Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/HS-ST

Ngày 05-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Phú Hữu
  2. Ông Nguyễn Hồng Thơ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 96/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 599/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Ngọc Anh T, sinh năm 1983, tại Phú Yên; Nơi thường trú: Số B, Đỗ Ngọc Q, phường D, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện nay: Số B, đường H, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Chăm sóc da; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Trần Ngọc H sinh năm 1951 và bà: Nguyễn Thị Bạch T1, sinh năm 1955; Chồng: Nguyễn Minh T2, sinh năm 1976 (đang ly thân); Có một con sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 02/7/2024; Tạm giam ngày 11/7/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Thị Trúc Q1, sinh năm 1997 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người làm chứng: Hà Hoàng N, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Tổ A, Ấp Tịnh H1, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Ngọc Anh T sinh ngày 19/4/1983, ngụ số B, Đỗ Ngọc Q, phường D, quận H, thành phố Hồ chí Minh đến ngày 20/10/2023 Thy thuê nhà số B, Hồ Thị T3, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp của ông Hà Hoàng N để mở tiệm thẩm mỹ làm dịch vụ chăm sóc da.

Khoảng tháng 3/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, T được bạn bè ngoài xã hội giới thiệu gặp người nam tên S không rõ nhân thân địa chỉ, hỏi mua ma túy với giá 200.000 đồng, người này đồng ý bán và tặng cho cân điện tử, dụng cụ sử dụng ma túy nhưng T sử dụng một lần thì nghỉ. Do cửa tiệm vắng khách, cần tiền chi tiêu sinh hoạt nên T nảy sinh ý định mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời trang trải sinh hoạt. Khoảng 09 giờ ngày 24/6/2024 T đi chợ tại khu vực đường T xã T, thành phố C thì gặp S hỏi mua 3.000.000 đồng, S đồng ý và hẹn giao ma túy lúc 18 giờ ngày 25/6/2024 trên đường T, cách Ủy ban nhân dân xã T khoảng 01 km hướng về Phường F. Sau đó, T đến điểm hẹn trả cho S số tiền 3.000.000 đồng và S giao cho T 03 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp có viền màu đỏ S nói bên trong chứa ma túy đá nhưng T không có kiểm tra. Sau khi nhận được ma túy T mang về nhà thuê tại địa chỉ nêu trên để tất cả vào túi nylon màu đen cất giấu dưới nền nhà trong phòng ngủ.

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 02/7/2024 Trần Thị Trúc Q1 là khách làm đẹp tại tiệm của T4 nhắn tin qua mạng xã hội Zalo tên tài khoản “Ngọc Thy” trên điện thoại di động hiệu Samsung màu đen của Trần Ngọc Anh T hỏi mua ma túy với giá 200.000 đồng, T đồng ý và hẹn giao ma túy tại tiệm của T. Khoảng 30 phút sau Q1 đến, T lấy 01 tép ma túy (đoạn ống hút màu xanh trắng) được quấn trong bông tẩy trang màu trắng giao cho Q1 và nhận số tiền là 200.000 đồng gồm 02 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000 đồng cất giấu vào bên trong túi quần bên phải, Q1 còn cầm tép ma túy trên tay trái thì bị Phòng Cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy Công an tỉnh Đ phối hợp Công an thành phố C kiểm tra bắt quả tang T đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ các tang vật gồm:

  • Tay trái Q1 đang cầm (giữ) một tép ma túy được quấn bông tẩy trang màu trắng, bên trong có một đoạn ống hút nhựa màu xanh-trắng, hàn kín chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng được niêm phong ký hiệu A1. Q1 khai nhận là ma túy đá, vừa mua của T với số tiền 200.000 đồng.
  • Bên trong túi quần phía trước, bên phải của T đang mặc, có số tiền Việt Nam 200.000 đồng (gồm hai tờ tiền cùng mệnh giá 100.000 đồng). T khai nhận là tiền vừa bán ma túy đá cho Q1, đã niêm phong ghi ký hiệu A2.
  • Tại phòng ngủ của T, tạm giữ: 01 bịch nylon màu đen, trên nền gạch, cạnh cửa ra vào. Bên trong bịch nylon màu đen này có:
    • 01 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp kín, viền màu đỏ, bên trong có chứa 02 đoạn ống hút nhựa, hàn kín, màu xanh-trắng đều có chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng.
    • 01 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp kín, viền màu đỏ, bên trong có chứa 05 đoạn ống hút nhựa, hàn kín, màu xanh-trắng đều có chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng.
    • 01 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp kín, viền màu đỏ, bên trong có chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng.

T khai nhận tất cả đều là ma túy đá mua của S để bán lại cho người nghiện, tất cả 03 bịch nylon trên được niêm phong ghi ký hiệu A3.

  • 01 cân điện tử, màu trắng, không rõ nhãn hiệu; 01 kéo bằng kim loại màu trắng, có cán bằng nhựa màu đen; 01 chai gas, loại nhỏ, nhãn hiệu NaMilux; 02 bật lửa gas; 01 chai nhựa màu trắng, bên ngoài được quấn băng keo màu đen, có nắp bằng nhựa màu đỏ. Trên nắp có khoét 02 lỗ, trong đó một lỗ gắn với một nỏ thủy tinh, một lỗ gắn với một đoạn ống hút bằng màu trắng; 10 bông tẩy trang, màu trắng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu đen T sử dụng để liên lạc bán ma túy, tất cả đã qua sử dụng.

Ngoài ra, sau khi bị bắt quả tang T khai nhận vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 01/7/2024 Q1 nhắn tin qua Z tên tài khoản “Ngọc Thy” hỏi mua ma túy với giá 200.000 đồng, T đồng ý và hẹn giao ma túy tại tiệm của T. Sau đó, T kiểm tra 03 bịch ma túy đã mua, trong đó có 01 bịch nylon màu trắng dạng túi kẹp có viền màu đỏ bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng, 01 bịch nylon màu trắng bên trong chứa 04 (tép) đoạn ống hút nhựa màu xanh trắng hàn kín 02 đầu bên trong chứa nhiều tinh thể màu trắng và 01 bịch nylon màu trắng bên trong chứa 05 đoạn ống hút nhựa màu xanh trắng hàn kín 02 đầu bên trong chứa nhiều tinh thể màu trắng tất cả là ma túy đá. Khoảng 30 phút sau thì Q1 đến nhà trọ, T lấy 01 tép ma túy nói trên quấn vào bông tẩy trang màu trắng giao cho Q1 và nhận số tiền bán ma túy là 200.000 đồng, Q1 mang ma túy về nhà một mình sử dụng hết.

- Tại Bản kết luận giám định số 911/KL-KTHS, ngày 10/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận:

  • Tinh thể rắn màu trắng chứa trong đoạn ống hút nhựa màu xanh trắng hàn kín, được niêm phong trong bao thư màu trắng ký hiệu A1, là chất ma túy, có khối lượng 0,030gam, loại Methamphetamine, đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
  • Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 07 đoạn ống hút nhựa màu xanh trắng hàn kín và tinh thể rắn chứa trong bịch nylon màu trắng dang nắp kẹp viền đỏ kẹp kín, được niêm phong trong bao thư màu trắng ký hiệu A3, là chất ma túy, có khối lượng 3,955 gam, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định là 3,561 gam.

- Căn cứ Kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Công an thành phố C ngày 02/7/2024, kết quả: Trần Ngọc Anh T âm tính với chất ma túy Methamphetamine.

Quá trình điều tra Trần Ngọc Anh T thừa nhận hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy phù hợp với lời khai người liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu tại hiện trường, kết luận giám định, hiện trường và các chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án như nội dung đã nêu trên.

Tại cáo trạng số 93/CT-VKS-TPCL ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh truy tố bị cáo Trần Ngọc Anh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân nhân thành phố C giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc Anh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Trần Ngọc Anh T với mức án từ 07 năm tù đến 08 năm tù.
  • Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.

* Tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc Anh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù phù hợp với lời khai người liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu tại hiện trường, kết luận giám định, hiện trường, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định:

Do cần tiền để chi tiêu sinh hoạt cá nhân, T nảy sinh ý định mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời. Ngày 01/7/2024 T bán ma túy cho Trần Thị Trúc Q1 01 lần thu lợi bất chính số tiền 200.000 đồng, đến ngày 02/7/2024 T tiếp tục bán ma túy cho Q1 lần thứ 2, thu lợi bất chính số tiền 200.000 đồng, thì bị bắt quả tang vào lúc 10 giờ 40 phút cùng ngày tại nhà số B, Hồ Thị T3, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Tạm giữ số tiền bán ma túy là 200.000 đồng, chất ma túy có khối lượng 3,985 gam, loại Methamphetamine, mục đích tàng trữ để mua bán và vật chứng có liên quan.

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Ngọc Anh T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

b) Phạm tội 02 lần trở lên”...

Xét về hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, ma túy đang là tệ nạn của xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của mỗi con người, mỗi gia đình và toàn xã hội. Khi thực hiện tội phạm, bị cáo đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ tư lợi, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, bất chấp hậu quả do hành vi của mình gây ra cho xã hội nên đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên. Chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội sau này, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:

  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự thú hành vi đã bán ma túy trước đó, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, r khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Đối với 01 (một) bao thư được niêm phong, trên niêm phong ghi “Niêm phong số: 906/A1, ngày 02/7/2024” bên trong chứa 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh – trắng và tâm bông tẩy trang màu trắng, chất ma túy đã sử dụng hết vào việc giám định; 01 (một) bao thư được niêm phong, trên niêm phong ghi “Niêm phong số: 906/A3, ngày 02/7/2024” bên trong chứa 07 đoạn ống hút nhựa màu xanh – trắng và 01 bịch nylon dạng nắp kẹp, có viền màu đỏ kẹp kín, chứa chất ma túy còn lại sau giám định có trọng lượng 3,561 gam, loại Methamphetamine, là vật mà Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 (một) bao thư được niêm phong, trên niêm phong ghi ký hiệu “A2” ngày 02/7/2024, bên trong chứa số tiền Việt Nam 200.000 đồng, gồm 02 tờ giấy bạc mệnh giá 100.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu đen, bên trong có một sim số điện thoại (đã qua sử dụng), không kiểm tra chất lượng bên trong, là vật liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • Đối với 01 (một) bịch nylon màu đen (đã qua sử dụng); 01 (một) cân điện tử màu trắng, không rõ nhãn hiệu (đã qua sử dụng); 01 (một) kéo bằng kim loại, màu trắng, có cán bằng nhựa màu đen (đã qua sử dụng); 10 (mười) bông tẩy trang màu trắng (chưa qua sử dụng), 01 (một) chai nhựa màu trắng; bên ngoài được quân băng keo màu đen, có nắp nhựa màu đỏ, trên nắp có hai lỗ tròn, trong đó một lỗ gắn với một nỏ thủy tinh, một lỗ gắn với một ống hút nhựa màu trắng (đã qua sử dụng); 02 (hai) bật lửa gas (đã qua sử dụng); 01 (một) chai gas, loại nhỏ, nhãn hiệu NaMilux (đã qua sử dụng), là vật liên quan đến việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Buộc bị cáo T nộp lại số tiền thu lợi bất chính 200.000 đồng do bán ma túy, tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

(Hiện vật chứng đang được Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh tạm quản lý, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/11/2024).

[6] Các vấn đề khác:

  • Đối với Trần Thị Trúc Q1 có hành vi mua ma túy của T, mục đích tàng trữ để sử dụng nhưng khối lượng ma túy tàng trữ là 0,030gam dưới định lượng, nhân thân không có tiền án, tiền sự liên quan đến ma túy nên không đủ căn cứ để xử lý hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã tách hồ sơ chuyển xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.
  • Đối với người nam tên S bán ma túy cho T, do không rõ nhân thân địa chỉ nên không làm việc được. Đối với ông Hà Hoàng N cho bị cáo T thuê nhà trọ để mở tiệm thẩm mỹ. Do không ở chung nhà, việc T bán ma túy Như không biết nên không đủ căn cứ để xử lý.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tại phiên tòa, như đã phân tích nêu trên là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc Anh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc Anh T 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/7/2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Buộc bị cáo Trần Ngọc A Thy nộp lại số tiền thu lợi bất chính 200.000 đồng do bán ma túy, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) bao thư được niêm phong, trên niêm phong ghi ký hiệu “A2” ngày 02/7/2024, bên trong chứa số tiền Việt Nam 200.000 đồng, gồm 02 tờ giấy bạc mệnh giá 100.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu đen, bên trong có một sim số điện thoại (đã qua sử dụng), không kiểm tra chất lượng bên trong.
  • Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bao thư được niêm phong, trên niêm phong ghi “Niêm phong số: 906/A1, ngày 02/7/2024” bên trong chứa 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh – trắng và tâm bông tẩy trang màu trắng, chất ma túy đã sử dụng hết vào việc giám định; 01 (một) bao thư được niêm phong, trên niêm phong ghi “Niêm phong số: 906/A3, ngày 02/7/2024” bên trong chứa 07 đoạn ống hút nhựa màu xanh – trắng và 01 bịch nylon dạng nắp kẹp, có viền màu đỏ kẹp kín, chứa chất ma túy còn lại sau giám định có trọng lượng 3,561 gam, loại Methamphetamine; 01 (một) bịch nylon màu đen (đã qua sử dụng); 01 (một) cân điện tử màu trắng, không rõ nhãn hiệu (đã qua sử dụng); 01 (một) kéo bằng kim loại, màu trắng, có cán bằng nhựa màu đen (đã qua sử dụng); 10 (mười) bông tẩy trang màu trắng (chưa qua sử dụng), 01 (một) chai nhựa màu trắng; bên ngoài được quân băng keo màu đen, có nắp nhựa màu đỏ, trên nắp có hai lỗ tròn, trong đó một lỗ gắn với một nỏ thủy tinh, một lỗ gắn với một ống hút nhựa màu trắng (đã qua sử dụng); 02 (hai) bật lửa gas (đã qua sử dụng); 01 (một) chai gas, loại nhỏ, nhãn hiệu NaMilux (đã qua sử dụng).

(Hiện vật chứng đang được Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh tạm quản lý, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/11/2024).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Ngọc Anh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND TPCL;
  • - VKDND tỉnh Đồng Tháp;
  • - CQĐT Công an TPCL;
  • - CQTHAHS Công an TPCL;
  • - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 95/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger