TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 95/2024/HS-ST Ngày: 06 – 12 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Chí Vương
2. Ông Trương Đắc Tạo
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2024/TLST-HS ngày 25/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXXST-HS ngày 20/11/2024 đối với các bị cáo:
1. Võ Hoàng N, sinh năm 1993 tại tỉnh Đồng Nai.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Nghề nghiệp: Lái xe, môi giới bất động sản; Trình độ học vấn: 12/12.
Nơi cư trú: Ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đ.
Chỗ ở hiện nay: số nhà E N, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
Cha: Võ T, sinh năm 1960, Mẹ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1968 Bị cáo có 05 anh em ruột, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2001; Bị cáo có vợ tên: Bùi Thị Q, sinh năm 1994; Bị cáo có 1 con là Võ Phúc V, sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không
Năm 2020 có hành vi Trốn thuế tại khu vực thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Đến ngày 22/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H khởi tố vụ án, ngày 03/6/2024 khởi tố bị can Võ Hoàng N và L cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
2. Nguyễn Thị H, sinh năm 1968 tại Bình Phước.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; Trình độ học vấn: 11/12.
Nơi cư trú: Tổ B, khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Cha: Nguyễn Văn C (đã chết), Mẹ: Nguyễn Thị N1 (đã chết); Bị cáo có 04 chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1963, nhỏ nhất sinh năm 1975; Bị cáo có chồng là Trần Đức Q1 (đã ly hôn); Bị cáo có 2 con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 2000.
Tiền án, tiền sự: Không
Năm 2020 có hành vi Trốn thuế tại khu vực thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Đến ngày 22/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H khởi tố vụ án, ngày 03/6/2024 khởi tố bị can Nguyễn Thị H và L cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Phạm Thị N2, sinh năm: 1988; Nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2020, Võ Hoàng N thoả thuận đặt cọc chuyển nhượng 32 thửa đất thuộc tờ bản đồ số 34 tọa lạc tại khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước của Nguyễn Thị H với tổng giá trị là: 13.000.000.000 đồng và 05 thửa đất thuộc tờ bản đồ số 34 tọa lạc tại khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước của Phạm Thị N2 với giá trị chuyển nhượng là: 2.200.000.000 đồng. N thoả thuận với H và N2 là N sẽ đặt cọc trước cho H và N2 một số tiền, sau đó N được quyền rao bán các thửa đất trên, khi có người mua thì H và N2 ký hợp đồng chuyển nhượng cho họ và N sẽ dùng số tiền đó trả cho H và N2 cho đến khi đủ số tiền mà các bên thoả thuận thì H và N2 đồng ý.
Khi lập hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng C1 là người cung cấp thông tin của người mua (khách hàng của N) và người bán (Thông tin của H và N2) cho Văn phòng C1 để lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, sau đó N gọi H và N2 đến Văn phòng C1 để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trực tiếp cho khách hàng của N. Theo kết quả điều tra, H trực tiếp ký hồ sơ chuyển nhượng cho khách hàng 23 thửa đất, N và H trực tiếp đứng tên ký hồ sơ chuyển nhượng cho khách hàng là 09 thửa đất (thửa số 969, 977, 970, 985, 986, 968, 993, 994, 996), N2 trực tiếp ký hồ sơ chuyển nhượng cho khách hàng 05 thửa đất.
Để giảm số thuế thu nhập cá nhân phải nộp, N đã kê khai số tiền chuyển nhượng trong hợp đồng thấp hơn so với số tiền chuyển nhượng thực tế. Quá trình điều tra đã xác định tổng số tiền thực tế N thu được khi chuyển nhượng 37 thửa đất trên là: 25.275.000.000 đồng, nhưng số tiền N khai để tính thuế là: 940.000.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số: 1516/CCTKVBLHQ - KLGĐ, ngày 12/4/2024 của Chi cục thuế khu vực B - Hớn Quản, xác định quá trình chuyển nhượng 15 thửa đất gồm: thửa đất số 987, 988, 996, 998, 990, 999, 1002, 972, 992, 993, 994, 968, 997, 973, 967 tờ bản đồ số 34 toạ lạc tại khu phố B, thị trấn T, huyện H cho khách hàng, số tiền thuế thu nhập cá nhân mà Nguyễn Thị H trốn không nộp vào ngân sách Nhà nước là: 187.576.975 đồng; Võ Hoàng N trốn không nộp vào ngân sách Nhà nước là: 53.962.407 đồng.
Tại Kết luận giám định số: 1772/CCTKVBLHQ - KLGĐ, ngày 23/5/2024 của Chi cục thuế khu vực B - Hớn Quản, xác định quá trình chuyển nhượng 17 thửa đất gồm: thửa đất số 1000, 989, 969, 965, 963, 995, 977, 975, 974, 970, 986, 976, 964, 966, 971, 1001, 985 tờ bản đồ số 34 toạ lạc tại khu phố B, thị trấn T, huyện H cho khách hàng, số tiền thuế thu nhập cá nhân mà Nguyễn Thị H trốn không nộp vào ngân sách Nhà nước là: 210.537.276 đồng; Võ Hoàng N trốn không nộp vào ngân sách Nhà nước là: 61.075.167 đồng.
Căn cứ kết quả giám định thuế, tổng số tiền thuế thu nhập cá nhân mà N và H khai báo gian dối để trốn thuế là 513.151.825 đồng (sau khi đã trừ đi số tiền mà N và H đã kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân trước đó là 57.718.281 đồng).
Như vậy, số thuế thu nhập cá nhân H và N trốn không nộp vào ngân sách Nhà nước là: 513.151.825 đồng. Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, N và H đã khai nhận toàn hộ hành vi phạm tội như trên.
Vấn đề truy thu nộp ngân sách Nhà nước: Nguyễn Thị H và Võ Hoàng N có hành vi trốn thuế thu nhập cá nhân số tiền: 513.151.825 đồng. Đề nghị Toà án truy thu, buộc Nguyễn Thị H và Võ Hoàng N có nghĩa vụ liên đới nộp số tiền trên vào ngân sách Nhà nước.
Đối với Phạm Thị Ngọc K ký hợp đồng chuyển nhượng 05 thửa đất cho khách hàng của Võ Hoàng N, N2 biết N kê khai số tiền chuyển nhượng thấp hơn giá trị thực tế chuyển nhượng để trốn thuế thu nhập cá nhân số tiền là: 64.153.084 đồng. Hành vi của N2 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm (không đủ định lượng), do đó không có căn cứ để xử lý hình sự đối với N2 về hành vi trốn thuế. Cơ quan CSĐT - Công an huyện H đã chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan đến Chi cục thuế khu vực B - H để xử lý theo thẩm quyền. Chi cục thuế khu vực B đã ra quyết định xử phạt hành chính số 353/QĐ-XPHC ngày 16/10/2024 xử phạt hành chính Phạm Thị N2 là đúng quy định.
Bản Cáo trạng số 84/CT-VKS ngày 18/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố các bị cáo Võ Hoàng N và Nguyễn Thị H về tội “ Trốn thuế” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 200 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Hoàng N và Nguyễn Thị H về tội “ Trốn thuế”.
Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 200; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 54 và Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Võ Hoàng N hình phạt tiền là hình phạt chính với số tiền từ 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng đến 350.000.000 (Ba trăm năm mươi triệu) đồng.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H hình phạt tiền là hình phạt chính với số tiền từ 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng đến 250.000.000 (Hai trăm năm mươi triệu) đồng.
Vấn đề truy thu nộp ngân sách Nhà nước: Nguyễn Thị H và Võ Hoàng N có hành vi trốn thuế thu nhập cá nhân số tiền: 513.151.825 đồng. Đề nghị Toà án truy thu, buộc Nguyễn Thị H và Võ Hoàng N có nghĩa vụ liên đới nộp số tiền trên vào ngân sách Nhà nước.
Tại phiên tòa các bị cáo thống nhất thỏa thuận để Võ Hoàng N nộp và Ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo trốn thuế, tổng cộng là 513.151.825 đồng và đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Tại phiên tòa các bị cáo không tranh luận.
Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các Bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa người có quyền và nghĩa vụ liên quan Phạm Thị N2 có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra Phạm Thị N2 đã cung cấp bản khai; lời khai của Phạm Thị N2 phù hợp với lời khai của các bị cáo và tình tiết vụ án nên việc Phạm Thị N2 vắng mặt tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người có quyền và nghĩa vụ liên quan; khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố bản khiai của Phạm Thị N2.
[2] Tại Cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa bị cáo Võ Hoàng N và Nguyễn Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, như sau:
Võ Hoàng N hành nghề môi giới và kinh doanh bất động sản, với mục đích giảm số tiền thuế thu nhập cá nhân phải nộp cho Nhà nước khi giao dịch bất động sản, N đã nảy sinh ý định khi giao dich chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Khách hàng thì N kê khai số tiền chuyển nhượng thấp hơn so với thực tế. Năm 2020, sau khi đặt cọc trước cho Nguyễn Thị H số tiền 1.250.000.000 đồng thì N được H giao cho quyền bán 32 lô đất của H. Sau đó, trong quá trình chuyển nhượng 32 lô đất của Nguyễn Thị H cho khách hàng thì N chỉ kê khai tổng số tiền chuyển nhượng là 935.153.084 đồng, trong khi số tiền thực tế Nam nhận được từ 32 lô đất trên là 21.825.000.000 đồng. Việc khai báo gian dối như trên của N đã gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước số tiền: 513.151.825 đồng.
Quá trình điều tra xác định, Nguyễn Thị H khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 32 lô đất do H đứng tên cho khách hàng của N đã biết việc N kê khai số tiền chuyển nhượng thấp hơn rất nhiều so với giá bán thực tế nhưng H vẫn đồng ý ký các hợp đồng trên để giảm số tiền thuế thu nhập cá nhân mà H và N phải nộp. Do vậy, Hành vi trên của Võ Hoàng N và Nguyễn Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn thuế”.
Đối với Phạm Thị Ngọc K ký hợp đồng chuyển nhượng 05 thửa đất cho khách hàng của Võ Hoàng N, N2 biết N kê khai số tiền chuyển nhượng thấp hơn giá trị thực tế chuyển nhượng để trốn thuế thu nhập cá nhân số tiền là: 64.153.084 đồng. Hành vi của N2 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm (không đủ định lượng), do đó không có căn cứ để xử lý hình sự đối với N2 về hành vi trốn thuế. Cơ quan CSĐT - Công an huyện H đã chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan đến Chi cục thuế khu vực B - H để xử lý theo thẩm quyền. Chi cục thuế khu vực B đã ra quyết định xử phạt hành chính số 353/QĐ-XPHC ngày 16/10/2024 xử phạt hành chính Phạm Thị N2 và buộc Phạm Thị N2 có nghĩa vụ nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền trốn thuế là 64.153.084 đồng là đúng quy định.
[3] Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo: Xét hành vi của các bị cáo tuy đơn giản nhưng đã xâm phạm đến trật tự quản lý về thuế do Nhà nước thống nhất quản lý, đã có hành vi kê khai số tiền sang nhượng 32 lô đất của Nguyễn Thị H cho khách hàng thì N chỉ kê khai tổng số tiền chuyển nhượng là 935.153.084 đồng, trong khi số tiền thực tế Nam nhận được từ 32 lô đất trên là 21.825.000.000 đồng và 05 thửa đất thuộc tờ bản đồ số 34 tọa lạc tại khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước của Phạm Thị N2 với giá trị chuyển nhượng là: 2.200.000.000 đồng. Việc khai báo gian dối như trên của N đã gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước số tiền: 513.151.825 đồng, làm cho quần chúng nhân dân mất lòng tin vào chính quyền khi để tệ nạn xã hội xảy ra tại địa phương ngày càng nhiều.
[4] Xét chủ thể, động cơ và mục đích phạm tội của các bị cáo thấy rằng, các bị cáo đều là người đầy đủ năng lực hành vi để nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật, thế nhưng các bị cáo bất chấp hậu quả để thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Thực hiện tội phạm với mục đích việc khai báo tiền sang nhượng đất không trung thực.
[5] Xét hành vi khách quan của tội phạm thì vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, không có tổ chức chặt chẽ cho từng bị cáo. Tuy nhiên, để cá thể hóa hình phạt cho từng bị cáo thì phải xem xét vai trò cụ thể của mỗi bị cáo khi thực hiện tội phạm:
Đối với bị cáo Võ Hoàng N thoả thuận đặt cọc chuyển nhượng 32 thửa đất thuộc tờ bản đồ số 34 tọa lạc tại khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước của Nguyễn Thị H với tổng giá trị là: 13.000.000.000 đồng và 05 thửa đất thuộc tờ bản đồ số 34 tọa lạc tại khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước của Phạm Thị N2 với giá trị chuyển nhượng là: 2.200.000.000 đồng. N thoả thuận với H và N2 là N sẽ đặt cọc trước cho H và N2 một số tiền, sau đó N được quyền rao bán các thửa đất trên, khi có người mua thì H và N2 ký hợp đồng chuyển nhượng cho họ và N sẽ dùng số tiền đó trả cho H và N2 cho đến khi đủ số tiền mà các bên thoả thuận thì H và N2 đồng ý.
Các thửa đất có giá trị từ 300.000.000 đồng đến 700.000.000 đồng nhưng chỉ lập hợp đồng chuyển nhượng giá trị chỉ từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng để thu lợi bất chính, làm thất thoát thuế nhà nước số tiền 115.037.574 đồng nên xác định bị cáo N là chủ mưu nên phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc nhất trong các đồng phạm
Đối với bị cáo H là chủ của 32 thửa đất gồm: 987, 988, 996, 998, 990, 999, 1002, 972, 992, 993, 994, 968, 997, 973, 967, 1000, 989, 969, 965, 963, 995, 977, 975, 974, 970, 986, 976, 964, 966, 971, 1001, 985 tờ bản đồ số 34 toạ lạc tại khu phố B, thị trấn T, huyện H, đã đồng ý với N để ký chuyển nhượng cho khách hàng của N dẫn (người thứ 3) các thửa đất mà mình trước đó đã bán cho N nhưng mới nhận tiền cọc nhưng chưa làm hợp đồng chuyển nhượng theo quy định để N nhận tiền bán được từ đất trả cho H và Nguyễn Thị H trực tiếp ký hồ sơ chuyển nhượng cho khách hàng 23 thửa đất, N và H trực tiếp đứng tên ký hồ sơ chuyển nhượng cho khách hàng là 09 thửa đất (thửa số 969, 977, 970, 985, 986, 968, 993, 994, 996) đã thu lợi bất chính, làm thất thu thuế nhà nước số tiền 398.114.251 (Ba trăm chín mươi tám triệu một trăm mười bốn nghìn hai trăm năm mốt) đồng nên bị cáo H là đồng phạm giúp sức bằng việc ký chuyển nhượng cho khách hàng của N và H trốn thuế nhà nước.
[6] Ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về phần tội danh, điều khoản truy tố cũng như mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội phạm vi phạm trật tự quản lý về thuế, tài chính mà cụ thể là các bị cáo khai trong hợp đồng sang nhượng thấp hơn giá trị thực tế để nộp thuế thấp gây thất thoát về thu thuế cho nhà nước, hành vi của các bị cáo nguy hiểm cần có mức hình phạt tương xứng với hành của các bị cáo gây ra.
[8] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo có nhân thân tốt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo và áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để xử phạt các bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cũng đủ tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[9] Các bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên Hội đồng xét xử đã căn nhắc đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 4 Điều 200 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
[10] Thiệt hại cho ngân sách Nhà nước:
Bị cáo Võ Hoàng N có hành vi trốn thuế làm thiệt hại cho ngân sách Nhà nước số tiền 115.037.574 đồng; Nguyễn Thị H số tiền 398.114.251 đồng nên cần truy thu đối với các bị cáo số tiền trên, nộp ngân sách Nhà nước.
Tại phiên tòa các bị cáo thống nhất thỏa thuận để Võ Hoàng N nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo trốn thuế, tổng cộng là 513.151.825 đồng và đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Hội đồng xét xử xét thấy, số tiền trốn thuế của các là thuộc Ngân sách Nhà nước, gây thiệt hại đến tài sản nhà nước nên đây thuộc trường hợp không được hòa giải, thỏa thuận theo quy định tại Điều 206 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, việc thỏa thuận để bị cáo Võ Hoàng N nhận trách nhiệm nộp lại toàn bộ số tiền dã gây thiệt hại vào Ngân sách nhà nước là không phù hợp nên không được chấp nhận.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử truy thu liên đới đối với các bị cáo số tiền 513.151.825 đồng là chưa chính xác và khó thi hành án nên cần truy thu theo phần của từng bị cáo đối với số tiền do mình gây thất thoát cho ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Đối với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật đối với việc chuyển nhượng quyền sử dụng các thửa đất mà N, H chuyển nhượng cho khách hàng, gồm 32 hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng các thửa đất số: 987, 988, 996, 998, 990, 999, 1002, 972, 992, 993, 994, 968, 997, 973, 967, 1000, 989, 969, 965, 963, 995, 977, 975, 974, 970, 986, 976, 964, 966, 971, 1001, 985 tờ bản đồ số 34 toạ lạc tại khu phố B, thị trấn T, huyện H.
Đối với Chi cục Thuế khu vực B – H, đã xác định nghĩa vụ thuế về đất đai đối với 32 hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng các thửa đất số: 987, 988, 996, 998, 990, 999, 1002, 972, 992, 993, 994, 968, 997, 973, 967, 1000, 989, 969, 965, 963, 995, 977, 975, 974, 970, 986, 976, 964, 966, 971, 1001, 985 tờ bản đồ số 34 toạ lạc tại khu phố B, thị trấn T, huyện H đúng trình tự, thủ tục, thời gian theo quy định của pháp luật, không có dấu hiệu vi phạm pháp luật, nên không xử lý.
[11] Vật chứng vụ án không có nên không xem xét.
[12] Án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[13] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh và hình phạt là có căn cứ, phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận. Đối với đề nghị truy thu của các bị cáo số tiền bị thất thoát của Nhà nước là có căn cứ. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử buộc truy thu liên đới đối với các bị cáo số tiền thất thoát để nộp vào ngân sách Nhà nước là chưa phù hợp và khó thi hành; cần buộc các bị cáo nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền trốn thuế theo phần để đảm bảo thi hành án nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát được chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tội danh: Tuyên bố các bị cáo Võ Hoàng N, Nguyễn Thị H phạm tội “Trốn thuế”.
2. Điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 200; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58, 54 và Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Võ Hoàng N hình phạt tiền là hình phạt chính với số tiền 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H hình phạt tiền là hình phạt chính với số tiền 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng.
3. Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Buộc bị cáo Võ Hoàng N phải nộp vào kho bạc Nhà nước huyện H, tỉnh Bình Phước số tiền 115.037.574 (Một trăm mười lăm triệu không trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm bảy mươi tư) đồng tiền trốn thuế.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp vào kho bạc Nhà nước huyện H, tỉnh Bình Phước số tiền 398.114.251 (Ba trăm chín mươi tám triệu một trăm mười bốn nghìn hai trăm năm mươi mốt) đồng tiền trốn thuế.
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q2;
Các bị cáo Võ Hoàng N và Nguyễn Thị H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2014. Trừ những trường hợp không được thỏa thuận về thi hành án theo quy định.
Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Học |
Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự - trốn thuế
- Số bản án: 95/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trốn thuế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ok
