|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 95/2024/HS-ST Ngày 21-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhất Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Huy Toàn
Ông Trần Anh Thư
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Như Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Triệu Hoàng Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 116/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HS ngày 29/10/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T; sinh năm 1996 tại N, Khánh Hòa; Tên gọi khác: Đen; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn M, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn T1 (sinh năm: 1972) và bà Nguyễn Thị Đ (sinh năm: 1976). Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 26/8/2020, Nguyễn Văn T bị Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xử phạt mức án 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (Bản án số 66A/2020/HS-PT). Chấp hành xong hình phạt ngày 26 tháng 8 năm 2021.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25 tháng 6 năm 2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1997; vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn M, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 25 tháng 6 năm 2024, Nguyễn Văn T điều khiển xe đạp điện màu trắng, không gắn biển kiểm soát, từ nhà đến khu vực bãi đất trống phía sau Kho xăng dầu Ngoại quan Vân Phong thuộc thôn M, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, tìm người bán ma túy với mục đích mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và mua của người đàn ông tự xưng là Đen Á (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 túi ma túy với giá 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng).
Sau khi có được ma túy, T điều khiển xe đạp điện để về nhà. Lúc này, tổ công tác của Đồn Biên phòng N phối hợp cùng Công an xã N đang tiến hành tuần tra thì phát hiện T có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy tại đường nhựa mới khu vực Kho xăng dầu Ngoại quan V nên yêu cầu T dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T tự nguyện lấy từ trong túi quần bên phải phía trước 01 túi nilon màu trắng, có khóa khoằn miệng, kích thước 4,5 cm x 4 cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy (đã niêm phong ký hiệu là A), T khai nhận đây là ma túy đá mua về sử dụng cho bản thân và giao nộp cho tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại bản Kết luận giám định số 373/2024/KL-KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận: tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,5420g (không phẩy năm bốn hai gam), loại Methamphetamine. Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại bản cáo trạng số 95/CT-VKS-HS ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T với mức án từ 01 (một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo 25/6/2024.
Về vật chứng: 01 (một) xe đạp điện màu trắng, không gắn biển kiểm soát, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đã trả cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý vật chứng số 2129/QĐ-CSĐT-ĐKTMT ngày 19 tháng 9 năm 2024 nên đề nghị không xét.
Phần dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên đề nghị không xét.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo đã ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo cải tạo tốt sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị cáo Nguyễn Văn T và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tổ tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
- Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên Cáo trạng số 95/CT-VKSA-HS của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Văn T, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội.
-
Hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Văn T là người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức để biết được rằng ma túy là chất gây nghiện. Nhà nước nghiêm cấm việc mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy. Các cơ sở ban ngành, phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên tuyên truyền về tác hại và hậu quả khôn lường của ma túy.
Việc bị cáo giữ 0,5420g ma túy loại Methamphetamine trong người nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, đây chính là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, việc làm này bị cáo biết nhưng vẫn thực hiện, bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật Nhà nước, đạo đức xã hội.
Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước mà còn góp phần gia tăng các tệ nạn, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và an ninh trật tự tại địa phương.
-
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 26/8/2020, bị Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xử phạt mức án 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự theo Bản án số 66A/2020/HS-PT. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 26 tháng 8 năm 2021.
Trong vụ án này bị cáo là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, không có đồng phạm. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình nên cần được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình.
Hình phạt bổ sung: không.
- Về xử lý vật chứng: 01 (một) xe đạp điện màu trắng, không gắn biển kiểm soát, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đã trả cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý vật chứng số 2129/QĐ-CSĐT-ĐKTMT ngày 19 tháng 9 năm 2024 nên không xem xét.
- Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không xem xét.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ, tạm giam 25/6/2024.
Hình phạt bổ sung: không.
- Về vật chứng: 01 (một) xe đạp điện màu trắng, không gắn biển kiểm soát, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đã trả cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý vật chứng số 2129/QĐ-CSĐT-ĐKTMT ngày 19 tháng 9 năm 2024 nên không xét.
- Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không xem xét.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN THỊ NHẤT ANH |
Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 95/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 năm 06 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
