TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ TỈNH SƠN LA Bản án số: 95/2024/HSST. Ngày: 19 – 9 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HÒ - TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hồng Nghiêm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thu Thủy và bà Trịnh Thị Kim Oanh,
- Thư ký phiên tòa: Ông Bàn Văn Sơn– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Mùi Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 94/2024/TLST- ST ngày 23 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2024/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:
Giàng A N, tên gọi khác: Không, sinh năm 1972, tại huyện M, tỉnh Hòa Bình. Nơi ĐKHKTT: Xóm X, xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Đảng phái, đoàn thể: Là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 114-QĐ/UBKTHU huyện M, tỉnh Hòa Bình ngày 28/5/2024; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Nông dân; Con ông Giàng A L, con bà Mùa Thị T (Đều đã chết); bị cáo có vợ là Sồng Y M và 02 con, con lớn sinh năm: 1994; con nhỏ sinh năm: 2000; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V từ ngày 09 tháng 5 năm 2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo Giàng A N: Ông Đặng Văn Q là trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh S. Có mặt.
Hàng A C, tên gọi khác: Không, sinh năm 1983, tại huyện M, tỉnh Hòa Bình. Nơi ĐKHKTT: Xóm X, xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Nông dân; Con ông Hàng A T1 (Đã chết), con bà Sùng Y L1; bị cáo có vợ là Sùng Y L2 và 02 con, con lớn sinh năm: 2012; con nhỏ nhất sinh năm: 2015; Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 22/02/2016 Công an huyện M, tỉnh Hòa Bình, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ, mức xử phạt 3.000.000 đồng. Hàng A C chưa chấp hành nộp phạt.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 09 tháng 5 năm 2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo Hàng A C: Luật sư Nguyễn Bá L3 thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh S. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 09 giờ 20 phút ngày 09/5/2024 tổ Công tác Công an xã L, huyện V, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại bản Co Chàm, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La phát hiện Hàng A C đang đi bộ trên đường Q có biểu hiện liên quan đến ma túy. Tổ công tác đến kiểm tra yêu cầu Hàng A C có gì liên quan đến chất ma túy thì tự giác giao nộp. Hàng A C đã lấy từ túi quần bên trái đang mặc trên người giao nộp cho tổ công tác 01 gói nilon màu đen bên trong chứa 05 viên nén màu hồng, C khai nhận đó là ma túy Chia mua của Giàng A N, trú tại: Xóm X, xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình mục đích để sử dụng để sử dụng.
Mở rộng điều tra, cùng ngày 09/5/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Giàng A N về hành vi Mua bản trái phép chất ma túy. Quá trình bắt giữ đã thu giữ đối với Giàng A N số tiền 100.000 đồng do Nhà bán ma túy cho Hàng A C mà có. Cùng ngày cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với nơi ở của Giàng A N. Kết quả khám xét: Không thu giữ đồ vật, tải liệu gì.
Ngày 09/5/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ và Phòng K Công an tỉnh S tiến hành cân tịnh xác định khối lượng 05 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine thu giữ của Hàng A Chia được 0,53 gam. Lấy 03 viên có khối lượng 0,30 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu ký hiệu C. Mẫu giám định ký hiệu C được bàn giao cho Phòng K Công an tỉnh S giám định chất ma túy, loại ma túy. Vật chứng còn lại có khối lượng 0,23 gam, ký hiệu C1 lưu kho vật chứng.
Tại Kết luận giám định số 1053 ngày 10/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: Mẫu ký hiệu C gửi giám định là ma túy: Loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giảm định là 0,30 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,53 gam; loại Methamphetamine. H lại đối tượng giám định: Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Giàng A N và Hàng A C khai nhận: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 08/5/2024, Giàng A N một mình đi bộ đến khu vực chợ P, xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông, khoảng 60 tuổi, không biết tên, địa chỉ. Qua trao đổi, N hỏi và mua được của người phụ nữ đó một gói nilon màu đen bên trong đựng 06 viên hồng phiến với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Nhà mang về lán nương của gia đình Nhà ở xóm X, xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, N lấy một viên hồng phiến ra sử dụng hết. Còn lại 05 viên hồng phiên Nhà gói lại bằng mảnh nilon màu đen ban đầu rồi cất giấu trong hộp đựng thuốc lào để ở bản uống nước trong lán nương của gia đình Nhà. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 09/5/2024 Hàng A C đi bộ một mình từ lán nương của gia đình Chia ở xóm C, xã P, huyện M để về nhà ở xóm X, xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Trên đường về Chia rẽ vào lán nương của Nhà ở xóm X, xã P, huyện M chơi. Tại đây, C hỏi mua của Nhà 100.000 đồng ma túy loại Hồng phiến, N đồng ý. Sau khi nhận tiền, N đi vào trong lán nương mở hộp đựng thuốc lào lấy gói nilon màu đen bên trong đựng 05 viên Hồng phiền ra bán cho C. Chia nhận gói hồng phiến cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi ra đường Q để về nhà. Đến khoảng 09 giờ 20 phút cùng ngày, C đi đến khu vực bản C, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La thì gặp tổ công tác Công an huyện V, tỉnh Sơn La đang làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện, bắt quả tang.
Tại bản Cáo trạng số 62/CT-VKS ngày 22/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, truy tố Giàng A N về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự, truy tố Hàng A C về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
Giàng A N phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy; Hàng A C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ khoản 1 Điều 251, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Giàng A N từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma tuý. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hàng A C từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phòng bên trong đựng 0,23 gam Methamphetamine + phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + mảnh nilon ban đầu; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy đối với Giàng A N và Hàng A C.
- Tịch thu sung ngân sách số tiền 100.000 đồng.
Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Áp dụng Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội: Miễn án phí cho bị cáo.
Các bị cáo nhất trí với lời luận tội của Viện kiểm sát, không có tranh luận gì.
Ý kiến bào chữa của người bào chữa cho bị cáo cho bị cáo Giàng A N nhất trí với tội danh của Viện kiểm sát. bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế. quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo mức hình phạt mực thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị. Miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
Ý kiến bào chữa của người bào chữa cho bị cáo cho bị cáo Hàng A C nhất trí với tội danh của Viện kiểm sát. bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt tù từ 16 đến 18 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Chứng cứ xác định bị cáo có tội:
Ngày 09/5/2024 Giàng A N có hành vi bán 0,53 gam Methamphetamine cho Hàng A Chia với giá 100.000 đồng, nhằm mục đích kiếm lời, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự
Ngày 09/5/2024 Hàng A C bị phát hiện bắt quả tang tàng trữ trái phép là 0,53 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân, do vậy hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[2]. Tính chất hành vi của các bị cáo: Các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, bị cáo Giàng A N mua bán, bị cáo C tàng trữ 0,53 gam Methamphetamine, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội nhất là tội phạm về ma túy. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi các bị cáo, nhằm dăn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
[3] Xét nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; Bị cáo Giàng A N có bố đẻ là người có công với cách mạng, là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Hàng A C đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra phát hiện tội phạm do vậy là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân các bị cáo: Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức biết rõ tác hại của ma tuý là nhà nước cấm, coi thường pháp luật, cố tình phạm tội nghiêm trọng. Bị cáo Hàng A C có 01 tiền sự phạt vi phạm hành chính về hành vi Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ.
Mức án Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội các bị cáo đã gây ra, và nhân thân của các bị cáo, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do vậy không chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Hàng A C.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên tham gia tố tụng tuân theo và chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[6]. Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phòng bên trong đựng 0,23 gam Methamphetamine + phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + mảnh nilon ban đầu; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy đối với Giàng A N và Hàng A C, là những vật cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng, do vậy tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 100.000 đồng các bị cáo dùng vào việc trao đổi mua bán ma túy, do vậy tịch thu sung ngân sách Nhà Nước.
Về nguồn gốc số ma tuý Giàng A N khai nhận mua được của mộtngười phụ nữ dân tộc Mông, khoảng 60 tuổi đã bán ma túy cho Giàng A N vào ngày 08/5/2024: Giàng A N khai không biết họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
[7]. Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đối với Giàng A N căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Giàng A N, phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt Giàng A N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/5/2024. Không phạt bổ sung bị cáo.
2. Đối với Hàng A C căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Hàng A C, phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt Hàng A C 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/5/2024. Không phạt bổ sung bị cáo.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phòng bên trong đựng 0,23 gam Methamphetamine + phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + mảnh nilon ban đầu; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy đối với Giàng A N và Hàng A C.
Tịch thu sung ngân sách số tiền 100.000 đồng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 98 ngày 27/8/2024 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Hồ.
4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hồng Nghiêm |
Bản án số 95/2024/HSST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 95/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 09/5/2024 Giàng A N có hành vi bán 0,53 gam Methamphetamine cho Hàng A Ch với giá 100.000 đồng, nhằm mục đích kiếm lời, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự Ngày 09/5/2024 Hàng A Ch bị phát hiện bắt quả tang tàng trữ trái phép là 0,53 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân, do vậy hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
