Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2025/HS-PT

Ngày 10 tháng 02 năm 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Nam

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Cường

Bà Lê Thị Thúy Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Bà Lê Thị Lý, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm là Phòng X trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần là Phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1183A/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2024/HS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1998.

HKTT: khu phố T, phường C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1974; vợ: Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1998; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2022, con nhỏ sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 11/12/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Đ: Luật sư Nguyễn Bá N, Công ty L1 Bắc Giang - Đoàn luật sư tỉnh B, có mặt;

Bị hại: Ông Vũ Văn N1, sinh năm: 1980; nơi thường trú: thôn X, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Vũ Văn C, sinh năm 1998; nơi thường trú: thôn X, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt
  2. Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1964; nơi thường trú: thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
  3. Ông Trần Văn D, sinh năm 1963; nơi thường trú: thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
  4. Bà Vũ Thị N2, sinh năm 1977; nơi thường trú: thôn T, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
  5. Chị Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1998; nơi thường trú: khu phố T, phường C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
  6. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1967; nơi thường trú: khu phố T, phường C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, vắng mặt.
  7. Anh Nguyễn Thành Đ1, sinh năm 1988; nơi thường trú: thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.
  8. Ông Nguyễn Tiến Q, sinh năm 1964; nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Tiến Đ2, Nguyễn Đình C1 và Phạm Trọng H, sinh năm 2000, HKTT: thôn P, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh đều là công nhân Công ty T5, địa chỉ: Khu Công nghiệp Q thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Trưa ngày 23/09/2023, Đ, Đ2, C1 và H ăn liên hoan tết Trung thu (do Công ty tổ chức trước tết Trung thu cho công nhân). Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Đ, Đ2, C1 và H tiếp tục rủ nhau đến uống bia tại quán “Anh H” ở thôn C, xã C, thị xã Q, do bà Phạm Thị T1, sinh năm 1964, trú tại thôn C, xã C làm chủ. Khi đi, Đ điều khiển xe mô tô BKS 99E1-651.95 chở theo Phạm Trọng H. Đàm điều khiển xe mô tô BKS 99E1-593.03 và C1 điều khiển xe mô tô BKS 98B2-980.76 đi một mình. Nhóm của Đ ngồi uống bia đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì có anh Vũ Văn N1 và anh Vũ Văn C đến uống bia tại quán. Nhóm bạn của Đ và anh N1 trước đó không có quan hệ quen biết và không có mâu thuẫn với nhau. Khi thấy anh N1, anh C vào quán, Đ rủ anh N1 và anh C vào ngồi cùng bàn giao lưu. Anh C, anh N1 đồng ý cùng uống bia giao lưu. Sau khi anh C, anh N1 giao lưu 01 cốc bia với nhóm bạn của Đ xong, thì ngồi bàn bên cạnh và tiếp tục uống. Quá trình ngồi uống bia, nhóm bạn của Đ và anh N1 vẫn giao lưu nói chuyện với nhau bình thường.

Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Đ2 lại sang bàn anh C, anh N1 giao lưu, lúc này anh C và anh N1 đã uống xong, đứng dậy và chuẩn bị ra về. Anh C đi vệ sinh, còn anh N1 đi ra thanh toán tiền. Sau đó, Đ và C1 đi ra bàn uống nước hút thuốc lào, anh N1 và Đ có lời qua tiếng lại với nhau. Đ liền cầm điếu cày bằng tay phải giơ lên vụt anh N1 nhưng không trúng, anh N1 bỏ chạy, Đ đuổi theo thì được ông Trần Văn D, sinh năm 1963 (chồng bà T1 - chủ quán) chạy ra can ngăn, kéo Đ lại, sau đó Đ tiếp tục ngồi lại bàn uống nước. Lúc này, anh C đi vệ sinh quay ra, nhìn thấy Đ dọa anh N1 bỏ chạy. Anh C lớn giọng, quát: “Thằng nào đánh chú tao?”, thì Đ2 ra khoác tay lên vai anh C, cả hai đi ra đến cửa quán, Đ2 lên giọng hỏi “Ai đánh chú mày?”, đồng thời dùng tay phải tát một cái vào má trái anh C. Anh C bỏ chạy ra khỏi quán, khi ra cửa bị hụt chân lao người về phía trước, Đ2 liền dùng chân đá vào người anh C nhưng không trúng. Anh C bỏ chạy vào trung tâm chợ C4, Đ2 chạy bộ đuổi theo. Thấy Đ2 đuổi đánh anh C, Đ cầm theo ghế nhựa của quán Anh H cùng C1 cũng đuổi theo anh C về phía trung tâm chợ C4, Đ hô: “bắt lấy con chó đấy lại!” trên tay Đ lúc này vẫn đang cầm theo ghế nhựa của quán “Anh Huy” cùng C1 cũng đuổi theo anh C về phía trung tâm chợ C4, trên đường đuổi anh C, Đàm nhặt 01 khúc gỗ dài khoảng 30 cm, C1 nhặt 01 tấm ván gỗ dài 90,5 cm rộng 20 cm, dày 2 cm ở lề đường, cầm theo đuổi đánh Chúc. Quá trình bỏ chạy, anh C thi thoảng ngoảnh lại phía sau, thấy Đ có hung khí trên tay, nên anh C nhặt 02 viên gạch vỡ ½ trên đường, cầm trên 2 tay với mục đích để phòng vệ. Khi anh C chạy vào trong chợ C4 (thời điểm này C2 đang hoạt động; các tiểu thương, khách hàng đang diễn ra hoạt động mua - bán). Đ, Đ2, C1 đuổi gần đến (cách khoảng vài mét), anh C quay người lại, tay cầm gạch giơ để dọa, không cho nhóm Đ đuổi kịp đến đánh mình, rồi tiếp tục bỏ chạy về phía bãi gửi xe phía Nam chợ C4. Quá trình đuổi đánh anh C, Đ ném ghế nhựa về phía anh C nhưng không trúng làm ghế rơi xuống đất gãy 1 chân. Khi Đ, Đ2 và C1 đuổi đến khu vực bán hàng thịt, quần áo, ông Phạm Trọng L, sinh năm 1964, trú tại thôn P, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh là bảo vệ Chợ, cùng một số người dân có mặt tại Chợ chạy đến can ngăn. Thấy vậy, Đ, Đ2 và C1 bỏ đi, quay lại quán bia “Anh H”, trên đường Đ, C1 vứt lại tấm ván, khúc gỗ trên vào lề đường. Còn anh C, chạy vào trong bãi xe C2 trốn tại đây và vứt 02 viên gạch vỡ trên đi. Sau khi quay lại quán “Anh H”, Đ, Đ2 và C1 vẫn bực tức nên tiếp tục lấy xe mô tô với mục đích đi tìm anh C đánh và mỗi người đi một xe. Trên đường đi Đ nhặt được 01 khúc gỗ dài khoảng 50 cm mang theo, phóng xe mô tô tìm một lượt quanh Chợ, không thấy anh C. Đ vứt khúc gỗ trên tại khu vực chợ, rồi quay ra đi lên trục chính đường liên xã, hướng về phía đường QL18 để tìm anh N1 đánh, do Đ vẫn ấm ức lời qua tiếng lại với anh N1 tại quán bia trước đó. Đ tiếp tục đi tìm anh N1 để đánh, Đ2, C1 không biết việc này, Đ cũng không liên lạc thông báo cho Đ2, C1 việc mình đi tìm anh N1 để đánh. Khi Đ xuất phát tìm anh C đánh được một đoạn, Đ2 và C1 mỗi người đi một xe mô tô tìm anh C. Quá trình tìm anh C, Đ2, C1 phát hiện anh C ở khu vực bãi xe chợ, nên dựng xe lại, chạy bộ đuổi theo. Thấy Đ2, C1 chạy về phía mình, anh C bỏ vào trong Chợ thì bị ngã. Đ2, C1 lao đến đánh, nhưng được bảo vệ, người dân có mặt can ngăn không cho Đ2, C1 đánh anh C. Thời điểm từ quán Anh H thì Đ, Đ2 và C1 đuổi tìm anh C để đánh diễn tại chợ C4 đến khi kết thúc trong khoảng thời gian 30 phút tại chợ được chị Vũ Thị H1, sinh năm 1986, HKTT: thôn C, xã C, thị xã Q là tiểu thương buôn bán quần áo tại chợ C4 chứng kiến sự việc. Sau đó Đ2, C1 bỏ đi và quay lại quán “Anh H” để đón H về. C1 chở H, Đ2 đi xe một mình về nhà. Quá trình Đ2, C1 tìm, để đuổi đánh anh C trong Chợ, thì Đ vẫn đi tìm anh N1, trên đường đi Đức nhặt ở lề đường 1/3 viên gạch đất nung màu đỏ, kích thước rộng 9 cm, cao 5 cm dài một chiều 6 cm, một chiều 9 cm, cầm trên tay trái để làm hung khí. Khi Đ đi qua cổng chào thôn C, thấy anh N1 đang đi bộ tại lề đường bên trái. Đ điều khiển xe mô tô vượt qua, chặn anh N1, rồi xuống xe, lao vào đứng đối diện, cách anh N1 khoảng 50 cm, cầm viên gạch đất nung trên tay phải, đập liên tiếp 2-3 nhát từ trên xuống dưới trúng vào vùng đỉnh đầu anh N1, anh N1 đưa tay lên ôm đầu, rồi Đ tiếp tục dùng viên gạch này đập móc từ dưới lên trên liên tiếp 2-3 nhát vào trúng vùng mặt của anh N1, làm anh N1 bị chảy nhiều máu vùng đầu, mặt, choáng khụy ngã ngồi xuống đường. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô bỏ đi, đặt viên gạch tại gác ba ga xe mô tô và đi về chợ C4 thì gặp Đ2 đang trên về nhà, rồi cả 2 đi về nhà. Trên đường về nhà, Đ vứt viên gạch tại lề đường gom Khu công nghiệp Q và có kể cho Đ2 là có gặp anh N1 đánh, nhưng đánh thế nào, dùng hung khí gì, hậu quả của anh N1 thế nào thì Đ không nói.

Đối với anh Vũ Văn N1 sau khi bị Đ đánh đã được Công an xã C, thị xã Q đưa anh N1 đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B từ ngày 23/9/2023 đến ngày 06/10/2023 thì ra viện.

Ngày 24/9/2023, Nguyễn Văn Đ đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đầu thú và giao nộp 01 xe mô tô biển kiểm soát 99E1-651.95.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường đã bị xáo trộn một phần

- Hiện trường chung: là khu vực đường đi liên xã, thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Phía B là hướng đường đi vào thôn C. Phía N3 được xác định là hướng đi ra Quốc lộ A. Phía Tây được xác định tiếp giáp cánh đồng thôn C. Phía Đông xác định là các hộ nhà dân kinh doanh và ở ven đường chính thôn C.

- Hiện trường cụ thể: Vị trí số 1 xác định là quán bia “Anh H” do bà Phạm Thị T1 làm chủ. Nơi bắt đầu xảy ra sự việc Đàm, Đ đuổi đánh anh C. Tại khu vực cổng chợ C4, Phía Bắc xác định tiếp giáp cổng chợ C4, phía Nam tiếp giáp với quầy thuốc Đàm Văn T2; phía Đông tiếp giáp với chợ C4; phía Tây tiếp giáp đường chính thôn C, đối diện là cánh đồng thôn C. Vị trí số 1 là khu vực cửa phụ nhà bà T1, cách cột cổng chợ tiếp giáp nhà bà T1 2 mét.

Vị trí số 2, được xác định là vị trí anh N1 bị đập gạch trước cửa nhà chị Phạm Thị D1; Phía Bắc tiếp giáp hướng đường đi vào thôn C và mương nước; phía Nam xác định tiếp giáp hướng đường đi ra Quốc lộ A, phía Đông tiếp giáp cửa nhà chị Phạm Thị D1, hướng Tây xác định là đường C, đối diện là mương nước và cánh đồng thôn C. Vị trí số 2 phát hiện nhiều dấu vết rơi rớt, nhỏ giọt, màu nâu đỏ nghi là máu, có nhiều kích thước khác nhau tại khu vực mép đường. Cách cửa nhà chị D1 7 mét, cách chân cột thôn C hướng Quốc lộ A đi vào 20 mét. Từ vị trí số 1 đến vị trí số 2 khoảng cách 200 mét.

Phát hiện tại quán bia Anh H: Vị trí hiên nhà (khu vực bếp, bàn uống nước) có một Camera tại góc trần hướng Bắc chiếu xuống khu vực bếp, bàn uống nước. Tại vị trí tường phía Bắc bên ngoài quán Anh H, phát hiện 2 Camera gắn tại góc tường phía Đông, T3, hướng quan sát dọc theo đường chính cổng chợ C4 đến khu vực trung tâm chợ.

Đối với thương tích của anh Vũ Văn N1:

Tại giấy chứng nhận thương tích số 291/KH ngày 19/10/2023 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cho anh Vũ Văn N1 xác định như sau:

Bệnh nhân Vũ Văn N1, nhập viện ngày 23/09/2023, ra viện ngày 06/10/2023: Chẩn đoán: Chấn thương mũi/Gãy vách ngăn mũi/Chấn thương mắt/Đa vết thương vùng hàm mặt; Điều trị: Khâu vết thương, kháng sinh, chống viêm, giảm đau, phẫu thuật nâng xương chính mũi + chỉnh hình vách ngăn; Tình trạng thương tích lúc vào viện: Người nhà bệnh nhân kể lại bệnh nhân bị đánh sau khi đi ăn ngày 23/09/2023. Sau tai nạn bệnh nhân không tỉnh, được sơ cứu ở Bệnh viện Q1 chuyển Bệnh viện Đa khoa tỉnh để điều trị. Khám thấy: Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc được. Da niêm mạc hồng. Không nôn, không liệt thần kinh khu trú. Tim đều. Phổi rì rào phế nang rõ. Lồng ngực, khung chậu vững. Bụng mềm. Sưng nề bầm tím mắt phải, sưng nề môi trên, bầm tím hàm dưới phải. Sưng nề vùng mũi. Há, ngậm miệng bình thường, khớp cắn đúng.

01 vết thương vùng trán cung mày phải hình chân chim dài 05 cm, sâu 01 cm, bờ vết thương nham nhở, chảy nhiều máu. 01 vết thương cung mày đuôi mắt phải dài 04 cm sâu sát xương, bờ nham nhở. 01 vết thương thái dương phải 03 cm, sâu 0.54 cm, bờ gọn. 01 vết thương mi trên mắt phải 01 cm, sâu 0.5 cm, bờ gọn. 01 vết thương môi trên 01 cm, sâu 0.5 cm, bờ gọn.

02 vết thương đầu vùng chẩm lệch trái 02 x 01 cm, sâu 01 cm, bờ dập nát. 01 vết thương đầu vùng chẩm lệch trái 1,5 x 01 cm, sâu 01 cm, bờ dập nát. 01 vết thương vùng chẩm lệch phải 01 x 0.5 cm, sâu 0.5 cm, bờ gọn.

Tình trạng người bệnh ra viện: Bệnh nhân toàn trạng ổn định, không sốt, đỡ đau mũi, vách ngăn mũi thẳng, khe sàn mũi có ít dịch, vết thương vùng hàm mặt ổn định.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 139/KLTTCT -TTPY ngày 13/11/2023 của Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh B kết luận:

1. Các kết quả chính:

  • Diện thương tích (số 1) vùng chẩm trái, sát ụ chẩm, kích thước 3,0 cm x 1,5 cm, bờ không đều, màu hồng nhạt, sờ nắn di động, liền sẹo tốt. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Nguyên tắc: 1. Kích thước sẹo = 2%.
  • Diện thương tích (số B) vùng chẩm trái, cách thương tích (số 1) 4 cm, kích thước 2,0 cm x 0,8 cm, bờ không đều, màu hồng nhạt, sờ nắn di động, liền sẹo tốt. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Mục I.1. Sẹo nhỏ = 1%.
  • Diện thương tích (số C) vùng chẩm trái, cách thương tích (số B) 2,7 cm, kích thước 4,0 cm x 2,0 cm, bờ không đều, màu hồng nhạt, sờ nắn di động, liền sẹo tốt Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Nguyên tắc: 1. Kích thước sẹo = 2%.
  • Diện thương tích (số D) vùng chẩm phài, cách ụ chẩm 6,5 cm, kích thước 1,6 cm x 0,6 cm, bờ không đều, màu hồng nhạt, sờ nắn di động, liền sẹo tốt. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Mục I.1. Sẹo nhỏ = 1%.
  • Thương tích (số E) phía trên sát cung lông mày phải, kích thước 2,2 cm x 0,2 cm, bờ không đều, sẫm màu, sờ nắn di động, liền sẹo tốt. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Mục I.1. Sẹo nhỏ = 1%. Vùng mặt x 3 = 3%.
  • Diện thương tích (số F) tương ứng 1/3 ngoài cung lông mày phải, kích thước 3,1 cm x 0,2 cm, bờ không đều, sẫm màu, liền sẹo tốt. Nhắm mở mắt bình thường. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Nguyên tắc: 1. Kích thước sẹo = 1%. Vùng mặt x 3 = 3%.
  • Thương tích (số G) vùng thái dương phải, cách thương tích (số F) 2,1 cm, kích thước 2,1 cm x 0,3 cm, bờ không đều, sờ nắn di động sẫm màu, liền sẹo tốt:
    • Trong thương tích có đoạn ngoài vùng chân tóc (vùng mặt), kích thước 0,5 cm x 0,2 cm. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Mục I.1. Sẹo nhỏ = 1%. Vùng mặt x 3 = 3%.
    • Trong thương tích có đoạn trong vùng chân tóc, kích thước 1,6 x 0,2 cm. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Mục I.1. Sẹo nhỏ = 1%.
  • Thương tích (số H) 1/3 giữa da mi trên mắt phải, vết biến đổi rối loạn sắc tố da, kích thước 0,6 cm x 0,5 cm. Nhắm mở mắt bình thường. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Mục V. Sẹo = 0,5%.
  • Thương tích (số I) da môi trên bên trái, kích thước 0,3 cm x 0,2 cm, bờ không đều, màu hồng nhạt, liền sẹo tốt. Ảp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Mục I.1. Sẹo nhỏ = 1%. Vùng mặt x 3 = 3%.
  • Thị lực: Mắt phải 5/10, kính lỗ 10/10; Mắt trái 5/10, kính lỗ 10/10; Họng: Niệm mạc họng đỏ nhẹ, amydal 2 bên viêm quá phát. Không có mối liên quan với các thương tích. Không có căn cứ khoa học xác định tỷ lệ % TTCT.
  • Hình ảnh: Gãy xương mũi gãy vách ngăn mũi (tổn thương tháp mũi), đã phẫu thuật nâng xương chính mũi sau chấn thương và phẫu thuật nội soi chỉnh hình vách ngăn. Không ảnh hưởng chức năng thở. Áp dụng chương 12 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương T - M - Họng. Mục II.3.1. = 7%.
  • Một số nốt tăng tỷ trọng dưới da vùng ngoại vi trán nền phải (tụ máu dưới da); Xoang hàm: dày nhẹ niêm mạc bên phải; Tụ dịch một số thông bào chũm bên phải; Ống tai 2 bên có nhiều tổ chức nghi ngờ nấm. Không có căn cứ khoa học xác định tỷ lệ % TTCT.

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Văn N1 tại thời điểm giám định là: 24%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Kết luận khác:

  • Cơ chế do tác động ngoại lực trực tiếp bởi vật tày bề mặt không đều.
  • Tại thời điểm giám định Vũ Văn N1: 01 (một) viên gạch đất nung màu đỏ, kích thước chiều rộng 09 cm, cao 5 cm, chiều dài 6-9 cm. Có thể gây nên thương tích cho Vũ Văn N1.

Tại giấy chứng nhận thương tích số 291/KH ngày 19/10/2023 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh B xác định: Hình ảnh vỡ mở trấn xương hàm bên phải.

Tại Công văn số 732/SYT-NVY, ngày 29/03/2024 của Sở Y tế tỉnh B phúc đáp công văn số 683/CV-CSĐT (PC01):

“Ngày 21/03/2024, Sở Y tổ chức họp Hội đồng chuyện môn Ngành Y tế, được thành lập theo Quyết định số 205/QĐ-SYT ngày 20/03/2024 của Giám đốc Sở Y.

Căn cứ Biên bản họp Hội đồng chuyên môn, Sở Y có ý kiến phúc đáp: Trên phim chụp Cắt lớp vi tính hàm mặt không tiêm thuốc cản quang (từ 1-32 dãy) ngày 27/09/2023 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B, ghi tên bệnh nhân Vũ Văn N1, có hình ảnh: Vỡ mỏm trán xương hàm trên bên phải, xương mũi. Gãy vách ngăn mũi. Dày niêm mạc xoang hàm bên phải, xoang sàn - trán trái.”

Tại Công văn số 50/CV-PYT ngày 15/04/2024, của Trung tâm pháp y, Sở Y: Căn cứ kết quả hội chẩn, Trung tâm P1 Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 139/KLTTCT-TTPY ngày 13/11/2023 như sau:

  • Hình ảnh Gãy (mẻ xương) mỏm trán xương hàm trên bên phải. Áp dụng chương 7 tỉ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương hệ cơ - xương - khớp. Nguyên tắc chung: 1.= 2%.
  • Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Văn N1 đã được tính tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 139/KLTTCT- TTPY ngay 13 tháng 11 năm 2023 là: 24%.
  • Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Văn N1 sau khi được đính chính là: 26%.
  • Cơ chế do tác động ngoại lực trực tiếp với vật tày

Các kết luận giám định:

Tại bản Kết luận giám định số 7194/KL-KTHS ngày 03/11/2023 của V1 Bộ C5, kết luận:

  1. Chất màu nâu đỏ ghi thu tại hiện trường gửi giám định là máu người và là máu của Vũ Văn N1.
  2. Chất màu nâu đỏ bám dính trên phần vỡ ra từ viên gạch xây bằng đất nung gửi giám định là dấu vết máu người và là máu của Vũ Văn N1.
  3. Lưu kiểu gen (theo bộ kít GlobalFiler) của Vũ Văn N1 tại V1 Bộ C5.

H2 lại mẫu chất màu nâu đỏ ghi thu tại hiện trường; Một phần vỡ ra từ viên gạch xây bằng đất nung màu đỏ và mẫu tóc ghi thu của Vũ Văn N1 còn lại sau giám định được đóng gói niêm phong.

Tại Kết luận giám định số 1151/KL-KTHS ngày 09/05/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 05 tệp video mẫu giám định.

Tại kết luận số 885/KL-KTHS ngày 29/03/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Số máy JA39E-3117078 và số khung RLHJA3922PY492792 của xe mô tô biển kiểm soát 99E1-651.95 là nguyên thủy. Xác minh xe môtô trên, chủ xe là chị Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1998, HKTT: Từ Bi, C, thị xã Q. Tra cứu xe máy vật chứng, xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.

Về vật chứng thu giữ:

05 đoạn video Camera giám sát tại hiện trường lưu trong USB; 01 ghế nhựa do bà Phạm Thị T1 giao nộp; 01 xe mô tô biển kiểm soát 99E1-651.95 do Đ giao nộp; 1/3 viên gạch đất nung màu đỏ; 01 miếng ván bằng gỗ; mẫu vật còn lại sau giám định AND.

Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi sự việc xảy ra ngày 10/10/2023, bị cáo Đ đã bồi thường thương tích cho anh N1 số tiền 40 triệu đồng. Anh N1 đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Đ.

Quá trình đuổi đánh nhau Nguyễn Văn Đ cầm ghế nhựa của quán “Anh H” đập bị gãy một chân do giá trị tài sản nhỏ ông Trần Văn D (chủ quán) không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.

Ngày 19/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành thực nghiệm điều tra hành vi của Nguyễn Văn Đ dùng gạch đập vào đầu anh Vũ Văn N1, kết quả thực nghiệm phù hợp với hành vi và lời khai của Nguyễn Văn Đ.

Tại Cáo trạng số 84/ CT-VKSBN-P2 ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Giết người” và “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 và điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2024/HS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Giết người” và tội “Gây rối trật tự công cộng”;

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 08 năm tù về tội “Giết người”; 02 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 10 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 11/12/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm, phổ biến quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

3. Kháng cáo: Ngày 09/9/2024, bị cáo Nguyễn Văn Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

4. Tại phiên tòa phúc thẩm:

4.1. Bị cáo Nguyễn Văn Đ giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

4.2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho rằng bị cáo thành khẩn khai báo, đã bồi thường khắc phục hậu quả, được gia đình bị hại có đơn xin giảm hình phạt, bị cáo phạm tội lần đầu và phạm tội chưa đạt, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nhất thời phạm tội, Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội giết người với mức án như vậy là quá nặng, và xét xử bị cáo về tội gây rối trật tự công công là có phần khiên cưỡng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

4.3. Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Trong quá trình tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm, các Thẩm phán thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Ngày 09/9/2024, bị cáo Nguyễn Văn Đ kháng cáo bản án sơ thẩm là trong thời hạn luật định, nên đề nghị Tòa án chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm

Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã tuyên, giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào làm căn cứ cho yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, khi mức án Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09/9/2024, bị cáo Nguyễn Văn Đ kháng cáo là trong thời hạn luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét, giải quyết yêu cầu kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã kết luận, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với vật chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết quả giám định thương tích và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 23/9/2023, tại quán bia “Anh H” (do bà Phạm Thị T1) ở thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Tiến Đ2 và Nguyễn Đình C1 đã có hành vi cãi chửi nhau với anh Vũ Văn N1 và anh Vũ Văn C. Sau khi anh C bỏ chạy vào trong chợ C4 thì Đ2, C1, Đ đuổi theo anh C để đánh anh C. Quá trình đuổi đánh anh C, Đ cầm ghế nhựa ném về phía anh C nhưng không trúng và hô: “Bắt lấy con chó đấy lại!”; C1 nhặt 01 tấm ván gỗ, Đ 01 khúc gỗ dài khoảng 50 cm mang theo, phóng xe môtô tìm quanh Chợ nhưng không gặp anh C. Thời gian các bị cáo đuổi anh C từ quán Anh H đến trong chợ diễn ra khoảng 30 phút.

Ngoài ra, sau khi cùng với Đ2, C1 tìm anh C quanh chợ nhưng không thấy, bị cáo Đ điều khiển xe mô tô một mình đi tìm anh N1, trên đường đi bị cáo nhặt 1/3 viên gạch đất nung ở lề đường. Khi gặp anh N1 đang đi bộ tại lề đường bên trái tại QL18. Đ xuống xe, lao vào đứng đối diện, cách anh N1 khoảng 50 cm, cầm viên gạch đất nung trên tay phải, đập liên tiếp 2-3 nhát từ trên xuống dưới trúng vào vùng đỉnh đầu anh N1, anh N1 đưa tay lên ôm đầu, rồi Đ tiếp tục dùng viên gạch đập móc từ dưới lên trên liên tiếp 2-3 nhát vào trúng vùng mặt của anh N1, làm anh N1 bị thương tích vùng đầu, mặt, choáng khụy ngã ngồi xuống đường. Sau đó bị cáo Đ bỏ về, bỏ mặc anh Đ bị ngất nằm bên đường, rồi được Công an xã C đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B từ ngày 23/9/2023 đến ngày 06/10/2023 thì ra viện. Hậu quả làm anh N1 bị tổn thương cơ thể (thương tích) 26% sức khỏe.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ là người có năng lực trách nhiệm hình sự, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt, đã thực hiện hành vi hô hoán, phóng xe mô tô quanh Chợ là nơi công cộng, đông người qua lại, tại thời điểm này các tiểu thương đang buôn bán đông người để tìm và đuổi đánh chức, gây náo loạn tại chợ, gây tâm lý hoan mang lo sợ cho người khác, làm ảnh hưởng đến hoạt động của chợ; khi không tìm được C3, bị cáo chủ động nhặt gạch làm hung khí, tự điều khiển xe đi tìm N1; khi nhìn thấy anh N1, bị cáo Đ vòng xe chặn đầu, dừng xe, lao vào dùng gạch là hung khí nguy hiểm đập nhiều nhát vào vùng đầu là vùng trọng yếu của cơ thể của anh N1; hành vi của bị cáo rất quyết liệt và đã hoàn thành sau khi dùng gạch đập liên tiếp 2-3 nhát từ trên xuống dưới trúng vào vùng đỉnh đầu bị hại, khi bị hại đưa tay lên ôm đầu, bị cáo tiếp tục dùng gạch đập móc từ dưới lên trên liên tiếp 2-3 nhát vào trúng vùng mặt bị hại, khi bị hại choáng khụy ngã ngồi xuống đường bị cáo mới bỏ đi. Việc anh N1 không chết, mà tổn hại 26% sức khỏe là ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo Đ là rất nguy hiểm cho xã hội có tính côn đồ, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự; và tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ thì thấy:

[3.1] Về hình phạt: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng; bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội, bị cáo Đ đã đến cơ quan điều tra đầu thú, tác động gia đình bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có bác ruột (ông Nguyễn Văn P là anh trai ông Nguyễn Văn V, bố đẻ bị cáo) được nhà nước tặng thưởng Bằng tổ quốc ghi công liệt sỹ; Huân chương chiến công giải phóng hạng ba và Huân chương kháng chiến hạng ba; nên Tòa án cấp sơ thẩm cho bị cáo Đ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm về tội “Gây rối trật tự công cộng”; có tính côn đồ và phạm tội chưa đạt đối với tội “Giết người” nên căn cứ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 17, Điều 38, Điều 54, khoản 3 Điều 57, Điều 58 Bộ luật Hình sự Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 08 (T4) năm tù về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự và 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; đồng thời, theo Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của 02 tội để buộc Nguyễn Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung là 10 (Mười) năm 06 (Sáu) tháng tù là có căn cứ, tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

[3.1] Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào làm chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của bị cáo là có căn cứ. Xét thấy, mức hình phạt Tòa án sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, nên giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần này.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2024/HS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, cụ thể:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Giết người” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 08 năm tù về tội “Giết người”; 02 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 10 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 11/12/2023.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm;

3. Các quyết định của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Lưu HCTP, Hồ sơ vụ án, .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Phan Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2025/HS-PT ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về giết người và gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 95/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Giết người và Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger