bà N nữa.
- [3.2] Từ những chứng cứ và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy khởi kiện và kháng cáo của bà Trịnh Thị N là không có cơ sở chấp nhận.
- [4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét thấy bà Trịnh Thị N thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí, án phí nên xét miễn cho Trịnh Thị N;
- [5] Xét ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 62/2024/DS-ST ngày 08/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh là có căn cứ chấp nhận.
- [6] Các quyết khác không bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết hạn kháng cáo kháng nghị.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 12, khoản 5 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Trịnh Thị N;
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 62/2024/DS-ST ngày 08/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
Tuyên xử:
- 1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị N yêu cầu chia thừa kế của các thửa đất của ông, bà ngoại của bà N và ông T3 để lại gồm các thửa 334 có diện tích 5.517,2m² (theo thực đo), thửa 955 có diện tích 923,3m² (theo thực đo), cùng tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp Đ (nay là ấp L), xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- 2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị N đã rút không xem xét đối với các thửa đất số 522, diện tích 2.910m² và thửa đất số 831, diện tích 240m², cùng tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại ấp Đ (nay là ấp L), xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- 3. Về chi phí tố tụng: số tiền 6.697.625đ (Sáu triệu, sáu trăm chín mươi bảy nghìn, sáu trăm hai mươi lăm đồng) do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu và đã nộp xong.
- 4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn bà Trịnh Thị N.
- 5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho Trịnh Thị N, do bà N được xem xét cho miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm nên không xem xét hoàn trả.
- 6. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Kim Châu |
Bản án số 95/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất
- Số bản án: 95/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên án sơ thẩm
