TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
Bản án số: 95/2024/HS-ST
Ngày: 27-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ngọc Giao.
Ông Phạm Tiến Dũng;
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Phú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cao - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 94/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn M, sinh năm 1978, tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm A, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 7/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị N; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 01-9-2024 đến ngày 06-9-2024; hiện tại ngoại; “có mặt”.
2. Phạm Ngọc V, sinh năm 1969, tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm D, xã B, huyện G, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 7/10; nghề nghiệp: Nhân viên; là Đảng viên; con ông Phạm Văn V1, bà Đặng Thị S (đều đã chết); vợ Phạm Thị B; có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 01-9-2024 đến ngày 06-9-2024; hiện tại ngoại; “có mặt”.
3. Đặng Văn Q, sinh năm 1961, tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: nơi cư trú Xóm A, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 0/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đặng Ngọc Đ (đã chết), bà Lê Thị T1; vợ Đỗ Thị N1, có 04 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 01-9-2024 đến ngày 06-9-2024; hiện tại ngoại; “có mặt".
4. Trần Xuân P, sinh năm 1988, tại huyện X, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Nhân viên; con ông Trần Công H, bà Phạm Thị B1; vợ là Bùi Thị H1; có 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 01-9-2024 đến ngày 06-9-2024; hiện tại ngoại; “có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn Q: Bà Trần Thị N2 - Trợ giúp viên pháp lý; Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N; “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 31-8-2024, Đặng Văn Q gọi điện thoại cho Phạm Ngọc V qua ứng dụng Zalo để hẹn V đánh bạc. Cùng lúc này có Nguyễn Văn M và Trần Xuân P đến nhà coi cống Cồn 5 uống nước chè. Khi Q đến thì thấy V, P, M đang uống nước, Q vào ngồi uống nước cùng. Khoảng 22 giờ cùng ngày, V, P, M, Q cùng thống nhất đánh bài bằng hình thức đánh phỏm ăn tiền, về nhì thì phải bỏ ra 10.000 đồng, về thứ ba thì phải bỏ ra 20.000 đồng, về thứ tư thì phải bỏ ra 40.000 đồng cho người đánh bài về nhất, người nào có bài ù thì những người còn lại phải bỏ ra 50.000 đồng trả cho người có bài ù. Sau đó cả V, P, M, Q dùng bộ bài tú lơ khơ 52 quân có sẵn từ trước và ngồi chơi tại chiếu ăn cơm đã trải sẵn tại nhà coi cống Cồn 5. Trong quá trình chơi V có ý kiến để tránh chơi xong không ai nhận mình thắng nên V ghi sổ tính điểm từ nhất đến bét lần lượt được 3 đến 0 điểm dự tính có người nào đạt 50 điểm trước thì nghỉ và người đó phải mời người còn lại ăn sáng còn tiền thì vẫn thắng thua được hưởng và mất như trên. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày Q, V, M, P đang đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm ăn tiền thì bị lực lượng Công an xã G tuần tra, phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ trên chiếu bạc 01 bộ bài tú lơ khơ quân, 01 sổ ghi chú bìa xanh, tổng số tiền 610.000 đồng là tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc; thu giữ trên người các đối tượng tổng số tiền 9.725.000 đồng là tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc, cụ thể: Phạm Ngọc V có 2.900.000 đồng, Đặng Văn Q có 2.820.000 đồng và Nguyễn Văn M có 4.005.000 đồng. Ngoài ra còn thu giữ của Đặng Văn Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A05S màu đen, 01 xe mô tô điện dạng xe ba bánh đã qua sử dụng; thu giữ của Phạm Ngọc V 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A53 5G màu đen; thu giữ của Trần Xuân P 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XS màu vàng; thu giữ của Nguyễn Văn M 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 18R1-5773 đã qua sử dụng.
Tại bản Cáo trạng số 95/CT-VKS-GT ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn M, Phạm Ngọc V, Đặng Văn Q và Trần Xuân P về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội của mình và công nhận nội dung bản cáo trạng truy tố là đúng.
Người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn Q đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và miễn án phí cho bị cáo vì bị cáo là người cao tuổi, khuyết tật.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn M, Phạm Ngọc V, Đặng Văn Q và Trần Xuân P phạm tội “Đánh bạc”. Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:+ Xử phạt Nguyễn Văn M từ 07 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, p khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt Đặng Văn Q từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt Phạm Ngọc V từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
+ Xử phạt Trần Xuân P từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Đặng Văn Q, Phạm Ngọc V và 10.335.000 đồng là tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc. Tịch thu cho tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ, 01 sổ ghi chú. Các bị cáo Nguyễn Văn M, Phạm Ngọc V, Trần Xuân P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; miễn án phí hình sự cho Đặng Văn Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 22 giờ ngày 31-8-2024, tại nhà coi cống C, Nguyễn Văn M, Phạm Ngọc V, Đặng Văn Q và Trần Xuân P đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh phỏm thì bị tổ tuần tra của Công an xã G phát hiện bắt quả tang, thu giữ số tiền 10.335.000 đồng các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội ảnh hưởng xấu tới trật tự an ninh, trật tự xã hội. Cờ bạc là tệ nạn của xã hội, các bị cáo đều xác định được đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo cố ý thực hiện hành vi đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh phỏm, sát phạt nhau để thu lời bất chính. Do vậy cần áp dụng hình phạt tương xứng đối với từng hành vi của mỗi bị cáo nhằm trừng trị giáo dục riêng đối với các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo Đặng Văn Q hoàn cảnh gia đình khó khăn, là người cao tuổi, thuộc trường hợp người khuyết tật nặng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo P, bị cáo V là lao động chính trong gia đình; bị cáo V có bố đẻ được tặng Huân chương kháng chiến nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6]Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo Q là người khởi xướng việc đánh bạc, bị cáo M sử dụng số tiền đánh bạc lớn nhất nên giữ vai trò cao hơn các bị cáo còn lại; tiếp theo là bị cáo V; bị cáo P khi bắt đầu chơi không có tiền, được V cho vay 200.000 đồng nên giữ vai trò cuối trong vụ án. Qua đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt các bị cáo M bằng hình phạt tù tuy nhiên xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo kèm theo thời gian thử thách bởi bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có hướng tự cải tạo là phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Bị cáo Q tàn tật nên cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo; Bị cáo V, bị cáo P là lao động chính trong gia đình, đang đi làm nên cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo để và tạo điều kiện cho các bị cáo được cải tạo tu dưỡng trong cộng đồng và phát huy được tính phòng ngừa chung cũng như thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật.
[7] Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 02 điện thoại di động thu giữ của bị cáo V, bị cáo Q và số tiền 10.335.000 đồng là tiền các bị cáo dùng đánh bạc. Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ; 01 sổ ghi chú cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone Xs và 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 18R1-5773 đã thu giữ của P và M, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của P và M không liên quan đến hành vi đánh bạc và 01 chiếc xe ba bánh tự chế của Đặng Văn Q là tài sản của Q, do Q bị liệt hai chân không đi lại được nên mua xe ba bánh để sử dụng làm phương tiện đi lại sinh hoạt hàng ngày nên cơ quan điều tra đã trả lại cho M, P, Q là phù hợp.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Văn M, Phạm Ngọc V, Trần Xuân P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Đặng Văn Q là người cao tuổi, người khuyết tật nên được miễn án phí. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn M, Phạm Ngọc V, Đặng Văn Q và Trần Xuân P phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn M 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng (đã bị tạm giữ từ ngày 01/9/2024 đến ngày 06/9/2024).
Giao Nguyễn Văn M cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, p khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Đặng Văn Q 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ (đã bị tạm giữ từ ngày 01/9/2024 đến ngày 06/9/2024); thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan Thi hành án Công an huyện G, tỉnh Nam Định nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Đặng Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 của Luật thi hành án hình sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt Phạm Ngọc V 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng.
+ Xử phạt Trần Xuân P 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 02 điện thoại di động thu giữ của Đặng Văn Q, Phạm Ngọc V và số tiền 10.355.000 đồng các bị cáo dùng đánh bạc; Tịch thu cho tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ, 01 sổ ghi chú thu giữ tại nhà coi Cống Cồn 5 (Được ghi chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng số 0003312 lập ngày 04 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn M, Phạm Ngọc V và Trần Xuân P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng. Miễn án phí cho bị cáo Đặng Văn Q.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hiền |
7
Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 95/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn M, Phạm Ngọc V, Đặng Văn Q và Trần Xuân P phạm tội “Đánh bạc”.
