Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM ĐẢO

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/HSST

Ngày 26 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Duy Tùng và bà Hoàng Bích Ngọc.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Tuyết, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2024/HSST ngày 12 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

  • - Lưu Minh N, sinh ngày 05/8/1974; nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Sán dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lưu Minh T và bà: Ôn Thị S; có vợ: Lưu Thị H và có 02 con: Con lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1995; tiền sự, tiền án: Không; bị cáo được tại ngoại, có mặt.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lý Văn M, sinh năm 1986; trú tại: Thôn V, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Anh Đặng Văn T1, sinh năm 1992; trú tại: thôn Đ xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Anh Chu Văn N1, sinh năm 1991, trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; anh Hoàng Trung K, sinh năm 1978; trú tại: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 41 phút ngày 13/6/2024, khi Lưu Minh N, sinh năm 1974 đang ở nhà mình tại thôn Đ, xã Đ, huyện T thì Lý Văn M, sinh năm 1986 ở cùng thôn trực tiếp đến nhà Năm đặt vấn đề mua số lô, số đề, N đồng ý. Qua trao đổi, M mua các số lô: 36, 09, 28, 91 mỗi số 40 điểm; 53, 52, 47 mỗi số 10 điểm, tổng số điểm lô là 190 điểm, mỗi điểm lô tính 21.000đ, tổng số tiền mua số lô của M là 3.990.000đ. M mua thêm các số đề 28 x 200.000đ; 79 x 300.000đ; 17, 30, 94, 38, 86 mỗi số mua 100.000đ, tổng số tiền mua số đề là 1.000.000đ. Tổng số tiền thỏa thuận mua bán số lô, số đề giữa M và N là 4.990.000đ; Năm trừ cho M 260.000đ tiền hoa hồng nên chỉ thu của M 4.730.000đ, M đã trả đủ cho Năm số

tiền trên. Hai bên thoả thuận, nếu trúng lô (số lô trùng với 02 số cuối của số trúng thưởng các giải xổ số kiến thiết miền B quay thưởng hồi 17 giờ 45 phút cùng ngày), M sẽ được trả 80.000 đồng/ 1 điểm; nếu trúng đề (số đề trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt), M sẽ được trả 70.000 đồng/ 1.000 đồng tiền đề; nếu không trúng, N sẽ được số tiền M đã thanh toán. Sau khi nhận tiền, Năm viết tin nhắn ghi nội dung “Lo 36 09 28 91 x 40đ 53, 52, 47 x 10đ để 28 200k 79 300k 17, 30, 94, 38, 86 x100k” là các số mà M mua trên vào tin nhắn zalo và gửi từ tài khoản Zalo tên “Hạnh” của Lưu Minh N được đăng ký bằng số điện thoại 0795.109.xxx đến zalo có tên “Tuấn Minh” được đăng ký bằng số điện thoại 0868.986.xxx. Đến khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày, Đặng Văn T1, sinh năm 1992 ở cùng thôn Đ đến đặt vấn đề với Năm mua các số đề: 12, 54, 98, 46, 09, 25, 03, 56, 82, 62, 83 (11 số) mỗi số 20.000đ, hết tổng số tiền 220.000đ. Năm trừ cho T1 58.000đ tiền hoa hồng chỉ thu của T1 162.000đ nhưng T1 chưa thanh toán cho N mà hẹn đến tối khi có kết quả sẽ thanh toán, Năm đồng ý. Các thức tính thắng, thua như nêu trên. Quá trình thỏa thuận, N bảo T1 gửi tin nhắn zalo cho N. T1 đã sử dụng zalo tên “Đặng Tư” được đăng ký bằng số điện thoại 0964.123.xxx nhắn tin vào Zalo tên “Hạnh” của Năm được đăng ký bằng số điện thoại 0795.109.xxx với nội dung “Anh ghi e con đề 12 54 98 46 09 25 03 56 82 62 83 x moi con 20k nhe”, Năm xác nhận “Ok1”. Ngay sau khi Năm vừa bán số lô, số đề cho M và T1 xong thì bị lực lượng Công an huyện T phát hiện bắt quả tang trước giờ mở thưởng xổ số kiến thiết miền B. Cơ quan điều tra đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ các vật chứng gồm: thu của Lưu Minh N số tiền 7.000.000đ và 01 điện thoại di động OPPO A16K đã qua sử dụng; thu của Đặng Văn T1 01 điện thoại di động Xiaomi Redmi Note 13.

Quá trình điều tra còn xác định, ngoài bán số lô, số đề cho Lý Văn M và Đặng Văn T1, Lưu Minh N còn bán số lô, số đề cho Chu Văn N1, sinh năm 1991 ở cùng thôn Đ. Cụ thể như sau: khoảng 15 giờ 19 phút cùng ngày 13/6/2024, Chu Văn N1 sử dụng zalo tên “Bo” được đăng ký bằng số điện thoại 0983.203.xxx, nhắn tin vào Zalo tên “H1” của Lưu Minh N được đăng ký bằng số điện thoại 0795.109.xxx để mua các số đề với nội dung “Đề: tổng 6,7,8 nhân 10k”, Lưu Minh N nhắn tin trả lời là “Ok1”, nghĩa là đồng ý. Theo đó, Chu Văn N1 mua của Lưu Minh N 30 số đề, trong đó: các số tổng 6 gồm 10 số đề là: 06, 60, 15, 51, 24, 42, 33, 88, 97, 79; các số tổng 7 gồm 10 số đề là: 07, 70, 16, 61, 25, 52, 34, 43, 98, 89; các số tổng 8 gồm 10 số: 08, 80, 17, 71, 26, 62, 35, 53, 44, 99 tổng số 30 số đề, mỗi số đề mua 10.000đ, tổng hết 300.000đ, Lưu Minh N trừ tiền hoa hồng cho Chu Văn N1 nên chỉ thu số tiền là 220.000đ nhưng Chu Văn N1 chưa thanh toán cho Lưu Minh N mà hẹn đến tối khi có kết quả sẽ thanh toán cho N, N đồng ý.

Ngày 14/6/2024, Chu Văn N1 tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động S1 Note 9, đã qua sử dụng, số tiền 300.000 đồng, phục vụ điều tra.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Lưu Minh N ở thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, kết quả không phát

hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.

Ngày 09/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra các Quyết định trưng cầu giám định số 1187, 1188 và 1189 đối với 01 điện thoại di động OPPO A16K, 01 điện thoại di động Redmi Note 13, 01 điện thoại di động S1 9, yêu cầu trích xuất dữ liệu tin nhắn trong tài khoản zalo của các mẫu gửi giám định. Tại các bản kết luận giám định số 2722 ngày 23/9/2024, số 2741, 2742 ngày 25/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh V, kết luận: trích xuất được các cuộc trò chuyện trong ứng dụng zalo trên các mẫu cần giám định, xác định việc nhắn tin mua bán số lô, số đề giữa Lưu Minh N, Đặng Văn T1 và Chu Văn N1, phù hợp với nội dung vụ án như nêu trên.

Quá trình điều tra, Lưu Minh N khai nhận: Sau khi nhận bán số lô, số đề cho những người chơi, N chuyển tin nhắn đến zalo có tên “Tuấn M1” được đăng ký bằng số điện thoại 0868.986.xxx của Hoàng Trung K, sinh năm 1978, trú tại thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, sau đó sẽ chuyển tiền của người chơi cho K qua tài khoản số 0984757839 của Năm mở tại Ngân hàng M2 để hưởng phần trăm với mức 1000đ/ 1 điểm lô hoặc 2000đ/100.000đ tiền đề, nếu người chơi thắng, K sẽ là người thanh toán tiền cho người chơi bằng hình thức chuyển khoản qua cho N. Hiện nay, Năm không nhớ số tài khoản nhận, chuyển tiền của K. Cơ quan điều tra đã xác minh đối với số điện thoại di động 0868.986.xxx, xác định do Nguyễn Thị H2, sinh năm 1978, ở xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc đăng ký thuê bao từ 15/7/2019. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị H2 khẳng định không sử dụng số điện thoại trên. Cơ quan điều tra tiến hành điều tra tài khoản zalo đăng ký bằng số điện thoại 0868.986.xxx và số tài khoản của Năm tại Ngân hàng M2, kết quả: Công ty cổ phần V cung cấp: số +84868986056 là tài khoản “Sa Quê”; thời gian khởi tạo tài khoản ngày 11/6/2024; người dùng không cung cấp CCCD/CMND, do đó, không có cơ sở để xác định tài khoản zalo được đăng ký bằng số điện thoại 0868.986.xxx do cá nhân hay tổ chức nào đăng ký, quản lý, sử dụng; hiện tài khoản zalo trên đã ngừng hoạt động. Số tài khoản 0984757839 tại ngân hàng M2 mà Lưu Minh N sử dụng không có thông tin về việc giao dịch giữa Lưu Minh N với Hoàng Trung K. Ngày 20/9/2024, Hoàng Trung K, tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động Samsung galaxy J4 để phục vụ điều tra. Ngày 24/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1254 đối với điện thoại di động Samsung Galaxy J4. Tại bản kết luận giám định số 2839 ngày 02/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận: xác định chụp được 04 ảnh thể hiện nội dung tin nhắn ứng dụng zalo, không liên quan đến vụ án, không tìm thấy dữ liệu về nội dung trao đổi mua bán số lô, số đề nào. Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Trung K trình bày việc bản thân có quen biết với Lưu Minh N nhưng không sử dụng zalo mang tên “Tuấn M1” hay “Sa Quê” được được đăng ký bằng số điện thoại 0868.986.xxx; không quen biết người nào sử dụng số điện thoại và tài khoản zalo trên, đồng thời K không thừa nhận việc nhận bảng lô, đề của N. Cơ quan điều tra đã tiến hành để Lưu Minh N và Hoàng Trung K đối chất, làm rõ các mâu thuẫn nhưng Năm không có chứng

cứ nào xác định người mà Năm nhắn tin chuyển các số lô, số đề trên là Hoàng Trung K mà chỉ nhớ đã từng lưu số điện thoại của K trong danh bạ là “Tuấn M1” nên nghĩ đó là tài khoản zalo của K. Ngoài lời khai của Năm hiện nay chưa có tài liệu, chứng cứ nào khác xác định K chính là người nhận ghi số lô, số đề từ Năm nên chưa đủ căn cứ xử lý đối với K trong vụ án này, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào có căn cứ xử lý sau.

Đối với Chu Văn N1, Lý Văn M và Đặng Văn T1 có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi sô lô, số đề với Lưu Minh N vào ngày 13/6/2024. Quá trình điều tra xác định, Chu Văn N1 đánh bạc với số tiền 300.000đ, Lý Văn M đánh bạc với số tiền 4.990.000đ, Đặng Văn T1 đánh bạc với số tiền 220.000đ. Bản thân Năm, T1 chưa có tiền án, tiền sự. Tại Bản án số 41/2016/HSST ngày 11/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Lý Văn M 05 tháng tù. M đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/7/2016 và án phí ngày 12/10/2016, nay đã được xóa án tích. Do đó, số tiền các đối tượng đánh bạc chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Chu Văn N1, M, T1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với M, Năm, T1.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu bán sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động OPPO A16K của Lưu Minh N; 01 điện thoại di động Redmi Note 13 của Đặng Văn T1; 01 điện thoại di động S1 9 của Chu Văn N1.

Trả lại cho Hoàng Trung K 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J4.

Đối với số tiền 7.000.000đ tạm giữ của Lưu Minh N tại thời điểm bắt quả tang, quá trình điều tra xác định trong đó có 4.730.000đ là số tiền Lý Văn M đã trả cho N để mua các số lô, số đề, là công cụ sử dụng vào việc phạm tội; số tiền 260.000đ là tiền hoa hồng Năm trích cho M và số tiền 58.000₫ là tiền hoa hồng Năm trích cho Đặng Văn T1, cần tịch thu các khoản này sung quỹ nhà nước. Còn lại số tiền 1.952.000 đồng, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp của Lưu Minh N không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với số tiền 300.000 đồng mà Chu Văn N1 tự nguyện giao nộp là công cụ sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Cần truy thu của Đặng Văn T1 số tiền 162.000₫ Tư mua số đề chưa thanh toán cho Năm sung quỹ nhà nước.

Tại Bản Cáo trạng số: 96/CT-VKSTĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo đã truy tố: Lưu Minh N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo giữ quyền công tố tại phiên tòa hôm nay giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lưu Minh N. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lưu Minh N phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự, phạt: Lưu Minh N từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lưu Minh N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã nêu.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lưu Minh N thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung Bản Cáo trạng đã truy tố, thể hiện như sau: Ngày 13/6/2024, tại nhà ở của mình ở thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Lưu Minh N đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi (bán) số lô, số đề cho các đối tượng với tổng số tiền đánh bạc là 5.510.000đ, cụ thể: Khoảng 15 giờ 19 phút ngày 13/6/2024, Chu Văn N1 sử dụng điện thoại di động nhắn tin qua tài khoản zalo đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề với Lưu Minh N với số tiền 300.000đ. Khoảng 17 giờ 41 phút, Lý Văn M đến nhà Năm đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề với Năm với số tiền 4.990.000đ. Khoảng 17 giờ 50 phút, Đặng Văn T1 đến nhà Năm đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề với Năm với số tiền 220.000đ. Khi N vừa bán số lô, số đề cho T1 xong thì bị Công an huyện T phát hiện trước giờ mở thưởng xổ số kiến thiết miền B cùng ngày.

[4] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của những người liên quan, người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập

được. Hành vi của bị cáo Lưu Minh N đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Do đó, Bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[5] Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến trật tự công cộng, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là dân tộc sán dìu, trình độ học vấn thấp (học hết lớp 7), nên hiểu biết pháp luật còn hạn chế, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội cũng đủ giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm.

[6] Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu bán sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động OPPO A16K, của bị cáo Lưu Minh N; 01 điện thoại di động Redmi Note 13 của Đặng Văn T1; 01 điện thoại di động S1 9 của Chu Văn N1.

Trả lại 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J4, quá trình điều tra xác định là tài sản của Hoàng Trung K, quá trình điều tra không xác định được có liên quan đến vụ án cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với số tiền 7.000.000đ tạm giữ của Lưu Minh N tại thời điểm bắt quả tang, quá trình điều tra xác định trong đó có 4.730.000đ là số tiền Lý Văn M đã trả cho N để mua các số lô, số đề, là công cụ sử dụng vào việc phạm tội; số tiền 260.000đ là tiền hoa hồng Năm trích cho M và số tiền 58.000₫ là tiền hoa hồng Năm trích cho Đặng Văn T1, cần tịch thu các khoản này sung quỹ nhà nước. Còn lại số tiền 1.952.000 đồng, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp của Lưu Minh N không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị can nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 300.000 đồng mà Chu Văn N1 tự nguyện giao nộp là công cụ sử dụng vào việc phạm.

Truy thu của Đặng Văn T1 số tiền 162.000₫ là tiền T1 mua số đề chưa thanh toán cho Năm sung quỹ nhà nước.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật cần chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lưu Minh N phạm tội “Đánh bạc”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Lưu Minh N 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Lưu Minh N cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp bị cáo Lưu Minh N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Tịch thu bán sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động OPPO A16K, của bị cáo Lưu Minh N; 01 điện thoại di động Redmi Note 13 của Đặng Văn T1; 01 điện thoại di động S1 9 của Chu Văn N1.
    • Trả lại cho anh Hoàng Trung K 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J4.
    • Đối với số tiền 7.000.000đ tạm giữ của Lưu Minh N trong đó có số tiền 4.730.000đ là số tiền Lý Văn M đã trả cho N để mua các số lô, số đề, và số tiền 260.000₫ là tiền hoa hồng Năm trích cho M và số tiền 58.000₫ là tiền hoa hồng Năm trích cho Đặng Văn T1, cần tịch thu các khoản này sung quỹ nhà nước. Còn lại số tiền 1.952.000 đồng, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp của Lưu Minh N không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo lưu Minh N nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 300.000 đồng mà Chu Văn N1 tự nguyện giao nộp là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.
    • Truy thu của Đặng Văn T1 số tiền 162.000₫ mà T1 mua số đề chưa thanh toán cho Năm sung quỹ nhà nước.

(Các vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/11/2024).

  1. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Lưu Minh N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND huyện Tam Đảo;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Đảo;
  • - Công an huyện Tam Đảo;
  • - UBND xã Đạo Trù;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/HSST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 95/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lưu Minh Năm phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger