TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG *** | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc *** |
Bản án số:95/2024/HS-ST Ngày: 30/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sỹ Thông, ông Nguyễn Tiến Tịnh
Thư ký phiên toà: Ông Đinh Thế Toàn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Mil.
Đại diện VKSND huyện Đắk Mil tham gia phiên toà: Ông Phạm Anh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 30/11/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Mil mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 102/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Thanh Hải; sinh năm 1990; tại: tỉnh Hưng Yên; nơi ĐKHKTT và trú tại: Thôn Hoàng Xuyên, xã Văn Nhuệ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đoan, sinh năm 1966 và bà Cù Thị Tĩnh, sinh năm 1968; vợ là Vũ Thị Khánh, sinh năm 2002; có hai con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022; trú tại: Thôn Hoàng Xuyên, xã Văn Nhuệ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 103/2013/HSST, ngày 06/12/2013 của Toà án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 06 năm tù về tội cướp giật tài sản, quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Ngày 27/4/2018 chấp hành xong hình phạt (đã được xoá án tích); bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2024. (có mặt)
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Lệ Chi, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn Thuận Thành, xã Thuận An, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Phạm Văn Kiệt, sinh năm 2007; Địa chỉ: Thôn Từ Ô, xã Tân Trào, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Văn Tiếp và bà Phạm Thị Hường
Địa chỉ: Thôn Từ Ô, xã Tân Trào, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. (vắng mặt)
2. Anh Phạm Thế Hơn, sinh năm 2008; Địa chỉ: Thôn Từ Ô, xã Tân Trào, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Văn Hào và bà Phạm Thị Vu
Địa chỉ: Thôn Từ Ô, xã Tân Trào, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. (vắng mặt)
3. Anh Nguyễn Anh Thắng, sinh năm 2007; Địa chỉ: Thôn An Xá, xã Tân Trào, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn Toàn, bà Nguyễn Thị Hoa
Địa chỉ: Thôn An Xá, xã Tân Trào, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. (vắng mặt)
4. Anh Nguyễn Văn Tới, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn Hoàng Xuyên, xã Văn Nhuệ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt)
5. Ông Hoàng Ngọc Linh Vương, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn Thuận Thành, xã Thuận An, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. (có mặt)
6. Chị Vũ Thị Khánh, sinh năm 2002; Địa chỉ: Thôn Hoàng Xuyên, xã Văn Nhuệ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt)
7. Bà Nguyễn Thị Luận, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số 30 Phạm Ngũ Lão, thị trấn Ân Thi, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt)
8. Bà Trương Thị Kính, sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn Đức An, xã Thuận An, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. (có mặt)
9. Ông Hầu Mỹ Thúng, sinh năm 1984; Địa chỉ: Xã Mậu Duệ, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang. (vắng mặt)
10. Anh Đoàn Văn Vĩnh, sinh năm 1992; Địa chỉ: Tổ dân phố Vũ Đức, thị trấn Cồn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. (vắng mặt)
11. Chị Lý Thị Măng, sinh năm 1989; Địa chỉ: Khóm 7, xã Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
12. Anh Vũ Bảo Khanh, sinh năm 2008; Địa chỉ: Thôn Từ Ô, xã Tân Trào, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp: Ông Vũ Văn Tề và bà Vũ Thị Lượn
Địa chỉ: Thôn Từ Ô, xã Tân Trào, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. (vắng mặt)
13. Anh Lê Văn Sơn, sinh năm 2008; Địa chỉ: Thôn Từ Ô, xã Tân Trào, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Văn Thưởng, bà Trần Thị Chuyên
Địa chỉ: Thôn Từ Ô, xã Tân Trào, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.(vắng mặt)
14. Chị Nguyễn Thị Ngát, sinh năm 2000; Địa chỉ: Thôn Mai Xuyên, thị trấn Ân Thi, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt)
15. Ông Nguyễn Văn Đình, sinh năm 1975; Địa chỉ: Khối Ba Hà, thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào đầu năm 2024, Lê Thanh Hải nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của người khác để tiêu xài cá nhân. Sau khi tìm hiểu cách thức thực hiện, Hải nhờ những người mà Hải quen biết gồm Phạm Văn Kiệt, Phạm Thế Hơn, Nguyễn Văn Tới, Nguyễn Anh Thắng, Vũ Bảo Khanh, Lê Văn Sơn, Nguyễn Thị Ngát ra Ngân hàng đăng ký làm thẻ thanh toán. Lê Thanh Hải mua các sim điện thoại không chính chủ đưa cho những người này để đăng ký và yêu cầu đăng ký thêm số điện thoại 0948.618.xxx của Hải khi mở tài khoản ngân hàng, mục đích để Lê Thanh Hải có thể kiểm soát khi Ngân hàng báo có tiền vào tài khoản. Sau khi mở tài khoản ngân hàng xong những người này sẽ bán hoặc cho Hải mượn tài khoản và cung cấp toàn bộ thẻ, thông tin đăng nhập tài khoản cho Hải (Hải không nói cho những người này biết việc làm thẻ để lừa đảo chiếm đoạt tài sản). Hải trả cho Hơn 7.500.000 đồng và hứa với Kiệt khi nào có tiền sẽ chia cho Kiệt. Sau đó Hải sử dụng điện thoại Iphone 8 Plus để đăng nhập tài khoản mạng xã hội Facebook “Hoàng Long” và “Hoàng Quốc Trung” đăng bài trên trang mua, bán thẻ ngân hàng trên ứng dụng Facebook và Telegram cho các đối tượng lừa đảo trên không gian mạng. Mục đích khi các đối tượng lừa được bị hại chuyển tiền đến các tài khoản ngân hàng do Hải quản lý, Hải sẽ gọi cho tổng đài của ngân hàng để khóa tạm thời giao dịch rồi nhờ chủ tài khoản đi rút tiền về đưa cho Hải.
Đầu tháng 02/2024, tài khoản mạng xã hội Telegram tên “Zangbac Zangbac" nhắn tin cho Lê Thanh Hải đặt mua 03 tài khoản Ngân hàng Hải đồng ý và báo giá 500.000 đồng/thẻ. Lê Thanh Hải bán tài khoản Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (TMCP Ngoại thương Việt Nam) số 1032201339 mang tên Phạm Văn Kiệt; tài khoản Ngân hàng TMCP Á Châu (ACBbank) số 39877457 mang tên Phạm Thế Hơn và tài khoản Ngân hàng TMCP Vietcombank số 1033295175 mang tên Nguyễn Văn Tới và gửi cho đối tượng trên thông qua địa chỉ “người nhận Phạm Hồng Quân, địa chỉ khối 10, phường Trung Đô, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, số điện thoại 0931.387.xxx."
Vào khoảng 16 giờ 00 ngày 10/4/2024, đối tượng tên Toàn (chưa rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng số điện thoại 0359.468.xxx liên hệ với anh Hoàng Ngọc Linh Vương (sinh năm 1980) cùng vợ là Nguyễn Thị Lệ Chi (sinh năm 1980, cùng trú tại thôn Thuận Thành, xã Thuận An) để đặt mua vật liệu xây dựng và hẹn giao tại Trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở và Trung học phổ thông huyện Đắk Mil thì anh Vương và chị Chi đồng ý. Sau đó, Toàn nhờ chị Chi liên hệ với đối tượng tên Phương (chưa rõ nhân thân, lai lịch, tự xưng nhân viên là TNHH Thương mại 68 Việt Nam, có trụ sở ở xã Cư Êbur, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk) qua số điện thoại 0389.611.xxx đặt mua mua 100 cái giường và 200 cái nệm cao su non với giá là 450.000.000 đồng, đồng thời tạo các tin nhắn giả của Ngân hàng đã chuyển tiền vào tài khoản của chị Chi với số tiền 890.000.000 đồng và yêu cầu chị Chi đặt cọc tiền vào tài khoản Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam số [...] mang tên Phạm Văn Kiệt.
Sáng ngày 11/4/2024 chị Nguyễn Thị Lệ Chi dùng tài khoản Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam số 1028834332 chuyển 44.000.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam số 1032201339 tên Phạm Văn Kiệt và nhờ bà Trương Thị Kính (sinh năm 1970, trú tại thôn Đức An, xã Thuận An, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông) chuyển 155.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam số 1032201339 tên Phạm Văn Kiệt. Sau đó, 01 đối tượng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) dùng số điện thoại 0357.352.xxx tự xưng là tài xế đang chở hàng đi giao cho Trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở và Trung học phổ thông huyện Đắk Mil và yêu cầu chị Chi chuyển khoản tiếp 100.000.000 đồng vào tài khoản Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số 3609205499501 tên Nguyễn Văn Đình.
Cùng thời điểm ngày 11/4/2024 khi chị Chi và bà Kính chuyển tiền vào tài khoản Phạm Văn Kiệt, Lê Thanh Hải thấy có 04 tin nhắn về Sim số 0948618490 và 0363771348 phát sinh có các khoản tiền gửi vào tài khoản của Kiệt với nội dung Chi cọc tiền hàng lần lượt là 4.000.000 đồng; 40.000.000 đồng; 105.000.000 đồng; 50.000.000 đồng, tổng cộng 199.000.000 đồng. Số tiền trên được các đối tượng đã mua tài khoản chuyển tiếp đến tài khoản của Phạm Thế Hơn, từ tài khoản của Hơn số tiền tiếp tục được chuyển đến tài khoản của Nguyễn Văn Tới. Lê Thanh Hải gọi điện tổng đài của các ngân hàng để yêu cầu tạm dừng các giao dịch liên quan đến tài khoản của Kiệt và Tới; nhập mật khẩu 5 lần không đúng để khóa tài khoản của Hơn. Sau đó Hải nhờ Kiệt cầm căn cước công dân ra ngân hàng rút được 51.950.000 đồng và cho Kiệt 22.000.000 đồng; nhờ Hơn ra ngân hàng đăng ký lại Banking để đưa lại mã đăng nhập cho Hải, Hải kiểm tra tài khoản của Hơn có số tiền 108.500.000 đồng nên đến Cửa hàng điện thoại và dịch vụ chuyển tiền Gia Minh của Nguyễn Thị Luận (sinh năm 1984) tại số nhà 30, đường Phạm Ngũ Lão, thị trấn Ân Thi, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên chuyển số tiền 108.500.000 đồng sang cho chị Luận để nhận tiền mặt. Lê Thanh Hải nhờ Nguyễn Văn Tới kiểm tra tài khoản và rút 38.000.000 đồng. Số tiền 550.000 đồng luân chuyển trong tài khoản Hải không rút.
Bản Cáo trạng số 100/CT-VKS (ĐM) ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil đã truy tố bị cáo Lê Thanh Hải về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh Hải đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích tính chất vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Thanh Hải về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lê Thanh Hải phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo từ 4 (bốn) năm đến 4 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của BLTTHS; Áp dụng Điều 47 BLHS, đề nghị:
- - Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, màu xám, dung lượng 256GB cho Phạm Văn Kiệt là chủ sử hữu hợp pháp.
- - Đối với số tiền thu giữ trong giai đoạn điều tra là 323.020.000 đồng:
- + Trả lại cho chị Nguyễn Thị Lệ Chi 22.000.000 đồng Phạm Văn Kiệt nộp lại do Kiệt được bị cáo cho sau khi thực hiện hành vi chiếm đoạt.
- + Trả cho chị Nguyễn Thị Lệ Chi số tiền 177.000.000 đồng bị cáo và gia đình đã nộp để khắc phục bồi thường trong giai đoạn điều tra.
- + Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước số tiền 7.500.000 đồng Phạm Thế Hơn nộp lại do Hơn được lợi khi bán tài khoản ngân hàng cho bị cáo.
- + Trả lại cho chị Vũ Thị Khánh số tiền 116.520.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- - Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước 02 điện thoại nhãn hiệu nokia 1280, màu đen; 01 điện thoại nhãn hiệu nokia, màu xanh, IMEI1 là 358589293655205, IMEI2 là 358589293655213; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu Gold là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
- - Trả lại cho bị cáo Lê Thanh Hải 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, bên trong gắn sim số 0927.635.999; 01 thẻ Ngân hàng TMCP Quân đội số 4089041040975823 và 01 thẻ Ngân hàng TMCP Quân đội số 4089041000750539 mang tên Lê Thanh Hải do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- - Tịch thu, tiêu huỷ các sim số 0948.618.490, 0397.159.861 do không còn giá trị sử dụng.
- - Đối với sim số 0363.771.348 do không thu giữ được nên không đề cập giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, Điều 584, Điều 589 BLDS chấp nhận trong quá trình điều tra, bị cáo và gia đình đã nộp khắc phục số tiền 177.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại cho bị hại.
Các vấn đề khác:
Đối với số điện thoại 0357.352.xxx do Hầu Mỹ Thúng (sinh năm 1984, trú tại xã Mậu Duệ, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang) là người đăng ký sim nhưng không sử dụng; số 0359.468.490 do Đoàn Văn Vĩnh (sinh năm 1992, trú tại tổ dân phố Vũ Đức, thị trấn Cồn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định) là người đăng ký sim nhưng không sử dụng; số 0389.611.360 do Lý Thị Măng (sinh năm 1989, trú tại khóm 7, xã Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau) là người đăng ký sim nhưng không sử dụng. Vị trí phát sinh các cuộc gọi đều xuất phát từ khu vực cửa khẩu Mộc Bài, tỉnh Tây Ninh. Công ty TNHH Thương mại 68 Việt Nam không có trụ sở ở xã Cư EaBua, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk nên không có căn cứ để xử lý đối với Hầu Mỹ Thúng, Đoàn Văn Vĩnh, Lý Thị Măng. Đối với các đối tượng sử dụng số điện thoại trên để lừa đảo chị Nguyễn Thị Lệ Chi, Cơ quan Cánh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil tiếp tục điều tra, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
· Đối với Phạm Văn Kiệt, Phạm Thế Hơn, Nguyễn Văn Tới và Nguyễn Thị Luận do không biết tiền là do lừa đảo mà có nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
· Đối với Phạm Hồng Quân (có địa chỉ khối 10, phường Trung Đô, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An) theo thông tin người nhận mà đối tượng mua các tài khoản ngân hàng của Lê Thanh Hải cung cấp, qua quá trình xác minh không xác định được nhân thân lai lịch của Phạm Hồng Quân nên không có cơ sở để triệu tập làm việc.
- Đối với số điện thoại 0931.387.xxx chủ thuê bao là Nguyễn Văn Thắng (sinh ngày 10/5/1981, số CMCD 182332920, trú tại xã Hưng Lộc, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An), qua điều tra xác định là của Nguyễn Văn Thắng (sinh ngày sinh ngày 10/5/1981, số CMCD 182332920, số CCCD [...], trú tại xã Hưng Lĩnh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An), tuy nhiên, Thắng đi xuất khẩu lao động tại nước Cộng hoà Liên bang Đức, không xác định được địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với việc chị Nguyễn Thị Lệ Chi khai bị lừa đảo chiếm đoạt số tiền 100.000.000 đồng, quá trình điều tra xác định tài khoản Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam số 3609205499501 là của Nguyễn Văn Đình, sinh năm 1975, trú tại khối Ba Hà, thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên, ông Đình khai đã bán tài khoản cho một người không rõ nhân thân lai lịch nên không biết việc chị Chi chuyển số tiền 100.000.000 đồng vào tài khoản nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi mua bán, cho mượn tài khoản thanh toán của Lê Thanh Hải, Phạm Văn Kiệt, Phạm Thế Hơn, Nguyễn Văn Tới, Nguyễn Thị Ngát, Vũ Bảo Khanh, Lê Văn Sơn, Nguyễn Anh Thắng vi phạm điểm c khoản 15 Điều 14a Nghị định 143/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019) quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng) của Chính phủ nên Cơ quan điều tra chuyển xử lý hành chính.
Tại phiên toà, bị cáo không bào chữa, không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên; lời khai của bị cáo; lời khai của người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Mil, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh Hải đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc theo bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác và các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử xác định: Biết được các đối tượng lừa đảo qua mạng có nhu cầu mua tài khoản ngân hàng để thực hiện hành vi phạm tội, Lê Thanh Hải nhờ Phạm Văn Kiệt, Phạm Thế Hơn, Nguyễn Văn Tới mở tài khoản Ngân hàng tài khoản Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (TMCP Ngoại thương Việt Nam) số 1032201339 mang tên Phạm Văn Kiệt, tài khoản Ngân hàng TMCP Á Châu (ACBbank) số 39877457 mang tên Phạm Thế Hơn và tài khoản Ngân hàng TMCP Vietcombank số 1033295175 mang tên Nguyễn Văn Tới (đăng ký 02 Sim điện thoại, trong đó: 01 Sim giao cùng thẻ ngân hàng, 01 Sim giữ lại để nhận thông báo biến động số dư). Sau khi mở tài khoản ngân hàng xong những người này sẽ bán hoặc cho Hải mượn tài khoản và cung cấp toàn bộ thẻ, thông tin đăng nhập tài khoản cho Hải (Hải không nói cho những người này biết việc làm thẻ để lừa đảo chiếm đoạt tài sản). Lê Thanh Hải trả cho Phạm Thế Hơn 7.500.000 đồng và hứa hẹn khi nào có tiền sẽ chia cho Kiệt. Tháng 2/2024, Lê Thanh Hải bán 3 tài khoản này cho một đối tượng (chưa rõ nhân thân lai lịch) nhằm mục đích khi đối tượng này lừa đảo chiếm đoạt được tiền của các bị hại thì Lê Thanh Hải yêu cầu Ngân hàng tạm khóa giao dịch rồi rút tiền để chiếm đoạt. Với phương thức như trên, ngày 11/4/2024, tại thôn Thuận Thành, xã Thuận An, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, đối tượng tên Phương (chưa rõ nhân thân, lai lịch) nhờ chị Nguyễn Thị Lệ Chi đặt mua giường, nệm và đặt cọc 199.000.000 đồng chuyển vào tài khoản Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam số 1032201339 mang tên Phạm Văn Kiệt. Số tiền được luân chuyển qua tài khoản Ngân hàng TMCP Á Châu 39877457 mang tên Phạm Thế Hơn và tài khoản Ngân hàng Vietcombank 1033295175 mang tên Nguyễn Văn Tới. Lê Thanh Hải đã yêu cầu Ngân hàng khoá tài khoản rồi rút tổng cộng 198.450.000 đồng. Số tiền 550.000 đồng còn lại luân chuyển trong tài khoản bị cáo không rút. Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt là 199.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 BLHS.
Xét quan điểm buộc tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Lê Thanh Hải phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS.
Khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;”
[3] Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là công dân có đầy đủ nhận thức pháp luật để biết được quyền tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, được pháp luật bảo vệ, nhưng vì lười lao động muốn có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối bằng cách bán tài khoản ngân hàng cho các đối tượng cần mua để thực hiện hành vi lừa đảo, bị cáo vẫn chiếm quyền kiểm soát tài khoản thông qua số điện thoại đăng ký với Ngân hàng, sau khi các đối tượng lừa được bị hại chuyển 199.000.000 đồng vào tài khoản do bị cáo cung cấp, bị cáo liên hệ với Ngân hàng khóa tạm thời giao dịch và thực hiện việc rút số tiền trong tài khoản ra để chiếm đoạt. Hành vi của bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra.
[4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 103/2013/HSST, ngày 06/12/2013 của Toà án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 06 năm tù về tội cướp giật tài sản, quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Ngày 27/4/2018 chấp hành xong hình phạt (đã được xoá án tích).
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; bị cáo đã tác động gia đình khắc phục thiệt hại cho bị hại số tiền 177.000.000 đồng; toàn bộ số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại đã được khắc phục; tại phiên tòa bị hại đã xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo ông nội được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Tuy nhiên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo học tập, cải tạo, trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời răn đe phòng ngừa chung.
[7] Về xử lý vật chứng vụ án: căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự:
- - Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, màu xám, dung lượng 256GB cho Phạm Văn Kiệt là chủ sử hữu hợp pháp là phù hợp nên cần chấp nhận.
- - Đối với số tiền 323.020.000 đồng thu giữ trong giai đoạn điều tra:
- + Đối với 22.000.000 đồng bị cáo chiếm đoạt của bị hại và chia cho Phạm Văn Kiệt đã được Phạm Văn Kiệt nộp lại nên cần trả lại cho chị Nguyễn Thị Lệ Chi là phù hợp.
- + Đối với số tiền 177.000.000 đồng bị cáo và gia đình đã nộp để khắc phục bồi thường cho bị hại nên cần trả lại cho chị Nguyễn Thị Lệ Chi được nhận là phù hợp.
- + Đối với số tiền 7.500.000 đồng Phạm Thế Hơn giao nộp, đây là số tiền Hơn được lợi khi bán tài khoản ngân hàng cho bị cáo nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước là phù hợp.
- + Đối với số tiền 116.520.000 đồng cần trả lại cho chị Vũ Thị Khánh do không liên quan đến hành vi phạm tội là phù hợp.
- - Đối với 02 điện thoại nhãn hiệu nokia 1280, màu đen; 01 điện thoại nhãn hiệu nokia, màu xanh, IMEI1 là 358589293655205, IMEI2 là 358589293655213; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu gold là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp.
- - Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, bên trong gắn sim số 0927.635.999; 01 thẻ Ngân hàng TMCP Quân đội số 4089041040975823, mang tên Lê Thanh Hải và 01 thẻ Ngân hàng TMCP Quân đội số 4089041000750539, mang tên Lê Thanh Hải do không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.
- - Đối với sim số 0948.618.490, 0397.159.861 do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ là phù hợp.
- - Đối với sim số 0363.771.348 do không thu giữ được nên không đề cập giải quyết là phù hợp.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, việc bị cáo và gia đình đã nộp khắc phục số tiền 177.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại cho bị hại là phù hợp với Điều 48 BLHS, Điều 584, Điều 589 BLDS nên cần chấp nhận.
[9] Các vấn đề khác:
- - Đối với số điện thoại 0357.352.xxx do Hầu Mỹ Thúng (sinh năm 1984, trú tại xã Mậu Duệ, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang) là người đăng ký sim nhưng không sử dụng; số 0359.468.490 do Đoàn Văn Vĩnh (sinh năm 1992, trú tại tổ dân phố Vũ Đức, thị trấn Cồn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định) là người đăng ký sim nhưng không sử dụng; số 0389.611.360 do Lý Thị Măng (sinh năm 1989, trú tại khóm 7, xã Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau) là người đăng ký sim nhưng không sử dụng. Vị trí phát sinh các cuộc gọi đều xuất phát từ khu vực cửa khẩu Mộc Bài, tỉnh Tây Ninh. Công ty TNHH Thương mại 68 Việt Nam không có trụ sở ở xã Cư EaBua, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk nên không có căn cứ để xử lý đối với Hầu Mỹ Thúng, Đoàn Văn Vĩnh, Lý Thị Măng. Đối với các đối tượng sử dụng số điện thoại trên để lừa đảo chị Nguyễn Thị Lệ Chi, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil tiếp tục điều tra, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.
- - Đối với Phạm Văn Kiệt, Phạm Thế Hơn, Nguyễn Văn Tới và Nguyễn Thị Luận do không biết tiền là do lừa đảo mà có nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
- - Đối với Phạm Hồng Quân (có địa chỉ khối 10, phường Trung Đô, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An) theo thông tin người nhận mà đối tượng mua các tài khoản ngân hàng của Lê Thanh Hải cung cấp, qua quá trình xác minh không xác định được nhân thân lai lịch của Phạm Hồng Quân nên không có cơ sở để triệu tập làm việc.
- - Đối với số điện thoại 0931.387.xxx chủ thuê bao là Nguyễn Văn Thắng (sinh ngày 10/5/1981, số CMCD 182332920, trú tại xã Hưng Lộc, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An), qua điều tra xác định là của Nguyễn Văn Thắng (sinh ngày sinh ngày 10/5/1981, số CMCD 182332920, số CCCD [...], trú tại xã Hưng Lĩnh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An), tuy nhiên, Thắng đi xuất khẩu lao động tại nước Cộng hoà Liên bang Đức, không xác định được địa chỉ nên việc Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.
- - Đối với việc chị Nguyễn Thị Lệ Chi khai bị lừa đảo chiếm đoạt số tiền 100.000.000 đồng, quá trình điều tra xác định tài khoản Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam số 3609205499501 là của Nguyễn Văn Đình, sinh năm 1975, trú tại khối Ba Hà, thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên, ông Đình khai đã bán tài khoản cho một người không rõ nhân thân lai lịch nên không biết việc chị Chi chuyển số tiền 100.000.000 đồng vào tài khoản nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.
- - Đối với hành vi mua bán, cho mượn tài khoản thanh toán của Lê Thanh Hải, Phạm Văn Kiệt, Phạm Thế Hơn, Nguyễn Văn Tới, Nguyễn Thị Ngát, Vũ Bảo Khanh, Lê Văn Sơn vi phạm điểm c khoản 15 Điều 14a Nghị định 143/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019) quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng) của Chính phủ nên Cơ quan điều tra chuyển xử lý hành chính là đúng quy định pháp luật.
- [10] Về án phí: Bị cáo Lê Thanh Hải phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh Hải phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1. Về hình phạt: Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Xử phạt: Lê Thanh Hải 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2024.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự:
- - Chấp nhận trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, màu xám, dung lượng 256GB cho Phạm Văn Kiệt là chủ sử hữu hợp pháp.
- - Đối với số tiền 323.020.000 đồng đã thu giữ trong giai đoạn điều tra:
- + Trả lại cho chị Nguyễn Thị Lệ Chi 22.000.000 đồng Phạm Văn Kiệt nộp lại là tiền bị cáo chia cho Kiệt sau khi thực hiện hành vi chiếm đoạt.
- + Trả cho chị Nguyễn Thị Lệ Chi số tiền 177.000.000 đồng bị cáo và gia đình đã nộp để khắc phục bồi thường trong quá trình điều tra.
- + Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước số tiền 7.500.000 đồng Phạm Thế Hơn được lợi khi bán tài khoản ngân hàng cho bị cáo.
- + Trả lại cho chị Vũ Thị Khánh số tiền 116.520.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- - Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước 02 điện thoại nhãn hiệu nokia 1280, màu đen; 01 điện thoại nhãn hiệu nokia, màu xanh, IMEI1 là 358589293655205, IMEI2 là 358589293655213; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu Gold là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
- - Trả lại cho bị cáo Lê Thanh Hải 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, bên trong gắn sim số 0927.635.999; 01 thẻ Ngân hàng TMCP Quân đội số 4089041040975823 và 01 thẻ Ngân hàng TMCP Quân đội số 4089041000750539, mang tên Lê Thanh Hải do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- - Tịch thu, tiêu huỷ các sim số 0948.618.490, 0397.159.861 do không còn giá trị sử dụng.
- (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Mil)
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng 48 BLHS, Điều 584, Điều 589 BLDS: Chấp nhận trong quá trình điều tra bị cáo và gia đình bị cáo đã nộp khắc phục số tiền 177.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại bà Nguyễn Thị Lệ Chi.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: buộc bị cáo Lê Thanh Hải phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Thùy Dung |
Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 30/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 95/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh Hải phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
