Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/DS-ST

Ngày: 25-9-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH

NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Mai Huệ Anh Đài
  2. Bà Nguyễn Thị Minh Trâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Uyên Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang- T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 202/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST-DS ngày 15/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2024/QĐST-DS ngày 05/9/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần (TMCP) T (T4).

Địa chỉ trụ sở: Tòa nhà T4, số E, phố L, phường T, quận H, Hà Nội.

Địa chỉ liên hệ: Số B P, phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh P – Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Thương mại Cổ phần T.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh T – Phó phòng Phụ trách Phòng Tố tụng Xử lý - Trung tâm Xử lý nợ 2 – Khối Xử lý và Thu hồi nợ - T4.

Người đại diện theo ủy quyền lại:

  • + Ông Lê Nhất T1 - Chuyên viên chính Phòng Tố tụng xử lý nợ - Trung tâm xử lý nợ 2 – Khối xử lý nợ và Thu hồi nợ - T4 (có mặt).
  • + Ông Thạch Trung H - Chuyên viên chính Phòng Tố tụng xử lý nợ - Trung tâm xử lý nợ 2 – Khối xử lý nợ và Thu hồi nợ - T4 (vắng mặt).
  • + Ông Phạm Ngọc A – Chuyên viên khách hàng cá nhân – T4 (vắng mặt).
  • + Ông Nguyễn Khôi N – Chuyên viên xử lý nợ khách hàng cá nhân – Trung tâm khách hàng cá nhân – Khối xử lý và Thu hồi nợ - T4 (vắng mặt).
  • + Ông Phạm Thành T2 – Chuyên viên xử lý nợ Trung tâm khách hàng cá nhân – Khối xử lý và Thu hồi nợ - T4 (vắng mặt).

- Bị đơn: + Ông Dương Ngọc A1, sinh năm 1988 (vắng mặt).

+ Bà Trần Thị Minh H1, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Khu phố A, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/4/2024, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, ông Lê Nhất T1 là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 19/04/2022, Ngân hàng TMCP T – Chi nhánh N2 (Sau đây gọi tắt là “Ngân hàng” hoặc “T4”) ký Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 267/2022/HDBD/NTG với ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 (sau đây gọi là “khách hàng”). Cụ thể:

- Số tiền cho vay là: 708.000.000 đồng (bằng chữ: Bảy trăm linh tám triệu đồng).

- Mục đích: Vay mua ô tô.

- Thời hạn: 96 tháng (từ ngày 17/01/2022 đến ngày 17/05/2030).

- Lãi suất cho vay:

+ Lãi suất áp dụng trong 12 tháng kể từ ngày giải ngân là 7.2%/năm.

+ Lãi suất áp dụng cho thời gian còn lại trong thời gian vay vốn: bằng lãi suất cơ sở KHCN kỳ hạn 03 tháng của T4 tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3.5%/năm, kỳ hạn điều chỉnh lãi suất: 3 tháng/lần.

Để đảm bảo khoản vay, tại Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 267/2022/HDBD/NTG ngày 19/4/2022, ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 đã tự nguyện thế chấp tài sản đảm bảo là: 01 xe Mitsubishi triton; màu trắng, số khung: MMBJLKL10NH050146; Số máy 4N15UHT2180; Biển kiểm soát: 85C-065.43 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 85 004738, do Phòng C – Công an tỉnh N cấp ngày 12/5/2022.

Sau khi giải ngân và đến kỳ thanh toán thì ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 đã thanh toán cho T4 là 110.803.733 đồng, trong đó số tiền gốc đã trả là 72.477.172 đồng, số tiền lãi đã trả 38.326.561 đồng. Tuy nhiên, từ ngày 27/3/2023 đến nay, khách hàng không thanh toán nợ cho T4. Ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn kể từ ngày 26/5/2023, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn.

Trong thời gian qua, Ngân hàng đã nhiều lần gọi điện đôn đốc, gửi Thông báo thu hồi nợ trước hạn, thông báo khởi kiện yêu cầu ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 thực hiện nghĩa vụ đã cam kết nhưng không thực hiện.

Do việc ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của T4 nên T4 tiến hành thủ tục khởi kiện để thu hồi nợ, đề nghị Tòa án giải quyết:

  • - Buộc ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T tổng số tiền của các khoản vay nêu trên (tạm tính đến ngày 25/9/2024) là: 807.899.876 đồng (Bằng chữ: Tám trăm linh bảy triệu tám trăm chín mươi chín nghìn tám trăm bảy mươi sáu đồng), trong đó bao gồm: nợ gốc là: 635.522.828 đồng, nợ lãi trong hạn là: 12.201.790 đồng, nợ lãi quá hạn: 160.175.258 đồng.
  • - Buộc ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 thanh toán phần nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất quá hạn, lãi phạt theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên kể từ ngày 26/9/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
  • - Sau khi Bản án/Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần T có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của các khoản vay nói trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng, cụ thể tài sản đảm bảo là: Xe Mitsubishi triton; màu trắng, số khung: MMBJLKL10NH050146; Số máy 4N15UHT2180; Biển kiểm soát: 85C-065.43. Theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 85 004738, do Phòng C – Công an tỉnh N cấp ngày 12/05/2022.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 đối với Ngân hàng. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.

Đối với bị đơn ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông A1, bà H1 không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:

Đối với nguyên đơn: Đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Đối với bị đơn: Mặc dù đã được Toà án tống đạt, niêm yết hợp lệ các thông báo tố tụng nhưng bị đơn vẫn vắng mặt, không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là thực hiện đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần T, cụ thể:

  • - Buộc ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T tổng số tiền của các khoản vay nêu trên tính đến ngày 25/9/2024 là: 807.899.876 đồng (T3 trăm linh bảy triệu tám trăm chín mươi chín nghìn tám trăm bảy mươi sáu đồng), trong đó bao gồm: nợ gốc là: 635.522.828 đồng, nợ lãi trong hạn là: 12.201.790 đồng, N1 lãi quá hạn: 160.175.258 đồng.
  • - Buộc ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 thanh toán phần nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất quá hạn, lãi phạt theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên kể từ ngày 26/9/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
  • - Sau khi Bản án/Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần T có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của các khoản vay nói trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng, cụ thể tài sản đảm bảo là: Xe Mitsubishi triton; màu trắng, số khung: MMBJLKL10NH050146; Số máy 4N15UHT2180; Biển kiểm soát: 85C-065.43. Theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 85 004738, do Phòng C – Công an tỉnh N cấp ngày 12/05/2022.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 đối với Ngân hàng. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 phải trả tiền nợ gốc, nợ lãi phát sinh từ Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú ở phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về việc vắng mặt của bị đơn:

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông A1, bà H1 nhưng ông A1, bà H1 không đến tham gia tố tụng mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay, ông A1, bà H1 vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ các chứng cứ, tài liệu và lời khai nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Xét Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 267/2022/HDBD/NTG ngày 19/4/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP T với ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 (gọi tắt là Hợp đồng), Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự và tự nguyện giao kết hợp đồng, nội dung và mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Việc lập hợp đồng được thực hiện đúng theo trình tự pháp luật về tín dụng ngân hàng. Do vậy, các thỏa thuận được thể hiện trong hợp đồng trên là hợp pháp và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.

[2.2.] Thực hiện thoả thuận của hợp đồng tín dụng, Ngân hàng TMCP T đã giải ngân cho ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 tổng số tiền 708.000000 đồng. Ông A1, bà H1 đã nhận đủ số tiền vay và thực hiện việc trả nợ (gốc + lãi) định kỳ theo thỏa thuận. Từ ngày 27/3/2023, ông A1, bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ vụ trả nợ, Ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn kể từ ngày 26/5/2023, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Tổng số tiền bị đơn đã thanh toán là 110.803.733 đồng, trong đó số tiền gốc là 72.477.172 đồng, số tiền lãi là 38.326.561 đồng. Phía nguyên đơn nhiều lần đôn đốc, thông báo việc trả nợ, nhưng bị đơn không thực hiện trả nợ. Do ông A1, bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận hai bên đã ký nên việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ tiền nợ gốc còn 635.522.828 đồng là có cơ sở chấp nhận.

[2.3] Về lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn: Thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng về lãi suất là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật về việc áp dụng mức lãi suất cho vay và đã được Ngân hàng tính toán, thực hiện theo đúng hợp đồng, theo từng giai đoạn điều chỉnh lãi suất của bên cho vay và phù hợp với quy định về áp dụng mức lãi suất của Ngân hàng N3 tại thời điểm điều chỉnh nên có giá trị thi hành đối với các bên. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 267/2022/HDBD/NTG ngày 19/4/2022 với tổng số tiền tính đến ngày 25/9/2024 là 807.899.876 đồng, trong đó nợ gốc là 635.522.828 đồng, nợ lãi trong hạn là: 12.201.790 đồng, nợ lãi quá hạn: 160.175.258 đồng là có cơ sở chấp nhận.

[2.4] Đối với yêu cầu: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 còn phải tiếp tục chịu lãi suất của số tiền nợ gốc phát sinh từ ngày 26/9/2024 theo mức lãi suất quá hạn mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong hợp đồng tín dụng của Ngân hàng. Xét thấy yêu cầu này phù hợp với các nội dung mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.5] Để đảm bảo khoản vay, tại Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 267/2022/HDBD/NTG ngày 19/4/2022, ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 đã tự nguyện thế chấp tài sản đảm bảo là: 01 xe Mitsubishi triton; màu trắng, số khung: MMBJLKL10NH050146; Số máy 4N15UHT2180; Biển kiểm soát: 85C-065.43 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 85 004738, do Phòng C – công an tỉnh N cấp ngày 12/05/2022.

Xét việc thế chấp tài sản nêu trên được xác lập trên ý chí tự nguyện của các bên, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định pháp luật, phù hợp theo quy định tại Điều 319, Điều 323, Điều 303, Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm nên hợp đồng thế chấp đã ký giữa các bên là có hiệu lực thi hành. Do việc bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng có quyền đòi nợ và yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng về việc được kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ số tiền nợ khi bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ.

[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 nhưng ông A1, bà H1 không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không phản đối những tình tiết, sự kiện cũng như những tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng xuất trình nên có cơ sở khẳng định ông A1, bà H1 đã từ bỏ quyền của mình được pháp luật quy định.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng Thương mại cổ phần T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Các điều 319, 323, 303, 401, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự;
  • - Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;
  • - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần T.

  1. Buộc ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T số tiền tính đến ngày 25/9/2024 là: 807.899.876 đồng (T3 trăm linh bảy triệu tám trăm chín mươi chín nghìn tám trăm bảy mươi sáu đồng), trong đó bao gồm: nợ gốc là: 635.522.828 đồng, nợ lãi trong hạn là: 12.201.790 đồng, nợ lãi quá hạn: 160.175.258 đồng.
  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 26/9/2024), ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quá hạn, lãi phạt đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán, tương ứng với thời gian chậm thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
  3. Trường hợp ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng Thương mại cổ phần T có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là: 01 Xe Mitsubishi triton; màu trắng, số khung: MMBJLKL10NH050146; Số máy 4N15UHT2180; Biển kiểm soát: 85C-065.43 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 85 004738, do Phòng C – Công an tỉnh N cấp ngày 12/05/2022. Những ai đang quản lý xe ô tô đó (dưới mọi hình thức) phải có trách nhiệm bàn giao cho cơ quan có thẩm quyền để thi hành án khi kê biên phát mại.
  4. Trường hợp số tiền thu được sau khi phát mại tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bị đơn vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ ngân hàng cho đến khi tất toán. Nếu phát mại tài sản thế chấp giá trị lớn hơn khoản nợ thì số tiền chênh lệch phải trả lại cho chủ sở hữu. Trường hợp nếu bị đơn thanh toán được nợ thì nguyên đơn có nghĩa vụ làm thủ tục giải chấp tài sản và trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 85 004738, do Phòng C – công an tỉnh N cấp ngày 12/05/2022 cho ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1.
  5. Về án phí:
    1. Ông Dương Ngọc A1 và bà Trần Thị Minh H1 phải liên đới chịu 36.236.996 đồng (Ba mươi sáu triệu hai trăm ba mươi sáu nghìn chín trăm chín mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Ngân hàng Thương mại cổ phần T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H2 lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 16.361.725 (Mười sáu triệu ba trăm sáu mươi mốt nghìn bảy trăm hai mươi lăm đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002665 ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt đại diện hợp pháp của nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/9/2024). Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. PR-TC;
  • - Chi cục THADS TP. PR-TC;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thanh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 95/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger