|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 95/2024/HS-ST. Ngày: 25-10-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NÓT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Trần Thúy Kiên.
- Bà Thái Ánh Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Hồng Quốc Vệ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự đã thụ lý số 80/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Cao Nguyễn Anh T, sinh năm 1994; Nơi thường trú: khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở hiện nay: Số A, tổ E, ấp A, xã B, huyện B, T; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Bá D, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1969; Vợ: Nguyễn Thị Xuân N, sinh năm 1999; Con: Có 01 người, sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm khỏi nơi cư trú từ ngày 09/9/2014 đến ngày 27/10/2024 tại xã B, huyện B, Thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đặng Trọng T1 và Luật sư Trần Văn H - Văn phòng Luật sư Thanh Liêm thuộc Đoàn Luật sư thành phố C. Địa chỉ: C L, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
- Người bị hại: Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh ngày: 24/11/2001. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
1/ Bà Bùi Thị Mỹ H1 – sinh năm 1975. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
2/ Bà Nguyễn Thị Kim N2 – sinh năm 1983. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
3/ Bà Lê Thị Bích T2 – sinh năm 1997. Địa chỉ: Khu V L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 02 năm 2015, Nguyễn Thị Tuyết N1 (sinh ngày 24/11/2001) và Cao Nguyễn Anh T nảy sinh tình cảm, cả hai nhiều lần thực hiện hành vi giao cấu với nhau tại nhiều địa điểm. Cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Vào khoảng 12 giờ ngày 14/8/2015, Nguyễn Thị Tuyết N1 và Cao Nguyễn Anh T đến quán C thuộc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Tại đây, T thực hiện hành vi giao cấu với N1.
- Lần thứ hai: Vào khoảng 13 giờ ngày 03/10/2015, Cao Nguyễn Anh T và Nguyễn Thị Tuyết N1 đến quán C1 thuộc khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; T tiếp tục thực hiện hành vi giao cấu với N1.
Đến ngày 12/10/2015, bà Bùi Thị Mỹ H1 (mẹ ruột N1) biết sự việc nên đến Công an phường T, quận T trình báo (Bút lục 01).
Tại Giấy chứng nhận thương tích ngày 13/10/2015 của Bệnh viện đa khoa quận T - thành phố Cần Thơ, kết luận đối với Nguyễn Thị Tuyết N1 (Bút lục 30):
- Màng trinh dãn rộng, vết rách cũ vị trí 9 giờ, 3 giờ, lành tốt, không chảy máu, không tụ huyết.
- Tinh trùng: tìm không thấy.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 29/8/2024, Cao Nguyễn Anh T đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho Nguyễn Thị Tuyết N1 với số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng). Phía Nguyễn Thị Tuyết N1 có đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ đối với Cao Nguyễn Anh T (Bút lục 141-143).
Tại Cáo trạng số 94/CT-VKSTN ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ truy tố Cao Nguyễn Anh T về tội “Giao cấu với trẻ em” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 115 của Bộ luật hình năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Bộ luật hình sự năm 1999).
Tại phiên tòa:
Bị cáo T đã khai nhận hành vi phạm tội, thống nhất nội dung cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Ngoài ra, bị cáo không có ý kiến gì khác.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm; Đồng thời phát biểu quan điểm luận tội phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bố Cao Nguyễn Anh T phạm tội Giao cấu với trẻ em.
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 115; Điều 33; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Đề nghị xử phạt bị cáo Cao Nguyễn Anh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo T đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại Nguyễn Thị Tuyết N1 với số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) xong, bị hại N1 đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên không đề cập giải quyết.
Luật sư Trần Văn H và Luật sư Đặng Trọng T1 bào chữa cho bị cáo trình bày ý kiến bào chữa: Thống nhất tội danh và Điều Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ, Điều hạ khung mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Các Luật cho rằng mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị là nặng và nhấn mạnh thêm một số tình tiết về điều kiện hoàn cảnh phạm tội, trình độ học vấn, nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo, hiện tại cuộc sống của bị hại không bị ảnh hưởng xấu từ việc bị cáo xâm hại, trên cơ sở đó đề nghị Hội đồng xét xử vận dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện tiếp tục lao động chăm lo cho gia đình.
Bị cáo thống nhất với ý kiến bào chữa của L1, bị cáo không tham gia tranh luận và không bổ sung gì thêm. Đồng thời, bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Xét tại phiên tòa, bị hại và một số người làm chứng vắng mặt. Tuy nhiên, trong điều tra đã thu thập rõ lời khai của những người vắng mặt tại phiên tòa, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lại lời khai của những người vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào các Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự thì việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Về nội dung:
Căn cứ khoản 1 Điều 7 Bộ luật hình năm 2025, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định “Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện”. Hành vi phạm tội của Cao Nguyễn Anh T xảy ra năm 2015, thời điểm Bộ luật hình năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2019 có hiệu lực. Tình tiết định khung và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của T được quy định trong Bộ luật hình năm 1999 và Bộ luật hình năm 2015 là như nhau nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Bộ luật hình sự năm 1999 để xét xử đối với bị cáo là phù hợp.
Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Như vậy, có cơ sở xác định Cao Nguyễn Anh T và Nguyễn Thị Tuyết N1 có quan hệ tình cảm nam nữ với nhau, trong thời gian từ ngày 14/8/2015 đến ngày 03/10/2015, T đã nhiều lần thực hiện hành vi giao cấu với N1 tại nhiều địa điểm khác nhau. Tại thời điểm này, Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh ngày 24/11/2001 chưa đủ 16 tuổi và Cao Nguyễn Anh T đã đủ 18 tuổi. Hành vi sai trái mà Cao Nguyễn Anh T thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với trẻ em” trong trường hợp phạm tội nhiều lần. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 115 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi mà bị cáo thực hiện rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục, danh dự và nhân phẩm của trẻ em gái được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người thành niên, đủ khả năng nhận thức được quan hệ tình dục với người chưa đủ 16 tuổi là vi phạm pháp luật, nhưng do không kiềm chế được cảm xúc, bắt nguồn từ quan hệ tình cảm yêu thương nam nữ, hoàn cảnh gia đình, sự quản lý lỏng lẽo của những người có trách nhiệm, lợi dụng sự thiếu hiểu biết, ngây thơ của bị hại, bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi giao cấu với bị hại để nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu sinh lý của bản thân. Mặc dù được sự đồng thuận của bị hại, nhưng tại thời điểm các bên nảy sinh quan hệ tình cảm, tình dục, bị hại vẫn còn dưới 16 tuổi, chưa hoàn thiện về mặt thể chất lẫn nhận thức, đặc biệt là nhận thức về quan hệ tình dục. Hành vi mà bị cáo thực hiện đã gây tổn hại đến thể chất, sự phát triển tâm sinh lý, đạo đức, nhân phẩm của bị hại cả hiện tại cũng như sau này. Ngoài ra, còn ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của dân tộc, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Trong phần phát biểu tranh luận với các Luật sư bào chữa cho bị cáo, đại diện Viện kiểm sát vận dụng Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khẳng định bị cáo không đủ điều kiện cho hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật. Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo cũng như yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em nói chung cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng để giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật cũng như tôn trọng các chuẩn mực đạo đức xã hội là cần thiết.
[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự.
[6] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có cân nhắc đến lời bào chữa của các vị Luật khi đề cập đến nhân thân bị cáo tốt, trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã nhận thức được hành vi sai trái của bản thân nên đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại xong và phía bị hại cũng có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đồng thời, xét thấy bị cáo từng có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự và có bác là ông Cao Bá N3 được Nhà nước tặng thưởng khi tham gia chiến tranh bảo vệ tổ làm nhiệm vụ quốc tế, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên thấy rằng, bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình năm 1999. Mặt khác, sự việc xảy ra cũng đã lâu, hiện tại bị cáo, bị hại cũng đã lập gia đình và có cuộc sống ổn định, bị hại không bị ảnh hưởng nhiều về sức khỏe tinh thần, hiện tại hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định vận dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999 cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo tốt.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo T đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại Nguyễn Thị Tuyết N1 số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) xong, bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 115; Điều 33; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009;
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
* Tuyên bố: Bị cáo Cao Nguyễn Anh T phạm tội “Giao cấu với trẻ em”.
Xử phạt: Bị cáo Cao Nguyễn Anh T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Cao Nguyễn Anh T phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi Cục Thi hành án Dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
* Về quyền kháng cáo bản án: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Mộng Tuyền |
Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về vụ án hình sự về tội giao cấu với trẻ em
- Số bản án: 95/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Giao cấu với trẻ em
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự đã thụ lý số 80/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024, theo Quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo: Cao Nguyễn Anh T, sinh năm 1994; Nơi thường trú: khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở hiện nay: Số A, tổ E, ấp A, xã B, huyện B, T
