TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 95/2024/HS-ST Ngày 11-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đào Thị Nguyện
Bà Nguyễn Thị Tâm
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Bà Phạm Thị Ly L - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đào Duy Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm (trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng) và điểm cầu thành phần (Nhà tạm giữ công an huyện V, thành phố Hải Phòng), Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Bùi Văn A, sinh ngày 11 tháng 12 năm 1980, tại Thái Bình; nơi cư trú: Số nhà A, tổ dân phố số E, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị N; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Bản án số 14/HSST ngày 10-6-2004 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xử phạt Bùi Văn A 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa được xoá án tích); Bản án số 27/HSST ngày 12-9-2007 của Toà án nhân dân huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình xử phạt Bùi Văn A 06 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa được xoá án tích); tiền sự: Ngày 21-12-2020 công an thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; nhân thân: Bản án số 72/2016/HSST ngày 05-8-2016 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án số 73/2021/HSST ngày 18-8-2021 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị tạm giữ từ ngày 12-8-2024 đến ngày 21-8-2024 chuyển tạm giam đến nay; có mặt.
- Bị hại: Bà Bùi Thị M; nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Bùi Văn C; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 05 giờ ngày 08-8-2024, Bùi Văn A một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60B1-372.28 đi từ nhà sang xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng với mục đích tìm kiếm nhà nào có tài sản để trộm cắp bán lấy tiền ăn tiêu. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, Văn A đi đến nhà bà Bùi Thị M phát hiện không có ai ở nhà nên Văn A đã trèo qua tường vây vào sân rồi chui qua lỗ thoáng nhà vệ sinh đột nhập vào trong nhà bà M. Văn A đi vào khu vực bếp ăn lấy 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xanh để ở mặt bàn ăn, cất giấu vào túi quần bên trái rồi tiếp tục đi ra phòng khách lấy 04 bức tranh gỗ Pơmu hình chữ nhật (điêu khắc hoạ tiết cây cối và con vật, có cùng kích thước là 35x98cm) treo trên tường. Văn A đưa 04 bức tranh trên qua cửa sổ ra ngoài rồi trèo qua lỗ thoáng nhà vệ sinh ra khỏi nhà theo đường đột nhập vào. Sau đó, Văn A để 04 bức tranh này phía sau xe mô tô và điều khiển xe đi về nhà. Khi đi đến ngã ba đường mới thuộc xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình, Văn A gặp một người đàn ông không quen biết và bán chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax vừa trộm cắp được cho người này với giá 1.600.000 đồng rồi tiếp tục đi về nhà ở thị trấn D. Khoảng 17 giờ cùng ngày, Văn A bảo bố là ông Bùi Văn C mang xe mô tô biển kiểm soát: 60B1-37228 trả cho anh Lê Hữu T và cho anh T 04 bức tranh gỗ này. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, gia đình bà M đã làm đơn trình báo Công an xã T, huyện V.
Ngày 12-8-2024, Bùi Văn A đến đầu thú tại Công an xã T, huyện V. Cùng ngày, anh Lê Hữu T đã giao nộp cho Công an xã T, huyện V 01 xe mô tô biển kiểm soát: 60B1-372.28 và 04 bức tranh gỗ.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 13-8-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: “01 điện thoại (đã qua sử dụng) nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh, dung lượng 64GB tại thời điểm ngày 08-8-2024 có giá trị là 8.000.000 đồng. 04 bức tranh (đã qua sử dụng) hình chữ nhật, bằng gỗ Pơmu, điêu khắc hoạ tiết cây cối và con vật, có cùng kích thước giống nhau là 35x98cm, tại thời điểm ngày 08-8-2024 có giá trị là 4.000.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản cần định giá tại thời điểm ngày 08-8-2024 có giá trị là 12.000.000 đồng”.
Vật chứng: 04 bức tranh bằng gỗ Pơmu, qua xác minh là tài sản hợp pháp của bà Bùi Thị M nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại cho bà M. Cơ quan điều tra thu giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát: 60B1-372.28 của bị cáo sử dụng đi trộm cắp tài sản.
Về trách nhiệm bồi thường: bà Bùi Thị M yêu cầu Văn A phải bồi thường giá trị điện thoại di động Iphone 11 Promax là 8.000.000 đồng. Đến nay Văn A chưa bồi thường cho bà M.
Tại bản Cáo trạng số 100/CT-VKS ngày 26-11-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Bùi Văn A về tội Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn A đã khai nhận hành vi của mình như bản cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 xử phạt Bùi Văn A từ 36 đến 42 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bà M 8.000.000 đồng. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Về tư cách tham gia tố tụng của anh Lê Hữu T: Tòa án có triệu tập anh Lê Hữu T tham gia phiên tòa với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, hồ sơ thể hiện anh T không biết 04 bức tranh gỗ do bị cáo trộm cắp mà có, đã giao nộp lại cho cơ quan công an. Tại phiên tòa, anh T cũng xác định không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định anh T không là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 08 giờ ngày 08-8-2024, tại thôn D, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng, Bùi Văn A đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax và 04 bức tranh bằng gỗ Pơmu, có tổng giá trị là 12.000.000 đồng của bà Bùi Thị M. Do đó, hành vi của bị cáo đã thỏa mãn cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết định khung: Bị cáo đã bị áp dụng tình tiết tái phạm chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới do lỗi cố ý nên thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; sau khi phạm tội đã đầu thú. Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
[6.1] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân là khách thể được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
[6.2] Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng ngoài lần phạm tội này bị cáo đã 04 lần bị Toà án đưa ra xét xử về hành vi vi phạm pháp luật, cho thấy bị cáo là người có nhân thân rất xấu. Bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân lại tiếp tục có hành vi trộm cắp chiếm đoạt tài sản của người khác, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tại phiên tòa mới đủ tác dụng, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bà Bùi Thị M yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị điện thoại di động Iphone 11 Promax là 8.000.000 đồng, là tài sản hợp pháp của bà M nên căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho bà M số tiền 8.000.000 đồng.
[9] Về xử lý vật chứng: 04 bức tranh bằng gỗ Pơmu, qua xác minh là tài sản hợp pháp của bà Bùi Thị M nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại cho bà M. Đối với xe mô tô biển kiểm soát: 60B1-372.28, qua xác minh mang tên chủ xe là Vũ Đình C1 ở số G, khu phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định uỷ thác điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để xác minh làm rõ tuy nhiên đến nay chưa nhận được kết quả trả lời. T khai xe mô tô này T mua lại của anh C1. Do chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau.
[10] Đối với người đàn ông mua chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax không biết căn cước, lý lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không có cơ sở để điều tra.
[11] Đối với anh Lê Hữu T không biết việc Bùi Văn A mượn xe mô tô biển kiểm soát: 60B1-372.28 sau đó tự ý sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản và không biết 04 bức tranh gỗ mà ông C đưa cho mình là tài sản do Văn A phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không xem xét, xử lý.
[12] Đối với ông Bùi Văn C không biết, không tham gia vào việc trộm cắp tài sản, không biết nguồn gốc của 04 bức tranh gỗ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không xem xét, xử lý.
[13] Đối với việc ngày 21-12-2020, Công an thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Văn A về hành vi trộm cắp tài sản trong khi Bùi Văn A có 02 tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V chuyển tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Thái Bình để giải quyết.
[14] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[15] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn A 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12-8-2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Bùi Thị M 8.000.000 (Tám triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi xuất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bị cáo Bùi Văn A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Thắng |
Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 95/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn A - Trộm cắp tài sản
