Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2025/DS-PT

Ngày: 06-02-2025

V/v: tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa

Các Thẩm phán:

1. Ông Đinh Tiền Phương

2. Bà Trịnh Thị Phúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhã Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Tho - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 691/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 346/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 731/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị Đ năm 1955; số căn cước công dân [...]. Địa chỉ: A, Tổ B (cư xá nhà máy C1), khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Đông Lê Thanh T năm 1984; số căn cước công dân [...]. Địa chỉ: A khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (hợp đồng ủy quyền ngày 05/12/2022)

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Võ Văn Đ1, Văn phòng L9, thuộc đoàn luật sư tỉnh L10.

  2. Bị đơn (có yêu cầu phản tố): Ông Trần Văn P năm 1976; số căn cước công dân [...]. Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An
  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Phùng C L3sinh năm 1973; địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An
    2. Bà Đặng Thị N năm 1974; số căn cước công dân [...]. Địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An
    3. Ông Trần Hoàng H năm 1957; số căn cước công dân [...]. Địa chỉ: Ấp S, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An
    4. Bà Trần Thị Thu V năm 1979;
    5. Ông Đặng Văn P1 năm 1970;
    6. Cùng địa chỉ: Ấp S, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An

    7. Ông Lê Vũ T1 năm 1966.
    8. Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An

    9. Ủy ban nhân dân huyện Đ34, người đại diện theo ủy quyền: ông Hồ Phương B– Phó phòng Tài nguyên và Môi trường.
    10. Ủy ban nhân dân xã A đại diện theo pháp luật: Ông Đào Văn K tịch ủy ban nhân dân xã A: xã A, huyện Đ, tỉnh Long An.
    11. Văn phòng C2 (nay là văn phòng C2địa chỉ: 1 đường C, Ô khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
    12. Ông Lê Thanh T năm 1984.
    13. Địa chỉ: A B (cư xá nhà máy C1), khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

    14. Ông Lê Thành T2 năm 1977.
    15. Địa chỉ: A, Tổ A, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

    16. Người kháng cáo: bà Trương Thị Đ2 và ông Lê Thanh T3
    17. (Ông T4 P1bà L3bà Vbà Đvà luật sư Đlcó mặt; những người còn lại vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/5/2022, bản tự khai không ghi ngày tháng năm và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn ông Lê Thanh T5 bày:

Nguồn gốc thửa đất 56, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long Anlà của vợ chồng bà Đ3 T3mua của ông Lê Vũ T6 năm 2006. Năm 2006, ông T3đứng tên quyền sử dụng đất. Năm 2016, ông T3chết, sau đó bà Đ4 tên.

Vợ chồng ông T3bà Đcho ông Phạm Bá L trồng lúa từ năm 2007 đến năm 2019. Ông T3bà Đkhông trực tiếp canh tác trên đất. Việc cho thuê đất giữa ông L1 vợ chồng ông T3bà Đcó làm hợp đồng, giá thuê mỗi năm 3.000.000 đồng, mỗi năm làm lại 01 hợp đồng thuê mới.

Tại phiên tòa, ông T7 bà Đ5 bày cho ông L đất từ năm 2007 đến năm 2019, không có làm hợp đồng thuê, không thỏa thuận thời hạn thuê, giá thuê là 3.000.000 đồng/năm, ông L2 trả tiền thuê đất xong. Bà Đ24 ông T26 có tranh chấp hợp đồng thuê đất với ông L

Năm 2019, bà Đ6 hiện ông Trần Văn P2 chiếm đất. Đến ngày 12/5/2022, UBND xã Ahòa giải tranh chấp đất giữa hai bên nhưng không thành.

Bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 00456 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lcấp cho bà Trương Thị Đ7 16/9/2016, hiện tại bà Đ8 giữ ở nhà. Bà Đ9 cầm cố, không thế chấp, không chuyển nhượng cho cá nhân tổ chức. Trên thửa đất số 56, tờ bản đồ số 5 không có cây lâu năm, không có công trình kiến trúc.

Nay, bà Đ10 cầu ông Trần Văn P3, bà Phùng C L3bà Trần Thị Thu V1 Đặng Văn P1nhổ hết cỏ trả lại cho bà Đ11 đất đo đạc thực tế có diện tích 207,8 m², thuộc thửa đất 56, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long Antheo Mảnh trích đo địa chính số 263-2022 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ ngày 26/12/2022; không tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa gia đình ông T3bà Đvới ông Lê Vũ T6

Đơn yêu cầu phản tố ngày 10/8/2023 và ngày 19/10/2023, lời trình bày tiếp theo và tại phiên tòa Bị đơn ông Trần Văn P4 nội dung như sau:

Nguồn gốc thửa đất 56 là của ông Trần Hoàng H1 cho bà Đặng Thị NBà N1 lại cho ông PÔng P20 vợ chồng bà Trần Thị Thu V2 ông Đặng Văn P5 canh tác từ năm 2009 cho đến nay. Trong quá trình canh tác thì không có ai tranh chấp, đến năm 2019 thì bà Đ12 tranh chấp. Việc tranh chấp giữa hai bên được UBND xã A nhưng không thành. Hiện tại thửa đất số 56 do vợ chồng bà V1 Đặng Văn P1đang canh tác trồng cỏ, không có cây lâu năm, không có công trình kiến trúc.

Nay trước yêu cầu khởi kiện của bà Đ13 ông Trần Văn P6 đồng ý, đồng thời bị đơn có yêu cầu phản tố:

  • Vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do UBND xã ATây chứng nhận ngày 5/7/2007 giữa ông Lê Vũ T8 ông Lê Văn T9 với thửa đất số 56, tờ bản đồ số 5;
  • Vô hiệu một phần văn bản thỏa thuận phân chia di sản giữa bà Trương Thị ĐLê Thanh Tvà Lê T10 T2do phòng C3tỉnh Long An (nay là Văn phòng C2chứng nhận ngày 09/5/2016 đối với thửa đất số 56, tờ bản đồ số 5;
  • Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 00456 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lcấp cho bà Trương Thị Đ7 16/9/2016 đối với thửa đất số 56, tờ bản đồ số 5, diện tích theo giấy là 288m², mục đích sử dụng là đất chuyên trồng lúa nước;
  • Yêu cầu công nhận phần đất đo đạc thực tế có diện tích 207,8 m², thuộc thửa đất 56, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long Antheo Mảnh trích đo địa chính số 263-2022 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ ngày 26/12/2022 thuộc quyền sử dụng của ông Trần Văn P3
  • Rút lại yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Đcấp cho ông Lê V3 T1ngày 30/10/1997 đối với thửa đất 56, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An
  • Rút lại yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Đ cho ông Lê Văn T3ngày 05/8/2007 đối với thửa dất 56, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An
  • Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Văn P7 bà Đặng Thị N2 ông P6 có tranh chấp. Ông P8 không tranh chấp hợp đồng thuê đất giữa ông P7 vợ chồng ông Đặng Văn P1bà Trần Thị Thu V4

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phùng C L3trình bày tại bản tự khai ngày 30/8/2023 như sau: Bà L3là vợ ông Trần Văn P9 L3thống nhất lời trình bày của ông P Tại phiên tòa, bà L3thống nhất với yêu cầu phản tố của ông Trần Văn P10 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà Đ

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thu V1 Đặng Văn Pltrình bày tại bản tự khai ngày 30/8/2023 như sau: Năm 2009, ông Trần Văn P4 cho vợ chồng bà V2 ông Đặng Văn P11 nhiều thửa đất để sản xuất nông nghiệp trong đó có thửa số 56, tờ bản đồ số 5. Thời gian đầu bà trồng lúa, sau đó chuyển sang trồng cỏ để nuôi bò. Nay, bà Đ14 chấp với ông P1thì bà không có ý kiến gì. Tòa án xét xử thửa đất thuộc về ai thì bà bàn giao đất cho người đó, do bận công việc nên bà xin vắng mặt. Tại phiên tòa, bà V5 đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà Đ15 thời đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Plvới lý do từ năm 2009 cho đến nay vợ chồng bà canh tác thửa đất số 56 không có ai tranh chấp. Ngoài ra, tiếp giáp với thửa đất số 56 là thửa đất số 39 do bà Nguyễn Thị L3 tác; thửa đất số 38, 58 do ông Lê V3 T1canh tác, đây là những người làm chứng cho việc vợ chồng bà canh tác thửa đất số 56.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị N3 bày tại Biên trường trình ngày 01/8/2023 có nội dung như sau: Năm 2008, bà N4 nhận chuyển nhượng phần đất của ông Trần Hoàng H2 tích 12.109 m², gồm thửa 55, 92, 91, 115, 116, 114, 150, 151, 166, ngoài ra, bà N4 thỏa thuận chuyển nhượng luôn thửa 56 nhưng khi ra giấy không hiểu sao trong giấy lại không có thửa 56. Sau đó, bà N11 nhượng toàn bộ phần này cho ông Trần Văn P3 trong đó có thỏa thuận luôn thửa 56. Nay, các bên tranh chấp bà N5 có ý kiến, do bị bệnh nên bà N6 vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Hoàng H3 bày:

Tại Biên tường trình ngày 01/8/2023 có nội dung như sau: Năm 2008, ông H9 chuyển nhượng cho bà Đặng Thị Ndiện T11 12.109 m², gồm thửa 55, 92, 91, 115, 116, 114, 150, 151, 166, ngoài chín thửa đất này, ông H9 thỏa thuận với bà N7 56 nhưng khi ra giấy không hiểu sao trong giấy lại không có thửa 56. Sau đó, bà N11 nhượng toàn bộ phần này cho ông Trần Văn P3 trong đó có thỏa thuận luôn thửa 56. Các bên tranh chấp ông H4 có ý kiến.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 02/8/2023 có nội dung như sau: Ông H5 định bản tường trình ngày 01/8/2023 do ông H6 và ký tên được UBND xã A là do viết lại từ bản tường trình của bà NNăm 2008, ông H7 cấp quyền sử dụng đất, sau đó có chuyển nhượng cho bà Đặng Thị N8 thửa, gồm thửa 55, 92, 91, 115, 116, 114, 150, 151, 166. Ngoài chín thửa đất nêu trên, ông H4 còn diện tích đất nào khác. Đối với thửa 56 ông H4 được nhà nước cấp giấy và cũng không quản lý sử dụng. Việc ông H8 có thỏa thuận miệng với bà N1 luôn thửa 56 là do ghi lại từ bảng tường trình của bà NÔng H9 thắc mắc và hỏi vì sao phải ghi thêm thửa 56 thì ông Trần Văn P4 nói là ghi giống nội dung bà N9 được.

Tại Bản tự khai ngày 23/8/2023 có nội dung như sau: ông H5 nhận miếng đất cắt ngang đầu kinh là của ông H10 có nói với ông P12 lâu rồi.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 09/9/2024 có nội dung: Ông cam kết nguồn gốc đất do cha mẹ ông H11 lại, ông Hcanh tác thửa 56 từ năm 1975 đến năm 2008. Đến năm 2009, ông H1 cho bà Đặng Thị N10 dây ruộng bên đây kênh và 01 thửa đất đối diện bên kênh là thửa đất số 56. Ông thay đổi lời khai tại Biên bản ghi lời khai ngày 02/8/2023 vì thư ký hỏi không rõ nên ông H8 không đúng sự thật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Vũ T12 bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 02/8/2023 có nội dung như sau: Ông T1được cấp giấy chứng quyền sử dụng đất vào năm 1997, nhưng không nhớ số thửa đất. Sau đó, ông T1có chuyển nhượng cho ông Lê Văn T3tại UBND xã A T1đã giao giấy đất cho ông T3để làm thủ tục. Ông T1xác định ông T1không có đứng tên thửa 56.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND huyện Đ34 có công văn số 5906/UBND-NC ngày 22/4/2024 có nội dung như sau:

  • - Nguồn gốc thửa đất số 56; tờ bản đồ số 5 của Trần Hoàng Hsử D từ năm 1975 đến năm 2008 ông Trần Hoàng H12 nhượng cho bà Đặng Thị Ntiếp T13 sử dụng đến năm 2009 bà Đặng Thị N11 nhượng lại cho ông Trần Văn P13 Trần Văn P20 chị là Trần Thị Thu V6 tục sử dụng đến nay để trồng cỏ chăn nuôi.
  • - Đối với hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê T14 V1ngày 30/10/1997 tại thửa đất số 56; tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc xã A không tìm thấy trong kho lưu trữ của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện ĐDo đó, Phòng T8không có cơ sở để báo cáo UBND huyện cung cấp thông tin theo yêu cầu của Tòa án.
  • - Ngày 05/8/2007, UBND huyện Đ chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn T15 thửa đất số 56; tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc xã A căn cứ vào Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Vũ T8 ông Lê Văn T3được UBND xã A ngày 05/7/2007.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND xã Acó công văn số 135/CV-UBND ngày 11/4/2024 có nội dung như sau:

Nguồn gốc thửa đất số 56, tờ bản đồ số 5 đất này của Trần Hoàng Hsử D từ năm 1975 đến năm 2008 ông Trần Hoàng H12 nhượng cho bà Đặng Thị Ntiếp T13 sử dụng đến năm 2009 bà Đặng Thị N11 nhượng lại cho ông Trần Văn P13 Trần Văn P20 chị là Trần Thị Thu V6 tục sử dụng đến nay để trồng cỏ chăn nuôi.

Hiện nay UBND xã A còn lưu trử hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 56, tờ bản đồ số 5 giữa ông Lê Vũ Tlvà ông Lê Văn T16 xã A vắng mặt tham gia tố tụng trong suốt quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Văn phòng C1(nay là Văn phòng C2có công văn số 43/CV-VPCC ngày 26/3/2024 có nội dung:

Vào ngày 09/05/2016, gia đình ông Lê Văn T17(ông T3đã chết ngày 25/02/2016) gồm: bà Trương Thị Đông Lê T18 T2ông Lê Thanh T19 đến Phòng C3 yêu cầu công chứng Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế đối với thửa đất số 56, 57, 59, 60, 89, 90, tờ bản đồ số 05 tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long Ando ông Lê Văn T20 tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc công chứng được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, do bận giải quyết công việc tại cơ quan nên Văn phòng C2xin vắng mặt trong các phiên tòa hòa giải, xét xử, giải quyết vụ kiện.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê T18 T2trình bày tại đơn xin vắng mặt ngày 01/8/2024: Ông T2xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án lý do bận công việc nên không thể đến Tòa án được.

Tại Công văn số 3834/CN.VPĐKĐĐ-HCTH ngày 17/10/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện Đ nội dung như sau: Ngày 16/9/2016, bà Trương Thị Đ16 Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Lcấp quyền sử dụng thửa 56, tờ bản đồ số 5; khi cấp giấy không có đo đạc hiện trạng thực tế, sử dụng trích lục bản đồ địa chính ngày 31/5/2016; từ tháng 9 năm 2016 đến nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Đ9 có đăng ký giao dịch bảo đảm.

Người làm chứng ông Trần Văn L4 bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 08/8/2023 có nội dung như sau: Ông L2là anh ruột của ông Trần Hoàng H13 gốc diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông H14 tên là do ông bà để lại, chưa được cấp giấy cho ai, ông H15 người được cấp giấy đất đầu tiên. Vị trí các thửa đất thực tế là khu đất đã chuyển nhượng cho bà Đặng Thị N12 phần đất đối diện mà vợ chồng ông Pbà V7 trồng cỏ khoảng 200 m², hiện nay bà Đ8 tranh chấp với ông Trần Văn P3

Người làm chứng bà Nguyễn Thị L5 trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 09/9/2024 có nội dung như sau: Bà Lllà chủ sử dụng thửa đất số 39, tờ bản đồ số 5, diện tích 624m², loại đất là đất trồng lúa, tọa lạc tại ấp S, xã A, huyện Đ, tỉnh Long AnNguồn gốc là do bà Llmua lại của bà Phan Thị T21 T4Đến ngày 20/02/2017, bà L1được sở T39 tỉnh Lcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà L1canh tác thửa đất số 39 từ năm 2017 cho đến nay. Thửa đất số 39 của bà Liên tiếp Gvới thửa 56 do bà Trần Thị Thu V8 ruột của ông Trần Văn P14 tác trồng cỏ.

Người làm chứng ông Lê Vủ D1 trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 09/9/2024 có nội dung như sau: Thửa đất số 38 và 58 là của cô ruột ông D2 Lê Thị A đang sống ở Mỹ. Trước đây bà A1 ông Lê Vũ T22 anh ruột ông Dcanh T23. Đến năm 2022, do ông T1lớn tuổi nên giao lại cho ông Dcanh tác từ năm 2022 đến nay. Nguồn gốc thửa 56 là do ông Trần Hoàng Hcanh T24, sau đó đến bà Đặng Thị N13 đến bà Trần Thị Thu V9 đình bà Đông Lê Vũ Tlvà ông Phạm Bá L6 có canh tác thửa đất số 56.

Người làm chứng ông Phạm Bá L7 trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 09/9/2024 có nội dung như sau: Ông L đất của bà Trương Thị Đ17 năm 2018 đến năm 2019, việc thuê đất không có làm hợp đồng, thuê trồng lúa với giá 6.000.000 đồng/năm. Ông L6 có thuê thửa đất số 56, tờ bản đồ số 5. Trước năm 2018, ông R em của ông T3canh tác. Gia đình bà Đông R1 ông L6 có canh tác thửa 56.

Người làm chứng bà Phan Thị T21 T4 trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 09/9/2024 có nội dung như sau: Trước đây, bà T4là chủ sử dụng thửa đất số 39, tờ bản đồ số 5, nguồn gốc là do cha mẹ bà T4để lại. Đến năm 2017, bà T4bán thửa đất số 39 lại cho bà L1Giáp ranh với thửa của bà T4là thửa 56 do bà Trần Thị Thu V10 tác. Gia đình bè Đ18, ông Phạm Bá L6 có canh tác thửa 56.

Tại Bản án dân sự số 346/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa đã tuyên:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Đ19 việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đối với bị đơn ông Trần Văn P3; chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Văn P3

    • - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Đ2 về việc yêu cầu ông Trần Văn P3, bà Phùng C L3bà Trần Thị Thu V1 Đặng Văn P1nhổ hết cỏ trả lại cho bà Đ11 đất đo đạc thực tế có diện tích 207,8 m², thuộc thửa đất 56, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp S, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An
    • - Vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do UBND xã ATây chứng nhận ngày 05/7/2007 giữa ông Lê Vũ T8 ông Lê Văn T9 với thửa đất số 56, tờ bản đồ số 5;
    • - Vô hiệu một phần văn bản thỏa thuận phân chia di sản giữa bà Trương Thị ĐLê Thanh Tvà Lê T10 T2do phòng C3tỉnh Long An (nay là Văn phòng C2chứng nhận ngày 09/5/2016 đối với thửa đất số 56, tờ bản đồ số 5;
    • - Ông Trần Văn P15 quyền sử dụng 207,8 m², thuộc thửa đất 56, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long Antheo Mảnh trích đo địa chính số 263-2022 do Công ty TNHH Đ35 ngày 13/12/2022, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ ngày 26/12/2022.

    Buộc bà Đ20 trách nhiệm giao nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 186161, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 00456 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lcấp cho bà Trương Thị Đ7 16/9/2016 cho cơ quan thi hành án, để cơ quan thi hành án giao cho ông P để ông P15 kê khai đăng ký quyền sử dụng đất.

    Trong trường hợp bà Đ9 giao nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông P15 quyền liên hệ Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường, cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

  2. Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của ông Trần Văn P16 việc yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Đcấp cho ông Lê V3 T1ngày 30/10/1997 đối với thửa đất 56, tờ bản đồ số 5 và hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Đ cho ông Lê Văn T3ngày 05/8/2007 đối với thửa dất 56, tờ bản đồ số 5.

  3. Về chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc bà Đ21 25.000.000 đồng chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ; bà Đ22 nộp đủ.

  4. Về án phí: Bà Đ23 người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí; ông P6 phải nộp án phí, hoàn lại ông P17 đồng tiền tạm ứng án phí, theo biên lai số 0002729 ngày 14/8/2023 và số 0006840 ngày 01/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực, ngày 18 tháng 8 năm 2024, bà Trương Thị Đ2 và ông Lê Thanh T25 có đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm, đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đ.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bà Đông T26 rút kháng cáo; bị đơn giữ nguyên ý kiến. Các bên đương sự không đề nghị thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Bà Trương Thị Đ24 ông Lê Thanh T25 đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ9 chấp nhận yêu cầu phản tố của ông P Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 186161, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 00456 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lcấp cho bà Trương Thị Đ7 16/9/2016, hiện tại bà Đ8 giữ, bà Đ9 có thực hiện giao dịch dân sự nào đối với thửa đất số 56.

Luật sư Võ Văn Đ1 trình bày: Bà Trương Thị Đ25 tại là người đứng tên quyền sử dụng đất số CE 186181 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lcấp ngày 16/9/2016. Nguồn gốc thửa đất số 56 do vợ chồng bà Đ24 ông Lê Văn T27 chuyện nhượng từ ông Lê Vũ T1Ông Lê Vũ T28 khi chuyển nhượng cho ông Lê Văn T29 thể hiện ở Sổ mục kê do Sở Địa chính ký duyệt ngày 17/12/2001 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Vũ T1được UBND huyện Đ ngày 30/10/1997 với tổng diện tích 6498m2 trong giấy đã thể hiện rõ là Nhà nước đã công nhận thửa đất số 56. Sau khi nhận chuyển nhượng gia đình bà Đ22 canh tác và quản lý các thửa đất nói trên xuyên suốt nhưng do hoàn cảnh gia đình bà Đ26 xuyên ra với các con của bà làm ăn ở B Đến năm 2022, gia đình bà Đ12 phát hiện có người bà con của ông Trần Văn P18 khai thác, sử dụng thửa đất số 56 của gia đình bà Đ27 phát sinh tranh chấp. Vợ chồng bà Đ24 ông Lê Văn T27 chuyện nhượng từ ông Lê Vũ Tó hợp pháp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của phản tố của ông Trần Văn P10 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Đ2

Ông Trần Văn Phà Phùng Thị C L3trình bày: Nguồn gốc thửa đất 56 là của ông Trần Hoàng H1 cho bà Đặng Thị NBà N1 lại cho ông PÔng P20 vợ chồng bà Trần Thị Thu V2 ông Đặng Văn P5 canh tác từ năm 2009 cho đến nay. Trong quá trình canh tác thì không có ai tranh chấp, đến năm 2019 thì bà Đ12 tranh chấp; bà Đ2hoàn toàn không có sử dụng thửa đất số 56. Ông Trần Văn Pbà Phùng Thị C L3 đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm.

Bà Trần Thị Thu V11 bày: Năm 2009, ông Trần Văn P4 cho vợ chồng bà V2 ông Đặng Văn P11 nhiều thửa đất để sản xuất nông nghiệp trong đó có thửa số 56, tờ bản đồ số 5. Thời gian đầu bà trồng lúa, sau đó chuyển sang trồng cỏ để nuôi bò. Nay, bà Đ14 chấp với ông P1thì bà không có ý kiến gì. Tòa án xét xử thửa đất thuộc về ai thì bà bàn giao đất cho người đó.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến:

  1. Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. Tính có căn cứ, hợp pháp của kháng cáo: Kháng cáo của ông Lê Thanh T30 và bà Trương Thị Đ28 bảo các nội dung quy định tại Điều 272, 273, 276 BLTTDS. Do đó đủ điều kiện để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
  3. Quan điểm giải quyết vụ án kháng cáo:

Tại Công văn số 5906/UBND-TA ngày 22/4/2024 của UBND huyện Đvà Công văn số 135/CV-UBND ngày 11/4/2024 của UBND xã A nguồn gốc thửa đất 56, tờ bản đồ số 5, tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long Ancủa ông Trần Hoàng Hsử D từ năm 1975 đến năm 2008, ông H12 nhượng cho bà Đặng Thị Ntiếp T13 sử dụng đến năm 2009, bà N11 nhượng lại cho ông Trần Văn P19 đó ông P20 chị ruột là bà Trần Thị Thu V12 dụng đến nay để trồng cỏ.

Phía nguyên đơn cho rằng năm 2007, ông T17(chồng bà Đ29 nhượng của ông Lê Vũ T31 thửa đất gồm 56, 57, 59, 60, 89, 90 với giá 55 triệu đồng, trong đó thửa đất số 56. Ông Lê Vũ T32 định không đứng tên quyền sử dụng thửa đất 56.

+ Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 05/9/2024 và ngày 11/9/2024 người đại diện của nguyên đơn (ông Lê Thanh T33 bà Đ30 mâu thuẫn về quá trình sử dụng thửa đất số 56 của bà Đ.

Ông L8 lời trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 09/9/2024 (BL248) cho rằng chỉ thuê một dãy đất của nguyên đơn từ năm 2018 đến năm 2019 không thuê thửa đất số 56 và không canh tác thửa đất số 56, đồng thời giá thuê 6.000.000đ/năm và không có làm hợp đồng thuê.

Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà V1 Đ36 người làm chứng ông T40 xác định nguồn gốc thửa đất số 56 là của Trần Hoàng Hsử D từ năm 1975 đến năm 2008. Ông H12 nhượng cho bà Đặng Thị N12 bà N14 tục sử dụng đến năm 2009. Sau đó, bà N11 nhượng lại cho ông Trần Văn PÔng P20 bà Trần Thị Thu V6 tục sử dụng đến nay. Lời trình bày trên phù hợp với nội dung Công văn số 5906/UBND-TA ngày 22/4/2024 của UBND huyện Đvà Công văn số 135/CV-UBND ngày 11/4/2024 của UBND xã A cho Tòa án xác định nguồn gốc thửa đất 56 trên.

Từ những nhận trên, có căn cứ xác định phần đất có diện tích 207,8m2, thuộc thửa đất 56, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long Antheo Mảnh trích đo địa chính số 263-2022 được CN.VPĐK đất đai tại huyện Đ ngày 26/12/2022, được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T39.QSD đất ngày 16/9/2016 cho bà Trương Thị Đ31 gia đình bà Đ24 ông Lê Vũ T34 trực tiếp canh tác. Thửa đất 56 này do ông Trần Hoàng H16 Đặng Thị N12 vợ chồng ông Trần Văn P9 Phùng Cẩm L3trực tiếp canh tác đất từ năm 1975 cho đến nay. Bà Đông T35 kháng cáo không cung cấp chứng cứ gì mới nên không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Không chấp nhận kháng cáo của bà Đ24 ông T3 Căn cứ khoản 1, Điều 308 BLTTDS, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về thủ tục tố tung:
    1. [1.1] Đơn kháng cáo của bà Trương Thị Đ2 và ông Lê Thanh T30 làm đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
    2. [1.2] Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án và giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 26, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
    3. [1.3] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, những người được Tòa án triệu tập có mặt, người vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử theo trình tự phúc thẩm là phù hợp quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. [2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Trương Thị Đ2 và ông Lê Thanh T30 thấy rằng:
    1. [2.1] Tại phiên tòa các đương sự cùng thống nhất: Đất tranh chấp do bà Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 186161, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 00456 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lcấp cho bà Trương Thị Đ7 16/9/2016, theo đo đạc thực tế có diện tích là 207,8 m², thuộc thửa đất 56, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An( Mảnh trích đo địa chính số 263-2022 do Công ty TNHH Đ35 ngày 13/12/2022, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ ngày 26/12/2022) và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 186161, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 00456 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lcấp cho bà Trương Thị Đ7 16/9/2016, hiện tại bà Đ8 giữ, bà Đ9 có thực hiện giao dịch dân sự nào đối với thửa đất số 56. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
    2. [2.2] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:

      Phía nguyên đơn cho rằng năm 2007, ông T17(chồng bà Đ29 nhượng của ông Lê Vũ T31 thửa đất gồm 56, 57, 59, 60, 89, 90 với giá 55 triệu đồng, trong đó thửa đất số 56. Trong khi đó ông Lê V3 T1xác định không đứng tên quyền sử dụng thửa đất 56. Nguyên đơn và đại diện nguyên đơn trình bày không thống nhất về quá trình sử dụng như:

      • + Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 05/9/2024 người đại diện của nguyên đơn (ông Lê Thanh T33 bà Đ30 từ năm 2007 đến năm nay thì cho ông Phạm Bá L 06 thửa đất trên với giá 3.000.000đ/năm, không làm hợp đồng thuê.
      • + Tại phiên tòa ngày 11/9/2024 có ông Lê Đ32 T6làm chứng ông thuê 06 thửa đất của ông T3từ năm 2007 đến năm 2016 không làm hợp đồng, nhưng không nhớ số thửa, giá thuê 3.500.000đ; ông T36 xác định lại cho ông Lê Văn R2 từ năm 2007 đến năm 2016 với giá thuê 06 thửa đất là 3.000.000đ/năm, không làm hợp đồng thuê, từ năm 2016 cho ông L 06 thửa đất trên, không làm hợp đồng.

      Tại phiên tòa phúc thẩm bà Đ5 bày: khi nhận chuyển nhượng 6 thửa đất từ ông T1trong đó có thửa đất số 56 thì bà không có sử dụng, do diện tích đất nhỏ, mà bỏ trống để cỏ cây mọc tự nhiên; 5 thửa đất khác bà đã chuyển nhượng cho người khác nên bà cũng không có sử dụng thửa 56 đến năm 2022 bà có nhu cầu sử dụng thì phát hiên ông P21 cỏ nên bà tranh chấp.

      Ông L8 lời trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 09/9/2024 (BL 248) cho rằng chỉ thuê một dãy đất của nguyên đơn từ năm 2018 đến năm 2019 không thuê thửa đất số 56 và không canh tác thửa đất số 56, đồng thời giá thuê 6.000.000đ/năm và không có làm hợp đồng thuê.

      Phía bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà V1 Đ36 người làm chứng ông T40 xác định nguồn gốc thửa đất số 56 là của Trần Hoàng Hsử D từ năm 1975 đến năm 2008. Ông H12 nhượng cho bà Đặng Thị N12 bà N14 tục sử dụng đến năm 2009. Sau đó, bà N11 nhượng lại cho ông Trần Văn PÔng P20 bà Trần Thị Thu V6 tục sử dụng đến nay. Lời trình bày trên phù hợp với nội dung Công văn số 5906/UBND-TA ngày 22/4/2024 của UBND huyện Đvà Công văn số 135/CV-UBND ngày 11/4/2024 của UBND xã A cho Tòa án xác định nguồn gốc thửa đất 56. Công văn số 5906/UBND-TA ngày 22/4/2024 của UBND huyện Đvà Công văn số 135/CV-UBND ngày 11/4/2024 của UBND xã A nguồn gốc thửa đất 56, tờ bản đồ số 5, tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long Ancủa ông Trần Hoàng Hsử D từ năm 1975 đến năm 2008, ông H12 nhượng cho bà Đặng Thị Ntiếp T13 sử dụng đến năm 2009, bà N11 nhượng lại cho ông Trần Văn P19 đó ông P20 chị ruột là bà Trần Thị Thu V12 dụng đến nay để trồng cỏ.

    3. [3]. Từ những nhận trên, có căn cứ xác định phần đất có diện tích 207,8m², thuộc thửa đất 56, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long Antheo Mảnh trích đo địa chính số 263-2022 được CN.VPĐK đất đai tại huyện Đ ngày 26/12/2022, được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T39.QSD đất ngày 16/9/2016 cho bà Trương Thị Đ31 gia đình bà Đ24 ông Lê Vũ T34 trực tiếp canh tác. Thửa đất 56 này do ông Trần Hoàng H16 Đặng Thị N12 vợ chồng ông Trần Văn P9 Phùng Cẩm L3trực tiếp canh tác đất từ năm 1975 cho đến nay nên việc cấp thửa đất 56, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An cho ông Lê Vũ T22 không đúng đối tượng. Cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà Đ33 nhận yêu cầu phản tố của ông P22 có căn cứ pháp luật. Bà Đông T35 kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ gì mới nên không có cơ sở chấp nhận. Căn cứ khoản 1, Điều 308 BLTTDS, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 346/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
    4. [4]. Quan điểm của luật sư Đlđề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
  3. [5] Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
  4. [6] Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Trương Thị Đ2 thuộc đối tượng là người cao tuổi và bà Đ có làm đơn xin miễn án phí. Do đó, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Bộ luật Tố tụng dân sự, cho bà Đ được miễn án phí. Ông Lê Thanh T37 chịu 300.000đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trương Thị Đ2 và ông Lê Thanh T3

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 346/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Căn cứ Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 68, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271, Điều 273, 148, 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 24 Điều 3, Điều 53, Điều 100, Điều 101, Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai 2013; Điều 2 Công văn số 1568/BTNMT-ĐKTKĐĐ ngày 25/4/2007 của Bộ T41 về việc “sử dụng sổ dã ngoại và sổ mục kê đất đai”; khoản 1 Điều 20 Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T9về việc quy định về bản đồ địa chính;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Đ19 việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đối với bị đơn ông Trần Văn P3; chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Văn P3

    • - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Đ2 về việc yêu cầu ông Trần Văn P3, bà Phùng C L3bà Trần Thị Thu V1 Đặng Văn P1nhổ hết cỏ trả lại cho bà Đ11 đất đo đạc thực tế có diện tích 207,8 m², thuộc thửa đất 56, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp S, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An
    • - Vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do UBND xã ATây chứng nhận ngày 05/7/2007 giữa ông Lê Vũ T8 ông Lê Văn T9 với thửa đất số 56, tờ bản đồ số 5;
    • - Vô hiệu một phần văn bản thỏa thuận phân chia di sản giữa bà Trương Thị ĐLê Thanh Tvà Lê T10 T2do phòng C3tỉnh Long An (nay là Văn phòng C2chứng nhận ngày 09/5/2016 đối với thửa đất số 56, tờ bản đồ số 5;
    • - Ông Trần Văn P15 quyền sử dụng 207,8 m², thuộc thửa đất 56, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long Antheo Mảnh trích đo địa chính số 263-2022 do Công ty TNHH Đ35 ngày 13/12/2022, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ ngày 26/12/2022.

    Buộc bà Đ20 trách nhiệm giao nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 186161, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 00456 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lcấp cho bà Trương Thị Đ7 16/9/2016 cho cơ quan thi hành án, để cơ quan thi hành án giao cho ông P để ông P15 kê khai đăng ký quyền sử dụng đất.

    Trong trường hợp bà Đ9 giao nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông P15 quyền liên hệ Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường, cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

  2. Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của ông Trần Văn P16 việc yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Đcấp cho ông Lê V3 T1ngày 30/10/1997 đối với thửa đất 56, tờ bản đồ số 5 và hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Đ cho ông Lê Văn T3ngày 05/8/2007 đối với thửa dất 56, tờ bản đồ số 5.

  3. Về chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc bà Đ21 25.000.000 đồng chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ; bà Đ22 nộp đủ.

  4. Về án phí: Bà Đ23 người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí; ông P6 phải nộp án phí, hoàn lại ông P17 đồng tiền tạm ứng án phí, theo biên lai số 0002729 ngày 14/8/2023 và số 0006840 ngày 01/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

  5. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Trương thị Đ16 miễn án phí. Ông Lê Thành T38 phải chịu 300.000 đồng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông T7đã nộp, theo biên lai số 0005635 ngày 18/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Các đương sự
  • - Lưu HS, lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Hữu Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2025/DS-PT ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 95/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger