|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 95/2025/DS-PT
Ngày: 28/02/2025
V/v. tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu
cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Lợi;
Các Thẩm phán: Bà Đặng Thị Thơm;
Ông Điều Văn Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Vĩnh, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 389/2024/TLPT-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1338/2025/QĐPT-DS ngày 13 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn Đ, địa chỉ: thôn T, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình. Có mặt.
- Bị đơn:
- 2.1. Ông Nguyễn Văn Đ1, bà Đào Thị H, cùng địa chỉ: thôn T, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ1, bà H: Ông Ngô Xuân P; địa chỉ: Số B, phố H, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Có mặt.
- 2.2. Ông Nguyễn Văn D, địa chỉ: thôn T, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Bà Nguyễn Thị T; địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
- 3.2. Ông Nguyễn Anh T1; địa chỉ: Thôn G, xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
- 3.3. Chị Phạm Thị M; địa chỉ: Thôn A, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
- 3.4. Chị Phạm Thị X; địa chỉ: Số nhà C, ngõ E, tổ Đ, phường Q, quận H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
- 3.5. Chị Phạm Thị M1; địa chỉ: Số nhà C, ngách G, phường B, quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- 3.6. Anh Phạm Văn T2; địa chỉ: Xóm I, thôn B, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
- 3.7. Chị Phạm Thị C; địa chỉ: Thôn B, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
- 3.8. Anh Nguyễn Mạnh H1 và chị Hoàng Thị V; địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình. Anh H1 có mặt, chị V vắng mặt.
- 3.9. Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
- Người kháng cáo:
- 4.1. Nguyên đơn là ông Hoàng Văn Đ.
- 4.2. Bị đơn là ông Nguyễn Văn Đ1, bà Đào Thị H, ông Nguyễn Văn D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/12/2021, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 06/6/2022, đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Hoàng Văn Đ trình bày:
Năm 1980, ông đi bộ đội về sinh sống tại địa phương. Vì bị thương, sức khỏe yếu, không lao động nặng được, lại phải nuôi mẹ già, nên ông muốn mở cửa hàng để bán hàng nước và may mặc tạo thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình. Vì vậy ông đã cùng anh trai là ông Hoàng Trọng L đến hỏi mua diện tích đất nhỏ phần mặt đường trong thửa đất của gia đình cụ S1 để ông làm quán bán hàng. Vì ông L đi bộ đội cùng ông D (con cụ S1) nên cụ S1 đã nhất trí bán cho ông diện tích đất 35m², giá 380 đồng, vị trí đất giáp mặt đường 223 cũ, nay là đường D, phía Đông có số đo 2,5 ngũ (tương đương 05m), giáp ngõ đi của cụ S1 (ngõ rộng 02 mét, giáp đất ông P1); phía Tây có số đo 2,5 ngũ (tương đương 05m) giáp đất còn lại của cụ S1; phía Nam có số đo 3 ngũ rưỡi (tương đương 07m), giáp mặt đường 223 cũ; phía Bắc số đo 3 ngũ rưỡi (tương đương 07m), giáp đất còn lại của cụ S1 (giáp một phần nhà lợp rạ bà T4 (tức N1) ở).
Trên phần đất còn lại của cụ S1 có 04 gian nhà lợp ngói vợ chồng cụ S1 và gia đình ông D sinh sống, 01 nhà lợp rạ gia đình ông Đ1 sinh sống, 01 nhà lợp rạ bà T4 sinh sống. Cả ba nhà đều ở phía Bắc của thửa đất của cụ S1, đi chung một ngõ đi (rộng 02m), một bên ngõ giáp đất ông P1, một bên ngõ giáp đất của cụ S1 bán cho ông.
Việc mua bán đất giữa ông và cụ S1 đã thực hiện vào năm 1981, cụ S1 đã lập mốc 4 mặt, giao đất cho ông, ông nhận đất và đã trả đủ tiền cho cụ S1. Việc mua bán đất này cụ E và các con của cụ S1 đều biết và không ai có ý kiến gì. Cụ S1 đã tự viết giấy có nội dung bán đất cho ông, sau đó ông và cụ S1 đã cùng ra Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã xin xác nhận của đại diện UBND xã S, huyện V là ông Hoàng Văn T3 - Phó Chủ tịch UBND xã S thời điểm đó.
Cùng năm 1981, ông nhờ ông Hoàng Trọng L, bà Trần Thị L1 (vợ ông L1), ông Đinh Xuân H2, anh Hoàng Ngọc S; đều là người ở thôn C, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình giúp ông xây 01 ngôi nhà 02 gian, mái ngói, hiên lợp proximăng, tường vôi, vữa, móng 30 cm; xây lên 20 cm, móng giật cấp. Ông xây nhà hết toàn bộ diện tích đất, còn mái hiên chìa ra phía đường 223 (thuộc đất giao thông). Khi ông xây nhà vợ chồng cụ S1, các con của cụ S1 và chính quyền địa phương đều không có ý kiến gì. Sau đó ông cùng mẹ ông, vợ con ông sinh sống tại ngôi nhà trên, do diện tích nhỏ chỉ kê được 1 chiếc giường và đồ đạc bán hàng nên buổi tối mẹ ông phải đi ngủ nhờ nhà bà T4 và cụ E.
Năm 1984, Nhà nước giải tỏa hành lang giao thông đường 223, yêu cầu các hộ gia đình giáp mặt đường phải tháo dỡ công trình lấn chiếm hành lang giao thông và chặt cây cối để không ảnh hưởng an toàn giao thông. UBND xã S đã yêu cầu gia đình ông tháo phần mái hiên và 01 bức tường giáp đường 223, tính từ mái hiên đến bức tường phải phá dỡ là 0,5 mét. Gia đình ông đã chấp hành tháo dỡ hiên và 01 bức tường phía trước, móng để lại, tuy nhiên sau đó UBND xã không lấy đất của ông để mở rộng đường, chỉ là tháo dỡ hiên để tầm nhìn không bị ảnh hưởng. Nhưng thời điểm đó con ông đã lớn hơn, chỗ ở chật hẹp, không thể tiếp tục ở quán được nên ông đã mua một mảnh đất khác ở cùng thôn để sinh sống và dỡ ba bức tường còn lại (để lại cao 01 mét) để chuyển vật liệu đến xây chỗ ở mới.
Do chỗ ở mới gần thửa đất của cụ S1 nên ông thường xuyên qua lại trông nom phần đất đã mua. Khi thấy gia đình ông Đ1 tự ý phá dỡ 03 bức tường còn lại của quán, ông có sang nói chuyện nhiều lần nhưng gia đình ông Đ1 nói đó là đất của bố mẹ ông Đ1, ông chỉ là người được cụ S1 cho mượn đất nên ông không có quyền gì đối với phần đất này. Thời điểm đó, cụ S1 đã chết, ông bị thất lạc giấy tờ đất cụ S1 viết bán đất cho ông nên ông chỉ nói miệng chứ không có chứng cứ gì để chứng minh việc cụ S1 bán đất cho ông nên gia đình ông D và gia đình ông Đ1 tự ý xây dựng công trình trên đất ông đã mua của cụ S1.
Khi nhà nước đo đạc năm 1984-1985 theo chỉ thị 299, do địa phận thôn T, xã S không có bản đồ, không có sổ mục kê nên ông không biết UBND xã đã đăng ký quyền sử dụng phần đất ông đã mua của cụ S1 chưa. Ông cho rằng UBND xã đã ký xác nhận vào giấy mua bán đất giữa ông và cụ S1 thì sẽ có trách nhiệm đăng ký quyền sử dụng đất cho ông nên ông không đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất đối với phần đất ông đã mua.
Năm 2006, gia đình ông Đ1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có một phần đất ông đã mua của cụ S1 nhưng ông không biết việc này.
Thời điểm ông Đ1, ông D xây nhà của mình và xây nhà cho bà T4, ông nghĩ Nhà nước sẽ mở rộng đường, có khả năng sẽ lấy hết đất của ông đã mua của cụ S1, nếu Nhà nước lấy hết đất của ông thì ông sẽ đồng ý việc thu hồi đất của Nhà nước và nhận đền bù. Tuy nhiên, năm 2020, khi nhà nước làm đường 454 cũng không lấy vào phần đất mà ông đã mua của cụ S1, khi đào đất để làm cống thoát nước cạnh đường, ông còn thấy có phần móng phía trước của quán của ông còn nguyên. Thời điểm này ông đã tìm thấy giấy tờ mua bán đất của cụ S1 viết, ông sang gặp gia đình ông Đ1, ông D trao đổi việc muốn lấy lại đất nhưng ông Đ1 không nghe, còn ông D (là người trông nom phần đất của bà T4 đã chết) nói với ông “Nhất trí sẽ thanh toán giá trị đất cho ông” nhưng sau đó ông D thay đổi ý kiến, không chấp nhận thanh toán tiền cho ông, ông D nói, ông chỉ có trách nhiệm trông nom đất của bà T4, không được thừa kế đất của bà T4.
Vì vậy ông yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình giải quyết:
Buộc ông Nguyễn Văn Đ1, bà Đào Thị H, ông Nguyễn Văn D phải tháo dỡ toàn bộ công trình trên 35m² đất, trả lại cho ông 35m² đất đã mua của cụ S1 tại thửa đất số 375, 377 tờ bản đồ số 11, bản đồ đo năm 1997 (nay là một phần thửa đất 300 và 292 tờ bản đồ số 24 bản đồ Vlaps đo năm 2015), địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình, trong đó ông Đ1, bà H phải trả lại ông khoảng 25m² đất tại thửa đất số 377, ông D phải trả lại khoảng 10m² đất tại thửa đất số 375;
Yêu cầu Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ688534, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00179/2006 do UBND huyện V, tỉnh Thái Bình cấp cho ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Đào Thị H đối với thửa đất số 377, tờ bản đồ số 11, diện tích 313m².
Trường hợp gia đình ông Đ1, ông D có nhu cầu sử dụng đất thì phải trả cho ông số tiền là 840.000.000 đồng. Nếu hai gia đình thiện chí thì ông sẽ giảm một phần tiền phải thanh toán.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ông Hoàng Văn Đ tự nguyện chịu toàn bộ, không yêu cầu Toà án giải quyết.
[2] Tại Biên bản lấy lời khai ngày 27/9/2022, văn bản trình bày ý kiến, bị đơn ông Nguyễn Văn Đ1 trình bày:
Bố mẹ đẻ của ông Đ1 là cụ Nguyễn Văn S1, sinh năm 1904, chết năm 1981, cụ Nguyễn Thị E, sinh năm 1907, chết năm 1994.
Cụ S1, cụ E có 06 người con gồm: bà Nguyễn Thị T; ông Nguyễn Anh T1; ông Nguyễn Văn Đ1; ông Nguyễn Văn D (tức Ba) và bà Nguyễn Thị T4 (Nụ) (chết năm 2020, không có chồng con) và bà Nguyễn Thị N (đã chết trước năm 2000, chồng bà N cũng đã chết). Bà N có 5 người con là chị M, chị X, chị M1, anh T2, chị C.
Thời điểm còn sống, cụ S1 có thửa đất ở tại thôn T, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình (giáp mặt được 223 cũ, nay là đường D), do cha ông để lại cho cụ S1 (ông không nhớ số thửa và diện tích). Năm 1966 ông đi bộ đội, năm 1970, cụ S1 phân chia thửa đất cho 03 người con là ông Đ1, ông D và bà T4 sử dụng, phần đất của mỗi người đều giáp mặt đường 223. Năm 1986, ông Đ1 xuất ngũ về sinh sống tại phần đất cụ S1 đã chia cho ông. Trong thời gian đi bộ đội, thỉnh thoảng ông Đ1 có về gia đình và không thấy việc ông Hoàng Văn Đ sử dụng một phần diện tích đất của cụ S1 tại khu vực mặt đường 223 để làm quán bán hàng mà toàn bộ là đất trống, không có bất cứ tài sản, cây trồng gì trên đất.
Cụ S1 và cụ E chết đều không để lại di chúc. Cả cụ S1 và cụ E đều không nói cho ông Đ1 bất cứ thông tin gì liên quan đến việc đã từng chuyển nhượng đất cho ông Đ. Ba anh em ông Đ1, ông D, bà N1 sử dụng đất ổn định thời gian dài, không tranh chấp với ai.
Đối với tài liệu là giấy viết tay ông Đ cho là của cụ S1 viết bán đất cho ông Đ, ông Đ1 khẳng định là ông không biết gì về tài liệu này. Vì vậy, ông Đ1 không biết đó có phải là chữ viết, chữ ký của cụ S1 không. (Ông không yêu cầu giám định). Giả thiết giấy chuyển nhượng đó là thật, theo giấy viết cụ S1 bán đất ở mặt đường, thì đất đó đến nay cũng không còn vì từ năm 1981 đến nay, Nhà nước đã thu hồi đất 3 đến 4 lần để mở rộng đường, có lấy vào đất của gia đình ông Đ1 phần giáp mặt đường 454, ông không rõ diện tích, kích thước đất đã bị lấy làm đường và không có chứng cứ về việc này nên không cung cấp được chứng cứ cho Toà án.
Vợ chồng ông Đ1 và bà H sử dụng diện tích đất được cụ S1, cụ E cho từ năm 1970 đến nay và nộp thuế sử dụng đất, không có tranh chấp với ai, năm 2006, ông Đ1 và bà H được UBND huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 377 đó. Đến năm 2021, ông Đ mới có ý kiến về việc cụ S1 đã từng chuyển nhượng đất cho ông Đ liên quan đến phần đất mà vợ chồng ông Đ1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Về ngôi nhà mái bằng 3 tầng và các công trình khác như mái tôn, bể nước, cổng dậu... trên thửa đất số 377 là của vợ chồng con trai ông là anh H1, chị V xây dựng.
Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đ vì ông không biết việc chuyển nhượng đất giữa cụ S1 và ông Đ, ông Đ cũng không được đứng tên trong bất cứ tài liệu địa chính nào liên quan đến thửa đất. Trên đất cũng không còn bất cứ dấu tích gì của móng nhà như ông Đ đã trình bày, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện V cấp cho vợ chồng ông theo đúng quy định của pháp luật.
[3] Tại Văn bản trình bày ý kiến, bị đơn bà Đào Thị H trình bày: Bà nhất trí như lời trình bày và quan điểm của ông Nguyễn Văn Đ1.
[4] Ông Ngô Xuân P - Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Nguyễn Văn Đ1, bà Đào Thị H trình bày: Ông nhất trí như lời trình bày của ông Nguyễn Văn Đ1. Ông đề nghị Toà án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì:
Giấy bán đất ông Đ xuất trình đề ngày 04/4/1981 nhưng đến ngày 20/6/1981 mới có xác nhận của UBND xã, trong khi cụ S1 chết ngày 25/6/1981. Như vậy việc xác nhận của U chỉ xác nhận chữ ký của ông Đ.
Văn bản xác nhận của ông T3 viết rất chi tiết, rõ ràng, trong khi sự việc xảy ra đã lâu, vì vậy ông nghi ngờ việc trình bày của ông T3.
Diện tích đất là tài sản chung của cụ S1 và cụ E nhưng cụ E không ký giấy bán đất. Mặt khác trong thời gian này, Nhà nước nghiêm cấm việc mua bán đất đai. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao thì hợp đồng mua bán đất đó bị vô hiệu.
Giấy bán đất ông Đ cung cấp không có tứ cận thửa đất.
Chính ông Đ trong quá trình giải quyết vụ án đã trình bày năm 1984, Nhà nước yêu cầu giải toả hành lang giao thông 0,5m vào đất ông Đ. Như vậy nếu mua bán đất giữa ông Đ và cụ S1 là có thật thì Nhà nước cũng đã giải toả ít nhất 3,5m² đất. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
[5] Tại Biên bản lấy lời khai ngày 13/12/2022, bị đơn ông Nguyễn Văn D trình bày:
Ông nhất trí với lời trình bày của ông Nguyễn Văn Đ1 về thời điểm chết của cụ S1, cụ E. Bố mẹ ông có 06 người con như ông Đ1 cung cấp cho Toà án, trong đó có bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T4 (Nụ) đã chết, bà T4 không có chồng con. Chồng bà N là ông Phạm Văn T5 đã chết, con ruột của bà N có 05 người con như ông Đ1 cung cấp.
Ông D và ông Hoàng L (anh trai của ông Đ) đi bộ đội cùng nhau nên ông có biết ông Đ. Thời điểm ông Đ đi bộ đội về, không có công ăn việc làm nên ông L có đến đặt vấn đề với bố ông là cụ Nguyễn Văn S1 để mua lại một phần đất mặt đường B (nay là đường D) tại thôn T, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình để cho ông Đ mở quán bán hàng, kiếm tiền sinh sống. Ông được biết bố ông có bán một phần đất mặt đường 223B cho ông Đ, còn diện tích cụ thể ông không nắm được. Do thời điểm đó ông đi bộ đội nên không biết gia đình ông Đ có xây quán bán hàng không. Năm 2018, ông đã trực tiếp bỏ tiền của riêng ông (không liên quan đến vợ con) để xây dựng cho bà Nguyễn Thị T4 (Nụ) 01 nhà mái bằng khoảng 10m² để bà T4 sinh sống vì bà T4 không có chồng con, thuộc hộ nghèo, ngôi nhà của bà T4 là nhà mái rạ đã xuống cấp. Bà T4 chết ngày 20/11/2020, không để lại di chúc. Trước khi chết, bà T4 còn minh mẫn, có mời trưởng thôn T6 đến chứng kiến và ký xác nhận vào giấy ủy quyền của bà T4 cho ông quản lý nhà, đất của bà T4 để lại tại thôn T, xã S. Anh em ông chưa có văn bản thống nhất về việc quản lý, định đoạt đối với nhà, đất của bà T4 để lại.
Thửa đất là di sản của bố ông tại thôn T, xã S được chia làm 03 phần cho ông, ông Đ1 và bà T4. Bố ông chết không để lại di chúc, anh em ông sử dụng ổn định từ thời điểm bố ông chết đến nay, đóng thuế quyền sử dụng đất đầy đủ. Phần đất ông được chia ông đã bán một phần cho ông Đỗ Xuân H3 tại thôn T, xã S, năm bán cụ thể ông không nhớ.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đ, ông không đồng ý vì thời điểm cụ S1 bán đất cho ông Đ không thông qua mẹ ông và anh em ông. Đề nghị Toà án giải quyết vụ án hợp tình, hợp lý.
[6] Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/6/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Mạnh H1 trình bày:
Anh H1 là con của ông Đ1, bà H. Năm 1981, anh không biết cụ S1 có bán đất cho ông Đ hay không vì anh còn nhỏ.
Năm 2010, ông Đ1, bà H cho vợ chồng anh toàn bộ thửa đất số 377 để làm nhà, tuy nhiên chỉ cho bằng miệng, không làm thủ tục đăng ký biến động với cơ quan nhà nước. Vợ chồng anh đã xây 01 ngôi nhà 3 tầng kiên cố và 01 bể nước ngầm khoảng 25m³ ở phía trước nhà, mép bể nước cách rãnh bê tông thoát nước của đường 454 là 7,5 mét. Khi đào để xây bể không thấy tường, móng cũ nào còn lại phía dưới. Trên bể nước anh đổ bê tông làm sân, dày 20 cm, trên có làm mái tôn.
Bức ảnh ông Đ chụp vào cuối năm 2020, khi nhà nước làm đường D, ông Đ cho rằng có hình ảnh móng quán cũ của ông Đ, anh khẳng định đây không phải là bức ảnh chụp trên đất của gia đình anh. Giả sử còn móng thì đó là móng quán do anh xây dựng năm 1995 để làm gia công cơ khí tại gia đình.
Năm 2020, ông Đ có đến gia đình anh đề cập đến vấn đề đòi đất đã mua của cụ S1, gia đình anh không đồng ý. Nếu có việc cụ S1 bán đất cho ông Đ thì qua 03 lần cải tạo đường 223 cũ cũng đã lấy hết phần đất của ông Đ để làm đường (anh không có chứng cứ về việc nhà nước làm đường vào thửa đất số 377 để cung cấp cho Toà án).
Anh không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đ, vì việc mua bán đất giữa ông Đ với cụ S1, gia đình anh không biết, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bố mẹ anh là đúng quy định của pháp luật.
[7] Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/7/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Hoàng Thị V trình bày: Chị nhất trí với lời trình bày của chồng chị là anh Nguyễn Mạnh H1, chị không bổ sung gì thêm.
[8] Tại biên bản lấy lời khai ngày 03/3/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Anh T1 trình bày:
Cụ Nguyễn Văn S1 và cụ Nguyễn Thị E là bố mẹ đẻ của ông. Ông không nhớ thời điểm cụ S1, cụ E chết do ông đi thanh niên xung phong tại Quảng Bình. Bố mẹ ông có 06 người con (03 trai, 03 gái), tên, tuổi, địa chỉ đến nay ông không nhớ. Trong 06 anh chị em của ông có 02 người đã chết tên Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị N1. Di sản bố mẹ ông để lại có hay không ông không biết. Ông không biết bố mẹ ông có mua bán đất đai với ai. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đ, ông không biết và không có liên quan gì. Ông đề nghị Toà án giải quyết vụ án vắng mặt ông.
[9] Tại biên bản lấy lời khai ngày 30/3/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị M1 trình bày:
Chị không liên quan đến vụ án trên, chị từ chối trình bày, từ chối viết bản tự khai, giao nộp các tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Toà án. Từ năm 1980, chị đi thoát ly, sinh sống tại Hà Nội nên không biết gì. Chị đề nghị Toà án không triệu tập chị tham gia giải quyết vụ án trên.
[10] Tại biên bản lấy lời khai ngày 15/12/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị C trình bày:
Chị là con gái của bà Nguyễn Thị N (chết năm 1995) và ông Phạm Văn T5 (chết năm 1999). Bà Nguyễn Thị N là con gái của cụ Nguyễn Văn S1 và cụ Nguyễn Thị E.
Cụ S1, cụ E có 06 người con; bà N có 05 người con như ông Đ1 trình bày là đúng. Các cụ và bố mẹ bà không có con nuôi, con ngoài giá thú.
Từ khi bà N1 chết, không có văn bản thỏa thuận nào giữa anh em trong gia đình con cụ S1, cụ E cũng như anh em bà (con bà N) quyết định đối với di sản là nhà, đất của bà N1.
Chị không liên quan đến việc khởi kiện của ông Đ, ông Đ1, ông D, bà N1, đề nghị Tòa án không báo gọi chị đến Tòa án, chị từ chối tham gia tố tụng.
[11] Tại Văn bản trình bày quan điểm ngày 28/8/2023, người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện V, tỉnh Thái Bình trình bày:
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số ADD688534, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00179/2006 do UBND huyện V, tỉnh Thái Bình cấp cho ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Đào Thị H đối với thửa đất số 377, tờ bản đồ số 11, diện tích 313m² tại thôn T, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. UBND huyện không đồng ý với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Hoàng Văn Đ. Đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
[12] Người có quyền và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T, chị Phạm Thị M, chị Phạm Thị X, anh Phạm Văn T2 đã được Toà án triệu tập nhiều lần để trình bày quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đ, để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa, nhưng bà T, chị M, chị X, anh T2 đều vắng mặt không lý do, không thể hiện quan điểm của mình trong vụ án.
[13] Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/10/2022 và lời khai tại phiên toà, những người làm chứng là ông Đinh Xuân H2 và ông Hoàng Ngọc S trình bày:
Về việc ông Đ mua đất của cụ S1 và làm nhà trên đất đó như ông Đ trình bày. Các ông là người trực tiếp làm nhà cho ông Đ gồm 02 gian nhà cấp 4 lợp ngói tây, tường vôi vữa, móng xây giật cấp, đế 40cm, lên 30cm, rồi 20cm, chiều sâu móng khoảng 50cm, xây hết diện tích đất ông Đ đã mua. Hai bức trái các ông xây tường 20, hai bức sau các ông xây tường 10 bỏ cột. Tổng lượng gạch đỏ thủ công sử dụng hết khoảng 4.500 đến 5000 viên. Ông Đ1 khi đó có ở nhà và biết việc các ông xây nhà cho ông Đ nhưng không có ý kiến gì. Cụ S1 và các con của cụ S1 không ai có ý kiến gì về việc ông Đ sử dụng thửa đất đã mua của cụ S1.
Sau khi xây quán xong, vợ chồng ông Đ và mẹ ông Đ sinh sống, buôn bán một số mặt hàng có giá trị nhỏ tại đó. Khoảng năm 1983, do nhà nước có dự án giải toả hành lang giao thông tại khu vực đường B nên đã yêu cầu các hộ gia đình sử dụng đất mặt đường phải phát cây, tháo dỡ các công trình gây ảnh hưởng đến an toàn giao thông. Ông Đ phải tháo dỡ phần mái hiên đi.
Đến khoảng năm 1985 thì ông Đ mua đất của cụ D1 ở thôn T, xã S và chuyển về đó xây nhà, sinh sống vì diện tích đất mua của cụ S1 chật chội, không đảm bảo sinh hoạt. Ông Đ đã tự phá 02 gian nhà đi để lấy gạch đem về xây nhà trên đất mới mua nhưng vẫn để lại phần móng nhà.
[14] Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/10/2022, người làm chứng là bà Trần Thị L1 trình bày: Nội dung trình bày của bà L1 như lời trình bày của ông S, ông H2 về việc ông Đ mua đất của cụ S1, xây quán bán hàng và chuyển đi sinh sống tại thửa đất khác.
[15] Tại văn bản xác thực sự kiện pháp lý ngày 03/01/2023, người làm chứng là ông Hoàng Văn T3 trình bày:
Thời điểm năm 1981, cụ Nguyễn Văn S1 và ông Hoàng Văn Đ là người trực tiếp mang văn bản chuyển nhượng mua bán đất viết tay ra UBND xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình để chứng thực. Vì trước đó ông Đ đã báo cáo và xin phép Ủy ban xã nhiều lần mua một phần đất giáp mặt đường 223 của cụ S1 để ông Đ làm quán bán hàng cho hai mẹ con ông Đ sinh sống. Vì ông Đ là thương binh về phục viên, không có sức khoẻ, không có công ăn việc làm, không có thu nhập nên thường vụ Đảng ủy xã gồm có ông Doãn Đức K là Chủ tịch UBND xã, bà Đào Thị T7 là Bí thư đảng ủy xã và ông lúc đó là Phó Chủ tịch UBND xã đã họp bàn và nhất trí đồng ý cho ông Đ mua một phần diện tích đất của cụ S1. Khi ông Đ và cụ S1 ra UBND xã ký vào giấy chuyển nhượng đất, do Chủ tịch xã là ông Doãn Đức K đưa bà con đi thăm đất kinh tế mới ở T nên đã ủy quyền toàn bộ cho ông giải quyết các công việc của Ủy ban nên ông là người trực tiếp ký xác nhận vào văn bản chuyển nhượng đất của cụ S1 cho ông Đ. Ông khẳng định chữ ký trong văn bản chuyển nhượng mua bán đất giữa cụ S1 và ông Đ là của ông và dấu là của UBND xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình. Chữ ký trong giấy chuyển nhượng đất là của cụ S1 và của ông Đ. Sau khi mua đất, ông Đ đã nhờ người làm quán để mẹ con ông Đ ở và bán hàng. Thực tế mẹ con ông Đ đã sinh sống trên đất mua của cụ S1 và bán hàng nước tại đây, việc này có nhiều người dân sinh sống ở gần đó biết. Từ khi làm giấy chuyển nhượng đến năm 1994 khi gia đình ông đi làm kinh tế mới tại tỉnh Lâm Đồng thì cụ S1, gia đình cụ S1 và hàng xóm liền kề không ai có ý kiến tranh chấp gì.
Ông cam đoan chịu trách nhiệm về những lời trình bày trong văn bản gửi Toà án, đề nghị Toà án xem xét giải quyết đảm bảo quyền lợi cho ông Đ.
[16] Tại biên bản ghi lời khai ngày 05/8/2023, người làm chứng là ông Đinh Văn P1 trình bày:
Thửa đất của ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Đào Thị H, ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị N1 (T4) có nguồn gốc là đất của vợ chồng cụ Nguyễn Văn S1. Ngõ đi của cụ S1 thời điểm cụ S1 còn sống và vào thời điểm ông Đ mua đất của cụ S1 tiếp giáp với thổ đất của nhà ông, ngõ rộng khoảng 02 mét, chiều dài ngõ từ đường 223 cũ vào nhà cụ S1 ở phía trong thửa đất, nay thuộc một phần thửa đất của gia đình ông Đ1. Việc mua bán đất giữa cụ S1 và ông Hoàng Văn Đ năm 1981 là có thật, diện tích là 35m², chiều rộng 5 mét, chiều dài bám mặt đường 223 cũ là 7 mét. Vị trí đất của ông Đ mua của cụ S1 một mặt tiếp giáp với ngõ của cụ S1 đang sử dụng (rộng 2 mét), ngõ cụ S1 tiếp giáp với đất của gia đình ông (đất của gia đình ông hiện nay vẫn giữ nguyên, không xê dịch mốc giới), hiện nay phần đất 35m² này nằm trên thửa đất của gia đình ông Đ1 và bà N1. Sau khi mua đất, ông Đ làm một ngôi nhà ngang bám theo mặt đường, mái lợp pro cho mẹ và con ông ở và bán hàng. Vì đất chật nên ông Đ có làm bếp đun nấu bên sông, đối diện quán. Do ông sống ở gần sát với nhà ông Đ, cụ S1 nên các thông tin về việc ông Đ mua đất của cụ S1 ông đều nắm được. Ông Đ xây quán, bán hàng một vài năm do chật chội nên mua đất chỗ khác và chuyển đi. Đường 223 cũ đã được Nhà nước làm 03 lần, những lần làm đường trước ông không nhớ nhưng lần gần đây nhất là năm 2020-2021, Nhà nước có lấy vào đất nhà ông, chiều rộng là 0,5m, chiều dài là 16,8m, đền bù cho gia đình ông 09 triệu đồng, các hộ gia đình liền kề gia đình ông không được đền bù.
[17] Ủy ban nhân dân xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình cung cấp:
Cụ S1 và cụ E đều đã chết. Hai cụ có 06 người con như bị đơn cung cấp.
Nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp là do cha ông cụ S1 để lại. Vợ chồng cụ S1 đã sinh sống tại thửa đất đến khi chết. Khi chết hai cụ không để lại di chúc, các con của cụ S1 cũng không có văn bản phân chia thừa kế thửa đất lưu tại UBND xã. Thời điểm cụ S1 viết giấy bán đất cho ông Đ và thời điểm ông Đ làm quán bán hàng, hai cụ là chủ sử dụng thửa đất, chưa chia cho bất cứ người con nào. Sau khi hai cụ chết, các con của các cụ mới phá nhà của các cụ và tự phân chia đất để sử dụng như hiện nay. Diện tích đất đang tranh chấp một phần thuộc thửa đất mang tên vợ chồng ông Đ1, bà H, một phần thuộc thửa đất mang tên bà N1 (Tẹo). Năm 2006, gia đình ông Đ1, bà H được UBND huyện V, tỉnh Thái Bình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 377, tờ bản đồ số 11, diện tích 313m² tại thôn T, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình.
Thời điểm ông Đ xây quán để ở và bán hàng, vợ chồng cụ S1 và các con đều biết nhưng không có ý kiến gì.
Đối với diện tích đất giáp đường 454 hiện nay, nhà nước thực hiện giải toả năm 1996 theo Nghị định 36/NĐ-CP để đảm bảo hành lang giao thông nhưng không lấy vào đất thổ cư của các hộ dân mà chủ yếu vận động để các hộ tự giải toả và hiến đất. Cụ S1, ông Đ, ông Đ1, ông D, bà N1 không hiến đất. Năm 2021, Nhà nước thực hiện dự án cải tạo đường 223 cũ (nay là đường D), lấn kè sông để mở rộng đường, không lấy đất thổ cư của các hộ. Quá trình thi công đường, múc rãnh thoát nước có lộ ra phần móng lán cũ của ông Đ xây dựng từ sau thời điểm mua đất.
[18] Công văn số 313/VPĐKĐĐTB-CNTTLT ngày 30/11/2022, Văn phòng Đ3, Sở T10 cung cấp như sau:
Văn phòng Đ3 không có bản đồ và sổ mục kê bản đồ 299 xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình nên không có thông tin để cung cấp.
Theo tài liệu đo đạc năm 1997, các thửa đất số 375, 377, tờ bản đồ số 11 xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình, văn phòng Đ3 chỉ có bản đồ, không có sổ mục kê kèm theo bản đồ nên không có thông tin chủ sử dụng đất để cung cấp.
Theo tài liệu đo đạc năm 2015 (dự án V), thửa đất số 377 là thửa đất số 292, tờ bản đồ số 24, thửa đất số 375 có sự biến động về hình thể, do vậy không xác định được.
Sau khi tra cứu cơ sở dữ liệu địa chính của Văn phòng Đ3, không phát hiện ông Hoàng Văn Đ đăng ký, kê khai sử dụng đối với thửa đất số 375 và 377, tờ bản đồ số 11 tại thôn T, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình do không có sổ mục kê của bản đồ 299 và bản đồ đo đạc năm 1997. Thửa đất số 292, tờ bản đồ số 24 đứng tên ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Đào Thị H.
[19] Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
- Thửa đất số 377, tờ bản đồ số 11 (theo Vlap là thửa 292), diện tích 339,9m², vị trí: Phía Đông giáp đất ông T8, ông P1 số đo: 12,7m+7,15m+15,72m; phía Tây giáp đất ông D (tức Ba), bà N1 (Tẹo) số đo 0,81m+9,16m+18,51m+; phía Nam giáp đường 454 (giáp phần đất bảo trì giao thông) số đo 7,77m; phía Bắc giáp đất ông Đ2, ông L1 số đo 10,89m+4,64m. Trị giá đất ở là 24.000.000 đồng/1m² x 313m² = 7.512.000.000 đồng. Trị giá đất trồng cây lâu năm: 45.000 đồng/1m² x 26,9m² = 1.210.500 đồng.
Tài sản trên thửa đất: 01 sân bê tông gạch vỡ, lát vữa xi măng cát làm năm 2010 diện tích 7,8m², giá trị còn lại: 27.022 đồng/1m². Lát nền, sàn bằng gạch Ceramic, vữa xi măng, giá trị còn lại 46.359 đồng/1m². Mái tôn xốp, vì kèo thép, giá trị còn lại: 102.866 đồng/1m². Mái tôn múi, vì kèo thép, giá trị còn lại: 73.160 đồng/1m². Tường xây gạch chỉ, chiều dày 220mm, vữa xi măng mác 50, chiều cao 1,5m, chiều dài 9,6m, giá trị còn lại: 317.142 đồng/1m². Phía sau (tiếp giáp mái tôn) có 01 nhà 03 tầng xây gạch chỉ, tường 220, kết cấu khung chịu lực, móng gia cố cọc bê tông cốt thép. Nhà 02 tầng, xây gạch chỉ, mái ngói 22 viên/1m², chiều cao nhỏ hơn 3 mét.
- Thửa đất số 374, 375, tờ bản đồ số 11 (Theo Vlap là 1 phần thửa đất số 293 và thửa đất số 300), diện tích 234,4m², vị trí: Phía Đông giáp đất ông Đ1 số đo: 0,81m+9,16m+18,51m; phía Tây giáp đất ông H1 số đo 17,09m+0,48m+10,79m+; phía Nam giáp đường 454 (giáp phần đất bảo trì giao thông) số đo 5,81m+2,72m; phía Bắc giáp đất ông K1 số đo 8,31. Trị giá đất ở là 24.000.000 đồng/1m2 x 234,4m² = 5.625.600.000 đồng.
Tài sản trên đất: Tường xây gạch chỉ, chiều dày 110mm, chiều cao 1,6m, chiều dài 5,6m, vữa gạch xi măng mác 50, trị giá còn lại: 439.506 đồng/1m². Nhà 01 tầng xây gạch chỉ, tường 110 bổ trụ, mái bằng, có công trình phụ khép kín, giá trị còn lại: 2.385.217 đồng/1m². Sân lát gạch lá nem. Phía Tây thửa đất xây dựng 01 ngôi nhà 01 tầng, xây gạch chỉ, tường 220, tường chịu lực, không có công trình phụ khép kín, mái bằng. Phía sau nhà 02 tầng là công trình phụ khép kín, tường 220, mái bằng, 01 tầng. Phía sau nhà 01 tầng (bà T4) là sân lát gạch đỏ, lợp mái tôn múi vì kèo thép.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đã quyết định:
Căn cứ Điều 34; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 229; Điều 235; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 30; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; Điều 117; Điều 119; Điều 129; Điều 166; Điều 612; Điều 613; Điều 615; Điều 650; Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điểm d khoản 1 Điều 100; Điều 167; Điều 170; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 27; Điều 32 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn Đ:
- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn Đ về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ688534, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00179/2006 do UBND huyện V, tỉnh Thái Bình cấp cho ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Đào Thị H đối với diện tích 313m² đất tại thửa đất số 377, tờ bản đồ số 11 tại thôn T, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Hoàng Văn Đ về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ1, bà Đào Thị H và những người thừa kế của bà Nguyễn Thị N1 (tức T4) tháo dỡ công trình xây dựng trên diện tích đất 35m² thuộc thửa đất số 375, 377 tờ bản đồ số 11 bản đồ đo năm 1997 (nay là thửa số 292, 300 bản đồ Vlaps đo năm 2015).
Xác định 35m² đất do cụ Nguyễn Văn S1 đã chuyển nhượng cho ông Hoàng Văn Đ vào năm 1981 có 28,5m² thuộc thửa đất số 377 tờ bản đồ số 11 bản đồ đo năm 1997 (nay là thửa số 292 bản đồ Vlaps đo năm 2015) tại thôn T, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình do vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ1, bà Đào Thị H đang quản lý, sử dụng và 6,5m² đất thuộc thửa đất 375 tờ bản đồ số 11 bản đồ đo năm 1997 (nay là thửa số 300 bản đồ Vlaps đo năm 2015) tại thôn T, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình do ông Nguyễn Văn D quản lý sau khi bà Nguyễn Thị N1 (tức Tẹo) chết - thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Hoàng Văn Đ.
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ1, bà Đào Thị H phải thanh toán cho ông Hoàng Văn Đ số tiền 684.000.000 đồng (sáu trăm tám mươi tư triệu đồng); Ông Đ1 bà H được quyền sử dụng 28,5m² thuộc thửa đất số 377 tờ bản đồ số 11 bản đồ đo năm 1997 (nay là thửa số 292 bản đồ Vlaps đo năm 2015) tại thôn T, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình.
Buộc những người thừa kế của bà Nguyễn Thị N1 (tức T4) là ông Nguyễn Văn Đ1, ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Anh T1 phải thanh toán cho ông Hoàng Văn Đ số tiền 156.000.000 đồng (một trăm năm mươi sáu triệu đồng). Diện tích 6,5m² đất thuộc thửa đất 375 tờ bản đồ số 11 bản đồ đo năm 1997 (nay là thửa số 300 bản đồ Vlaps đo năm 2015) tại thôn T, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình là di sản do bà Nguyễn Thị N1 (tức T4) để lại.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn là ông Hoàng Văn Đ kháng cáo yêu cầu được nhận lại quyền sử dụng đất; các bị đơn là ông Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn Đ1, Đào Thị H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
Tại phiên toà, nguyên đơn là ông Hoàng Văn Đ xin rút đơn kháng cáo, đề nghị bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị đơn là ông Nguyễn Văn D vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Đào Thị H là ông Ngô Xuân P giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; các bên đương sự giữ nguyên quan điểm đã trình bày và không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa tuân theo pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn trong thời hạn luật định và hợp lệ, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Về nội dung: Nguyên đơn rút đơn kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của nguyên đơn.
Lời khai của ông D phù hợp với lời khai của những người làm chứng là ông Hoàng Văn T3 (nguyên lãnh đạo UBND xã S), ông Đinh Văn P1 (hàng xóm liền kề nhà cụ S1) và những người xây dựng quán bán hàng cho ông Đ là ông Đinh Xuân H2, ông Hoàng Ngọc S, bà Trần Thị L1, ngoài ra còn phù hợp với biên bản họp cụm dân cư của UBND xã S ngày 18/6/2021 để lấy ý kiến dân cư thôn T, cuộc họp đã thống nhất xác định: Tại thời điểm năm 1981-1984, gia đình ông Hoàng Văn Đ có xây 2 gian nhà để sinh sống và bán hàng nước trên phần đất mua của cụ Nguyễn Văn S1. Khi chuyển nhượng phần diện tích 35m² đất, cụ S1 đã nhận tiền, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn phải hoàn trả giá trị 35m² đất cho nguyên đơn là phù hợp thực tiễn và đúng quy định pháp luật. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn là ông Hoàng Văn Đ và bị đơn là ông Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn Đ1, Đào Thị H đều kháng cáo trong hạn luật định và làm đầy đủ các thủ tục theo quy định tại Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự, kháng cáo của ông Đ, ông D, ông Đ1 và bà H là hợp pháp nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên toà phúc thẩm, ông Hoàng Văn Đ xin rút đơn kháng cáo, căn cứ Điều 289, Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Đ.
[3] Ông Hoàng Văn Đ khởi kiện yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ quy định tại Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 32 Luật Tố tụng hành chính, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
- Về nội dung:
[4] Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp và quá trình sử dụng:
Căn cứ lời khai của các đương sự, tài liệu xác minh tại UBND xã S thể hiện thửa đất đang tranh chấp có nguồn gốc là của cụ Nguyễn Văn S1 và cụ Nguyễn Thị E. Sau khi cụ S1 và cụ E chết, thửa đất của các cụ để lại được các con của các cụ phân chia để sử dụng, cụ thể chia làm 03 thửa đất theo bản đồ 241 đo đạc năm 1997, ông D sử dụng thửa đất 374, ông Đ1, bà H sử dụng thửa đất 377, bà N1 (Tẹo) sử dụng thửa đất 375, từ khi bà N1 chết, thửa đất số 375 do ông D quản lý.
[5] Về văn bản có nội dung chuyển nhượng đất giữa cụ Nguyễn Văn S1 và ông Hoàng Văn Đ: Ông Hoàng Văn Đ khởi kiện cho rằng năm 1981 ông đã nhận chuyển nhượng một phần mảnh đất của cụ Nguyễn Văn S1, việc chuyển nhượng có lập thành văn bản và các bên đã nhận tiền, giao đất, ông đã làm nhà tạm trên đất nhận chuyển nhượng để ở một thời gian sau đó chuyển đi chỗ khác rộng hơn. Ông Đ xuất trình giấy viết tay có nội dung: “Tên tôi là Nguyễn Văn S1, xã S, thôn T, xóm H. Nay có một số đất giáp đường hai trăm hăm ba. Chiều dài 3 ngũ rưỡi. Chiều ngang 2 ngũ rưỡi. Theo sự yêu cầu của anh Hoàng Văn Đ... đề nghị với tôi để cho anh ấy chiều dài là 3 ngũ rưỡi, chiều ngang là 2 ngũ rưỡi để mẹ con anh ấy bán cái hàng nước sinh sống hàng ngày vì mẹ hoá con côi. Tôi đồng ý để cho anh ấy. Số tiền là 300 trăm 80đ. Nay tôi đã nhận số tiền đủ. Số đất giao giả anh ấy, mẹ con anh ấy nhận song rồi đã làm nhà lên trên. Sau này nếu sê dịch đường xá anh hoàn toàn chịu trách nhiệm, không dây dưa gì đến tôi nữa. Lập mốc 4 mặt giao lại quyền sở hữu cho anh ấy. Giấy này viết ngày 4-4-1981. Ký tên Nguyễn Sĩ Người mua đất: Hoàng Văn Đ. UBND xã S chứng thực: Chữ ký của anh Đ và ông S1 thoả thuận nhượng đất như trên là đúng. Song Lãng ngày 20/6/81. UBND xã - Phó chủ tịch Hoàng Văn T3”.
[6] Quá trình giải quyết vụ án, ông Hoàng Văn T3 (nguyên Phó Chủ tịch UBND xã S) có văn bản xác nhận có việc cụ S1 và ông Đ mang giấy viết tay chuyển nhượng đất lên đề nghị UBND xã xác nhận, thường vụ Đảng ủy xã đã họp và đồng ý, ông là người trực tiếp ký và đóng dấu UBND xã. Quá trình giải quyết, phía bị đơn không yêu cầu giám định chữ ký của cụ S1; Tại phiên toà sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Đ1 bà H đề nghị Toà án trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký của cụ S1. Hội đồng xét xử đã tạm ngừng phiên toà và yêu cầu bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cung cấp mẫu so sánh và nộp tạm ứng chi phí tố tụng, tuy nhiên đã hết thời hạn yêu cầu nhưng bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn không thực hiện yêu cầu của Toà án, vì vậy Toà án không đủ điều kiện ra quyết định trưng cầu giám định.
[7] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn D (là con của cụ S1) cũng thừa nhận ông D đi bộ đội với ông Hoàng L (là anh trai của ông Đ), nên ông có biết ông Đ và ông cũng biết việc cụ S1 bán cho ông Đ một phần đất để ông Đ mở quán bán hàng, kiếm tiền sinh sống.
[8] Lời khai của ông D phù hợp với lời khai của những người làm chứng là ông Hoàng Văn T3 (nguyên lãnh đạo UBND xã S), ông Đinh Văn P1 (hàng xóm liền kề nhà cụ S1) và những người xây dựng quán bán hàng cho ông Đ là ông Đinh Xuân H2, ông Hoàng Ngọc S, bà Trần Thị L1, ngoài ra còn phù hợp với biên bản họp cụm dân cư của UBND xã S ngày 18/6/2021 để lấy ý kiến dân cư thôn T, cuộc họp đã thống nhất xác định: Tại thời điểm năm 1981-1984, gia đình ông Hoàng Văn Đ có xây 02 gian nhà để sinh sống và bán hàng nước trên phần đất mua của cụ Nguyễn Văn S1.
[9] Do vậy, Toà án cấp sơ thẩm xác định có việc năm 1981 cụ Nguyễn Văn S1 lập văn bản chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Hoàng Văn Đ và các bên đã nhận tiền, bàn giao đất; Cụ Em mặc dù không ký vào giấy chuyển nhượng, nhưng thời điểm đó cụ E sống cùng cụ S1 trên cùng thửa đất, cụ E đã chứng kiến việc ông Đ làm quán bán hàng và sinh sống trên đó một thời gian, nhưng không có ý kiến phản đối, từ đó công nhận hiệu lực pháp luật của văn bản chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ S1 và ông Đ là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[10] Đối với yêu cầu đòi lại đất của ông Đ:
Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào nội dung giấy chuyển nhượng đất giữa cụ S1 với ông Đ để xác định diện tích đất chuyển nhượng là 35m², đồng thời căn cứ vào Quyết định số 17/2022/QĐ-UBND ngày 01/8/2022 của UBND tỉnh T quy định điều kiện về diện tích, kích thước tối thiểu để tách thửa, buộc những người có nghĩa vụ trả lại đất phải thanh toán giá trị đất cho ông Đ theo giá trị quyền sử dụng đất mà Hội đồng định giá đã xác định là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật.
[11] Về diện tích đất thực tế hiện nay của ông Đ:
Ông Đ cho rằng, diện tích đất nhận chuyển nhượng của cụ S1 là 35m² và vẫn còn đủ, không bị nhà nước thu hồi khi mở rộng đường. Phía bị đơn lại cho rằng, trường hợp có việc ông Đ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của cụ S1 thì quá trình mở rộng đường (03-04 lần) nhà nước đã thu hồi hết phần đất của ông Đ.
Tại Biên bản xác minh ngày 09/12/2024, ông Đào Xuân T9 là Phó Chủ tịch UBND xã S trình bày, thời điểm ông Đ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của cụ S1 thì đường 223 không có hành lang an toàn giao thông. Diện tích đất ông Đ nhận chuyển nhượng không nằm trong hành lang an toàn giao thông. Căn cứ bản đồ đo đạc lập năm 2014 thể hiện đường 454 có hành lang an toàn giao thông là 21m tính từ tim đường (có bản đồ kèm theo).
Đối chiếu bản đồ năm 2014 và số liệu Toà án tiến hành đo đạc thẩm định đối với thửa đất số 292, 300, toàn bộ diện tích 35m² đất do ông Đ nhận chuyển nhượng của cụ S1 nằm trong hành lang an toàn giao thông đường 454. Nếu nhà nước thu hồi đất sẽ được bồi thường vì thửa đất đã có tên trong hồ sơ địa chính lưu tại UBND xã S, huyện V.
[12] Như vậy, năm 1996 Nhà nước thực hiện giải tỏa để đảm bảo an toàn hành lang giao thông, nhưng cụ S1, ông Đ, ông Đ1, ông D, bà H không hiến đất, thửa đất vẫn giữ nguyên. Năm 2021, Nhà nước thực hiện dự án cải tạo, mở rộng đường 454 nhưng không lấy vào đất thổ cư của các hộ dân ven đường mà mở rộng về phía sông bên kia đường. Tại thời điểm ông Đ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của cụ S1 thì diện tích 35m² đất các bên thoả thuận chuyển nhượng không thuộc hành lang an toàn giao thông, theo bản đồ đo đạc lập năm 2014 thì toàn bộ diện tích đất này nằm trong hành lang an toàn giao thông, nhưng thuộc diện các hộ gia đình đang sử dụng sẽ tiếp tục được sử dụng, khi nào nhà nước thu hồi để mở rộng đường sẽ được bồi thường giá trị quyền sử dụng đất. Thực tế hiện nay các gia đình bị đơn đang quản lý, sử dụng và đã xây dựng các công trình kiên cố trên đất (bao gồm có sân bê tông; mái tôn xốp, vì kèo thép; tường xây gạch chỉ; nhà 03 tầng kết cấu khung chịu lực...) (BL 737, 738, 739). Do vậy, Toà án cấp sơ thẩm buộc những người đang sử dụng đất hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất cho ông Đ là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[13] Tại phiên toà phúc thẩm không có tình tiết mới nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ1, bà Đào Thị H, ông Nguyễn Văn D cũng như luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị đơn.
[14] Về chi phí thẩm định tại chỗ: Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Hoàng Văn Đ tự nguyện chi trả toàn bộ số tiền 2.660.000 đồng tiền chi phí thẩm định tại chỗ theo yêu cầu của ông Đ tại giai đoạn xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Mạnh H1 đã tạm nộp số tiền này, nay anh H1 đồng ý đối trừ số tiền nêu trên với số tiền bố mẹ anh là ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Đào Thị H phải thanh toán cho ông Đ. Đây là sự tự nguyện của các bên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[15] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[16] Về án phí: Người kháng cáo là ông Nguyễn Văn Đ1, bà Đào Thị H, ông Nguyễn Văn D là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 289, Điều 312, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của nguyên đơn là ông Hoàng Văn Đ.
- Không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn là ông Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn Đ1, Đào Thị H.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DSST ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất” giữa nguyên đơn là ông Hoàng Văn Đ với bị đơn ông Nguyễn Văn Đ1, bà Đào Thị H4, ông Nguyễn Văn D và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.
- Về chi phí thẩm định tại chỗ: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đ về việc chi trả toàn bộ số tiền 2.660.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ; ông Đ có trách nhiệm hoàn trả số tiền này cho anh Nguyễn Mạnh H1. Anh Nguyễn Mạnh H1 đồng ý đối trừ số tiền nói trên với số tiền cha, mẹ anh là ông Nguyễn Văn Đ1, bà Đào Thị H phải thanh toán cho ông Đ theo quyết định của bản án sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho những người kháng cáo là ông Nguyễn Văn Đ1, bà Đào Thị H, ông Nguyễn Văn D.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Lợi |
Bản án số 95/2025/DS-PT ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
- Số bản án: 95/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đình chỉ xét xử phúc phẩm đối với kháng cáo của nguyên đơn do nguyên đơn rút đơn kháng cáo Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm
