Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VĨNH CHÂU

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26-9-2024

“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Liên Lâm Anh Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Huỳnh Hoa.

Ông Trịnh Văn Lộc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Đô – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa:

Ông Âu Hoàng Mến - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 144/2024/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 6 năm 2024 “Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Châu Thị Sóc K, sinh năm: 1992 “vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.

Địa chỉ: ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Anh Lý Đ, sinh năm 1992 “vắng mặt”.

Địa chỉ: ấp V, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 19 tháng 02 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Châu Thị Sóc K trình bày:

- Về hôn nhân: chị Châu Thị Sóc K và anh Lý Đ tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn vào ngày 08/5/2013 tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi kết hôn chị K và anh Đ chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, nên cuộc

sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị K và anh Đ đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, nên chị K yêu cầu ly hôn với anh Đ.

- Về con chung: trong thời gian chung sống chị K và anh Đ có 01 người con chung tên Lý Thị Mà N, sinh ngày 30/12/2013. Hiện nay cháu N đang sống chung với chị K. Chị K yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N. Chị K yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con cho cháu N mỗi tháng là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) cho đến khi cháu N thành niên.

- Về tài sản chung và nợ chung: trong thời gian chung sống chị Châu Thị Sóc K và anh Lý Đ không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt chị K vẫn giữ nguyên yêu cầu trên.

* Bị đơn là anh Lý Đ đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, nên anh Đ đã biết được yêu cầu khởi kiện của chị Châu Thị Sóc K. Anh Đ không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị K.

Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu đã ban hành thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời triệu tập anh Lý Đ tham gia phiên họp hợp lệ, nhưng anh Đ vắng mặt không có lý do và anh Đ cũng không cung cấp lời khai cho Tòa án.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Châu Thị Sóc K. Về hôn nhân: xử cho chị K được ly hôn với anh Lý Đ; về con chung: giao cháu Lý Thị Mà N, sinh ngày 30/12/2013 cho chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu N thành niên; về cấp dưỡng nuôi con: buộc anh Lý Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho cháu N mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi cháu N thành niên; về tài sản chung và nợ chung: chị K và anh Đ không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 02 năm 2024 của nguyên đơn chị Châu Thị Sóc K thì chị K kiện anh Lý Đ là bị đơn cư trú tại ấp V, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về quan hệ pháp luật: nguyên đơn chị Châu Thị Sóc K khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung với bị đơn anh Lý Đ, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Chị Châu Thị Sóc K là nguyên đơn trong vụ án, vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị K.

[1.4] Anh Lý Đ là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ.

[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Châu Thị Sóc K và anh Lý Đ tự nguyện kết hôn khi đã đủ tuổi kết hôn và đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình, chị K và anh Đ có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên hôn nhân của chị K và anh Đ là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị K và anh Đ chung sống hạnh phúc, được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến nên chị K và anh Đ sống không còn hạnh phúc. Khi phát sinh mâu thuẫn thì chị K và anh Đ không cùng nhau khắc phục, tìm biện pháp giải quyết, động viên, an ủi nhau và đã sống ly thân từ năm 2018. Từ khi sống ly thân cho đến nay chị K và anh Đ không gặp nhau để bàn bạc về việc hàn gắn lại hạnh phúc gia đình, nên mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng chị K yêu cầu được ly hôn; anh Đ không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị K.

Xét thấy: hiện nay hôn nhân của chị K và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị K yêu cầu được ly hôn với anh Đ là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, xử cho chị K được ly hôn với anh Đ.

[3] Về con chung: trong thời gian chung sống chị Châu Thị Sóc K và anh Lý Đ có 01 người con chung tên Lý Thị Mà N, sinh ngày 30/12/2013. Từ khi chị K và anh Đ sống ly thân cho đến nay chị K trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Chị K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N; anh Đ không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị K; nguyện vọng của cháu N yêu cầu được tiếp tục sống chung với chị K.

Xét thấy: từ khi chị K và anh Đ sống ly thân cho đến nay chị K là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Hiện nay cháu N đang có cuộc sống ổn định cùng với chị K, nguyện vọng của cháu N cũng yêu cầu được sống chung với chị K, nên việc chị K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N là đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu N và phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị K, xử giao cháu N cho chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu N thành niên.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: chị Châu Thị Sóc K yêu cầu anh Lý Đ cấp dưỡng nuôi cháu Lý Thị Mà N mỗi tháng 2.000.000 đồng; anh Đ không có ý kiến phản đối gì đối với yêu cầu của chị K.

Xét thấy: chị K yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi cháu N mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu N thành niên là phù hợp theo Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Điều 3 Nghị định số 74/2024/NĐ-CP, ngày 30/6/2024 của Chính phủ; khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, xử buộc anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho cháu N mỗi tháng là 2.000.000 đồng kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi cháu N thành niên.

[5] Về tài sản chung: trong thời gian chung sống chị Châu Thị Sóc K và anh Lý Đ không có tài sản chung, chị K và anh Đ không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về nợ chung: trong thời gian chung sống chị Châu Thị Sóc K và anh Lý Đ không có nợ chung, chị K và anh Đ không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Đối với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Châu Thị Sóc K được ly hôn với anh Lý Đ; về con chung: giao cháu Lý Thị Mà N, sinh ngày 30/12/2013 cho chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu N thành niên; về cấp dưỡng nuôi con: buộc anh Lý Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho cháu N mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi cháu N thành niên; về tài sản chung và nợ chung: chị K và anh Đ không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết. Như đã nhận định ở phần trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có cơ sở và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc chị Châu Thị Sóc K phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng chị K được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004833 ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, như vậy chị K đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; anh Lý Đ phải nộp tiền án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Điều 3 Nghị định số 74/2024/NĐ-CP, ngày 30/6/2024 của Chính phủ; điểm a khoản 5 và điểm đ khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Châu Thị Sóc K.

  1. Về hôn nhân: xử cho chị Châu Thị Sóc K được ly hôn với anh Lý Đăng
  2. Về con chung: giao cháu Lý Thị Mà N, sinh ngày 30/12/2013 cho chị Châu Thị Sóc K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu N thành niên.

    Anh Lý Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho cháu N mỗi tháng là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi cháu N thành niên. Phương thức cấp dưỡng: định kỳ hàng tháng. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho anh Đ, không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: chị Châu Thị Sóc K và anh Lý Đ không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về nợ chung: chị Châu Thị Sóc K và anh Lý Đ không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  5. Án phí dân sự sơ thẩm: chị Châu Thị Sóc K phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng chị K được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004833 ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, như vậy chị K đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; anh Lý Đ phải nộp tiền án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).
  6. Về quyền kháng cáo bản án: nguyên đơn chị Châu Thị Sóc K và bị đơn anh Lý Đ có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND thị xã Vĩnh Châu;
  • - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Vĩnh Hải;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Liên Lâm Anh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung

  • Số bản án: 95/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Châu Thị Sóc K yêu cầu ly hôn với anh Lý Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger