|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 95/2024/DS-PT Ngày 12/9/2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Chí Công
Các Thẩm phán:
Ông Lê Văn Hà
Ông Trần Văn Thưởng
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thuý Vân, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Hoàng Hải Ly - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 09 và 12 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 23/2024/TLPT-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 về "Tranh chấp quyền sử dụng đất".
Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 70/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 7 năm 2024; và Thông báo thời gian địa điểm mở lại phiên tòa số 208/TB-TA ngày 27/6/2024, số 231/TB-TA ngày 25/7/2024, Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 234/TB-TA ngày 06/8/2024, Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 243/TB-TA ngày 21/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn G và bà Dương Thị Tố N; địa chỉ: B N, TỔ B, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T và bà Nguyễn Thị T1; địa chỉ: B N, TỔ B, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người làm chứng:
- 3.1. Ông Nguyễn Trọng K; địa chỉ: A N, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- 3.2. Ông Đào Kim T2; địa chỉ: Tổ B, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- 3.3. Bà Phạm Thị H; địa chỉ: H C, tổ C, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- 3.4 Ông Phan Quang P; địa chỉ: A N, tổ B, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- 3.5. Ông Hồ Văn K1; địa chỉ: C Ú, tổ C, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Minh T và bà Nguyễn Thị T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Trần Văn G và bà Dương Thị Tố N trình bày:
Ngày 28/3/1993 gia đình ông, bà mua của ông Phạm Lưu 0 lô đất vườn và nhà, chiều rộng 09m, dài 120m, diện tích 1080m², trên đất có tài sản gồm: 01 căn nhà cấp 4 kích thước 10,5m x 6,5m, có giếng, bể nước, nhà tắm, bếp, hàng rào cọc gỗ kẽm gai từ trước ra sau, cuối vườn có trụ sắt (hàng rào do ông K người mua đất của ông L năm 1991 rào). Khi mua thì thống nhất giếng cho gia đình nhà ông T sử dụng 03 năm.
Năm 1995 gia đình ông, bà có làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được UBND phường H xác nhận ngày 10-12-1995. Vào các ngày 24/4/1997, 13/12/1995 gia đình ông, bà có làm biên bản xác nhận không tranh chấp với các hộ lân cận có ông Trần Xuân N1 ở phía Bắc ký; phía Nam có ông T ký xác nhận, có tường xây và hàng rào ván gỗ kẽm gai dài 125m, việc xây dựng không có tranh chấp; phía Đông có ông Võ Tấn M xác nhận, không có tranh chấp. Sau đó Ủy ban nhân dân phường H nói không làm bìa được. Đến năm 1996 gia đình ông, bà có làm đơn gửi UBND phường xin xác nhận quyền sở hữu nhà đất, UBND phường đã họp dân để xác nhận.
Năm 1997 sau khi đo đạc toàn phường, gia đình ông, bà đã nhường 30cm phần tấm đanh cho nhà bà T1, tất cả các gia đình đều thống nhất ký xác nhận kết quả đo, theo đó gia đình ông có 8,71m phía trước, 7,96m phía sau. Sau đó gia đình bà T1 làm nhà thì lấn sang trụ giếng nhà bà. Đến khi bà T1 làm chuồng heo lại lấn sang tiếp 15cm. Gia đình ông đã phải nhường nhịn. Trong năm 1997 ông T thông báo dỡ hàng rào để làm chuồng heo, gia đình ông đã lập biên bản xác nhận không tranh chấp của các hộ lân cận, ông T cũng ký và ghi vào biên bản nội dung “việc xây dựng của gia đình tôi và gia đình ông G không có tranh chấp”, ký xong gia đình bà làm hồ sơ nộp về phường thì ông T lại tranh chấp dẫn đến nay không làm được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện trạng sử dụng đất nhà bà hiện nay, ranh giới giữa nhà bà và nhà ông T, bà T1 có tường xây dài khoảng 30m, phía dưới cuối vườn là trụ bê tông cọc sắt.
Khi mua đất của ông Lưu S ranh giới đất bà T1 có giếng, có bể, có nhà tắm, nền chuồng bò. Quá trình sử dụng gia đình ông, bà đã xây dựng chuồng heo trên nền chuồng bò cũ tại vị trí tranh chấp 0,8m như xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/11/2022. Phía gia đình bà T1 đã xây tường nhà ở ổn định từ trước đến góc tường. Nhà ông cũng sử dụng đất ở ổn định cho đến năm 2003 mới phát sinh tranh chấp cho đến nay. Từ vị trí góc tường nhà bà T1 đến trụ sắt cuối đất trước đây có hàng rào do ông K xây dựng nhưng do quá trình sử dụng đã lâu nên hiện nay không có hàng rào cũng như không có gì để làm ranh giới đất của hai bên. Cuối đất có trụ sắt là do ông K đóng nó trùng với hàng rào do ông K xây dựng.
Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án ông, bà yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông bà và ông T, bà T1 với diện tích 38,7m² theo như số liệu đo của Phòng T5 và buộc bà T1 ông T chấm dứt hành vi cản trở để ông bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xem xét thẩm định tại chỗ xác định diện tích đất tranh chấp 40,7m². Vì vậy tại phiên toà ông, bà thay đổi yêu cầu khởi kiện ông yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp đất đai giữa gia đình ông và gia đình ông T, bà T1 với diện tích tranh chấp 40,7m² như tứ cận trong biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/11/2022. Ông, bà rút đối với yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông T bà T1 chấm dứt hành vi cản trở để ông bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
* Bị đơn ông Nguyễn Minh T và bà Nguyễn Thị T1 trình bày:
Ngày 18 tháng 3 năm 1992 gia đình ông, bà có mua một lô đất của ông Nguyễn Trọng K có chiều ngang phía trước 8,7m, chiều ngang phía sau 8,5m, chiều dài 125m. Thửa đất do ông Phạm Lưu B cho ông K, ông K bán lại cho gia đình ông, bà. Khi mua đất giữa gia đình ông, bà và gia đình ông K có lập giấy viết tay mua bán, có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường H và có ông Phạm Lưu K2 xác nhận. Phần đất của ông có trồng cây cà phê và 1/3 giếng nước bên phía nhà ông L, có bệ và có ván bìa che để tắm, trên giếng có kẽm gai nằm khoảng 1/3 giếng để xác định ranh giới đất của gia đình ông và gia đình ông L. Các bên chỉ ranh giới chứ không có gì làm mốc ngăn cách giữa hai thửa đất. Gia đình ông, bà và gia đình ông L dùng chung giếng từ năm 1992. Đến năm 1993 ông L bán nhà và đất cho ông G, bà N thì gia đình ông, bà vẫn sử dụng chung giếng. Cho đến vài tháng sau, ông không nhớ rõ thời gian cụ thể thì gia đình ông G xây dựng chuồng heo và không cho gia đình ông sử dụng chung giếng nước. Khi ông G bà N mua nhà đất của ông L thì không xác định ranh giới với gia đình ông. Sau đó gia đình ông G bà N xây dựng chuồng heo (hiện trạng như xem xét thẩm định tại chỗ tháng 11 năm 2022) qua phần đất của gia đình ông, bà thì gia đình ông, bà không đồng ý nên tranh chấp từ năm 1993 cho đến nay. Khi mua đất gia đình bà xây dựng nhà cấp IV để ở, chiều dài không rõ là bao nhiêu nhưng chưa đến vị trí giếng. Sau đó các bên tranh chấp thời gian kéo dài mà gia đình bà cần nhà để ở và chăn nuôi nên xây dựng nhà kéo dài như hiện nay có đoạn 8,3m; 7,9m; 8,2m; trước đó gia đình ông G cũng có tranh chấp với gia đình ông, bà và gia đình ông Trần Xuân N1 đến năm 2013 gia đình ông G thoả thuận với gia đình ông N1 đập chuồng heo và bờ rào có từ trước xê dịch về phía đất của ông N1 khoảng 1m để xây dựng lại (theo ông được biết hiện tại chỗ bờ rào ông G mới xây đất bên phía nhà ông N1 dư khoảng 17cm) còn phần đất của nhà bà, ông G không trả lại mà giữ nguyên hiện trạng. Nhìn sơ đồ hiện trạng phía trước của nhà ông N1 và nhà ông G bà N đoạn 7,18m + 5,46m thì nhà ông N1 là đường thằng nhưng sơ đồ hiện trạng xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/11/2022 bà N chỉ thì có hình dạng giữa nhà ông G và nhà ông N1 là đường cong về phía nhà ông G bà N nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Theo hồ sơ kĩ thuật thửa đất năm 1997, ông, bà chỉ thống nhất số liệu đo chiều ngang phía trước, số liệu đo chiều ngang phía sau ông không thống nhất vì phía sau ông bà không dẫn chỉ đo đạc, ông không biết phường căn cứ vào giấy tờ nào để xác định ranh giới. Ông chỉ ký vào biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất vào ngày 10/6/1997, khi ông thấy sơ đồ hoạ mốc giới thửa đất giữa nhà bà và nhà ông G là đường thẳng, không phải là đường cong như ông G bà N chỉ như hiện nay.
Nay ông G bà N khởi kiện yêu cầu ông, bà trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm 40,7m² có tứ cận như xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/11/2022 thì ông, bà không thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông G bà N vì đất của ông mua của ông Nguyễn Trọng K có giấy tờ ghi kích thước rõ ràng, chiều ngang phía trước 8,7m, chiều ngang phía sau 8,5m, chiều dài 125m, khi mua có ông L ký xác nhận giáp ranh. Trong quá trình xây dựng nhà ở và chăn nuôi thì ông, bà mới xây dựng từng tường thành nhiều đoạn, đoạn chiều ngang 8,3, đoạn chiều ngang 7,9m, đoạn chiều ngang 8,2m như hiện nay nhưng giữa nhà ông và nhà ông G vẫn tranh chấp từ năm 1997 khi ông G bà N xây dựng chuồng heo cho đến nay. Hiện nay ông, bà thống nhất như kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/11/2022. Phần diện tích đất đang tranh chấp là diện tích của gia đình ông, không phải của ông G bà N. Đất của ông G bà N khi mua chỉ ghi chung chung diện tích là 1000m², không có kích thước rõ ràng, tài liệu chứng cứ được ghi trong biên bản hoà giải tại Ủy ban nhân dân phường H ngày 06/01/2011. Ông G bà N trình bày phía sau, giữa đất của bà và của nhà ông G có trụ sắt đóng từ trước đến nay là ranh giới đất giữa hai nhà là không đúng, trụ sắt là do ông G bà N tự đóng, ông không biết.
* Những người làm chứng trình bày:
Ông Nguyễn Trong K3 trình bày: Trước đây vợ chồng ông có chuyển nhượng đất cho ông T và bà T1, việc mua bán có lập văn bản giữa hai bên. Khi mua bán hai bên có đo mặt trước và mặt sau, có hàng rào ngăn cách giữa hai thửa đất. Về các vấn đề khác do thời gian đã lâu nên ông không nhớ rõ nữa, đề nghị Toà án không triệu tập ông để làm việc nữa vì ông không còn liên quan gì đến việc tranh chấp đất giữa ông G, bà N với ông T bà T1. Ngoài ra ông không trình bày gì thêm.
Ông Đào Kim T2 trình bày: Năm 1991 ông có viết giúp ông Phạm L và ông Nguyễn Trọng K giấy sang nhượng đất ngày 02/4/1991 theo đó ông L bán cho ông K lô đất có chiều dài 125m, chiều rộng phía trước 8,7m, chiều rộng phía sau 8,5m. Hai bên thoả thuận giếng nước trên đất cho sử dụng trong thời hạn 03 năm. Về sau này ông K chuyển nhượng đất như thế nào thì ông không biết.
Bà Phạm Thị H trình bày: Bà là con đẻ của ông Phạm L, về nguồn gốc thửa đất hiện nay gia đình ông Trần Văn G và gia đình ông Nguyễn Minh T đang sử dụng là của ông Phạm Lưu . Còn cụ thể việc cha bà bán đất như thế nào thì bà không được biết. Đối với giếng nước và bể nước trên phần diện tích đất này là do ông Phạm Lưu L1 từ trước để sử dụng. Ngoài các thông tin này thì bà không còn biết thông tin gì nữa nên đề nghị Toà án không triệu tập bà đến Toà án để làm việc, tham gia phiên toà nữa.
Ông Phan Quang P trình bày: Thời điểm gia đình ông Trần Văn G và gia đình ông Nguyễn Minh T3 mua đất ông là tổ trưởng tổ dân phố A, phường H nên có nhờ ông ký xác nhận vào văn bản mua bán đất, còn cụ thể việc mua bán đất của gia đình ông G, ông T như thế nào, ranh giới, tứ cận ra sao thì ông không nắm được. Do đó, đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, không triệu tâọ ông đến tham gia phiên toà.
Ông Hồ Văn K1 trình bày: Năm 1989 ông cư trú ở phía sau lô đất của ông Trần Văn G và ông Nguyễn Minh T. Thời điểm đó chỉ có con đường mòn nhỏ đi lại rất khó khăn nên sau đó ông xin các hộ có đất ở đó cho ông được mở rộng con đường mòn cho dễ đi lại, còn cụ thể thời gian nào thì ông không nhớ. Thời điểm này đất của gia đình ông G và ông T không có hàng rào ngăn cách mà chỉ trồng cà phê. Đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, không triệu tập ông đến tham gia phiên toà.
* Với những nội dung trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DSST ngày 09 tháng 01 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã quyết định:Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 144, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 175, 176 của Bộ luật Dân sự; Áp dụng các Điều 5, 96, 203 của Luật Đất đai năm 2013;Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn G và bà Dương Thị Tố N, cụ thể:
- Ông Trần Văn G và bà Dương Thị Tố N được sử dụng phần đất diện tích 19,88m² có kích thước: Phía Đông giáp đất ông G, ông T có chiều dài 0,36m, phía Tây giáp đường N có chiều dài 0,21m, phía Nam giáp ông T bà T1 có chiều dài 9,42m + 3,07m + 22,6m + 0,18m; phía Bắc giáp đất ông G bà N có chiều dài 35,04m.
- Ông Trần Văn G và bà Dương Thị Tố N được sử dụng phần đất diện tích đất 10,41m2 có kích thước phía Đông giáp đường đất có chiều dài 0,1m, phía Tây giáp đất ông G có chiều dài 0,18m, phía Nam giáp ông T bà T1 có chiều dài 77,46m, Phía Bắc giáp ông G bà N có chiều dài 77,45m.
- Ông Nguyễn Minh T và bà Nguyễn Thị T1 được sử dụng phần đất diện tích đất 10,41m2 có kích thước phía Đông giáp đường đất có chiều dài 0,1m, phía Tây giáp đất ông G có chiều dài 0,18m, phía Nam giáp ông T bà T1 có chiều dài 77,47m, Phía Bắc giáp ông G bà N có chiều dài 77,46m.
(có sơ đồ hiện trạng kèm theo).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên quyền, nghĩa vụ thi hành án; xử lý chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.
* Ngày 17/01/2024, bị đơn ông Nguyễn Minh T và bà Nguyễn Thị T1 có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xác định diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông, bà.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện;
Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật; tại phiên tòa Hội đồng xét xử cũng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng kể từ khi bắt đầu phiên tòa cho đến trước khi nghị án. Về nội dung Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Minh T và bà Nguyễn Thị T1 trong thời hạn luật định nên được xem xét, xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Ông Phạm Lưu C căn nhà, giếng nước và đất vườn tại tổ B phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Ngày 02/4/1991 ông Phạm Lưu L2 "Giấy sang nhượng đất" chuyển nhượng một phần diện tích có chiều rộng đường N 8,7m, mặt sau 8,5m, dài 125m, trên đất có cây cà phê, cây mít, cây bơ cho ông Nguyễn Trọng K và bà Nguyễn Thị C1. Ngày 18/3/1992 ông K cùng vợ là bà Nguyễn Thị C1 lập "Giấy sang nhượng đất" chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất mà ông K, bà C1 đã nhận chuyển nhượng của ông L cho ông Nguyễn Minh T và bà Nguyễn Thị T1. Giấy sang nhượng đất viết tay, có chữ ký của ông Nguyễn Trọng K và bà Nguyễn Thị C1, ông Phạm L; có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường H với nội dung: thửa đất có chiều rộng mặt trước phía Tây giáp đường Nguyễn Viết X dài 8,7m, chiều rộng mặt sau phía Đông giáp đất ông P1 dài 8,5m, chiều dài là 125m, phía Nam giáp nhà cô H1 và phía Bắc giáp nhà ông L. Sau khi nhận chuyển nhượng, năm 1992 ông T, bà T1 xây dựng nhà ở và cùng với ông L sử dụng chung giếng nước.
Ngày 29/3/1993 ông Phạm Lưu tiếp T4 chuyển nhượng cho ông Trần Văn G và bà Dương Thị Tố N căn nhà và đất còn lại. "Văn bản bán nhà, đất vườn" do ông Trần Văn G viết có nội dung: ông Phạm Lưu B căn nhà xây lợp ngói có diện tích 10,5m x 6,5m tại tổ A, phường H cho ông G và bà N. Tổng diện tích đất và nhà là 1080m², cây ăn quả (cà phê), tài sản cố định có 01 giếng nước, bể, nhà tắm, bếp, đất rộng 09m, dài 120m.
Sau khi ông G, bà N nhận chuyển nhượng nhà, đất của ông L thì xảy ra việc tranh chấp với ông T, bà T1. Đến khi ông G, bà N xây dựng chuồng heo gần giếng nước thì hai bên tiếp tục tranh chấp gay gắt cho đến nay. Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thì diện tích các bên tranh chấp đo đạc thực tế là 40,7m² kéo dài từ đầu đến cuối thửa đất, trong đó bao gồm một phần giếng nước.
[3]. Xét kháng cáo của ông T, bà T1, thấy rằng:
[3.1]. Ông T, bà T1 cho rằng khi nhận chuyển nhượng từ ông K, ông L có chỉ ranh giới rõ ràng, trên giếng nước lúc đó có cuộn dây thép gai để trên 1/3 giếng làm ranh giới giữa hai bên. Theo "Giấy sang nhượng đất" ngày 02/4/1991 ông Phạm Lưu chuyển N2 cho ông Nguyễn Trọng K có thể hiện trên đất có cây cà phê, mít, bơ. Riêng đối với giếng nước thì ông L cho ông K sử dụng 03 năm. Còn "Giấy sang nhượng đất" ngày 19/3/1992 ông T, bà Thu N3 chuyển nhượng từ ông K không đề cập gì đến giếng nước. Ông K khai tại biên bản hòa giải của phường H ngày 06/11/2011: "khi tôi bán đất cho cô T1 có ghi rõ diện tích (8,7m x 8,5m). Giếng của cụ L3, nằm 1/3 diện tích trong đất tôi, cho tôi uống 03 năm" (BL 233). Tuy nhiên tại biên bản làm việc với Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T5 ngày 04/3/2013 ông K lại trình bày: "Năm 1991 ông Phạm Lưu B cho tôi lô đất rộng 8,7m trước, 8,5m mặt sau. Lô đất không thẳng do có cái giếng nằm trên ranh giới đất của ông L. Ông L nói nếu đồng ý thì mua, không thì thôi chứ ông không bán cái giếng. Sau khi thỏa thuận, ông L đồng ý cho tôi sử dụng giếng 03 năm" (BL 264). Tại biên bản thẩm định ngày 22/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku thể hiện: đất ông T, bà T1 sử dụng chiều rộng mặt đường N (đã trừ chỉ giới xây dựng) là 8,44m, nếu cộng cả phần đất tranh chấp dài 0,2m mặt đường Nguyễn Viết X thì mới dài được 8,64m, chiều dài chỉ 112,48m. Như vậy thực tế diện tích sử dụng của ông T và bà T1 nếu cộng cả phần diện tích tranh chấp cũng không đủ chiều rộng là 8,7m và dài 125m như số liệu xác định trong Giấy sang nhượng đất. Do vậy việc ông T, bà T1 cho rằng toàn bộ diện tích đất tranh chấp nêu trên là thuộc quyền sử dụng của ông bà là không có cơ sở.
[3.2]. Ông G, bà N cho rằng theo "Văn bản bán nhà đất vườn" lập ngày 29/3/1993 thì tổng diện tích đất ông nhận chuyển nhượng của ông Phạm Lưu L4 1080m², trên đất còn có giếng nước, nhà tắm, bếp, đất rộng 09m, dài 120m. Văn bản có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường H. Xét chữ viết trong "Văn bản bán nhà đất vườn" ngày 29/3/1993 là của ông G. Tuy nhiên, phần chữ "diện tích 1080m², giếng nước, bể, nhà tắm, bếp. Đất rộng 9m, dài 120m", số 1080 có sửa số "0" thành số "8"; các chữ còn lại có nét mực khác so với nét mực của văn bản ban đầu. Ông G thừa nhận, sau khi viết giấy mua bán xong thì do thửa đất dài nên mới ghi là "> 1000", tại Ủy ban nhân dân phường H thì mới sửa lại thành "1080" và ghi thêm nội dung "bể, nhà tắm, bếp". Tuy nhiên hiện nay ông Phạm L đã chết nên không có cơ sở tin lời trình bày trên của ông G, bà N là sự thật. Mặt khác, tại biên bản hòa giải của Ủy ban nhân dân phường H ngày 06/01/2011 có đoạn ghi thửa đất của ông G như sau "...ông N1 mua trước, đến cô T1, sau cùng là ông G. Nhưng chỉ có giấy tờ ông N1, bà T1 có chiều dài, rộng ghi rõ. Riêng ông G chỉ ghi chung chung là 1000m²" (BL 233). Do đó có căn cứ cho rằng phần chữ số "1080 và chữ "giếng nước, bể, nhà tắm, bếp. Đất rộng 9m, dài 120m" là sau này các bên tranh chấp nên ông G tự ghi thêm. Cũng tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/11/2022 thể hiện: đất ông G, bà N sử dụng có phía Tây chiều rộng mặt đường Nguyễn Viết X (đã trừ chỉ giới xây dựng) là 8,43m, nếu cộng cả phần đất tranh chấp dài 0,2m mặt đường Nguyễn Viết X thì mới dài được 8,63m, chiều dài chỉ 112,56m. Như vậy, ông G, bà N cho rằng toàn bộ diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông, bà cũng là không có cơ sở.
[3.3]. Hồ sơ kỹ thuật thửa đất ngày 15/11/1997 (BL 149, 150) chỉ thể hiện chiều dài phía Đông và phía Tây của thửa đất. Cụ thể chiều dài phía Tây của thửa đất bị đơn sử dụng là 8,7m, nguyên đơn sử dụng 8,71m; chiều dài phía Đông của thửa đất bị đơn sử dụng 8,27m, nguyên đơn sử dụng 7,96m. Tuy nhiên bị đơn chỉ thống nhất số liệu phía Tây, còn phía Đông thì không đồng ý. Số liệu thể hiện ở hồ sơ kỹ thuật năm 1997 so với thực tế hiện nay là không phù hợp với hiện trạng sử dụng và số đo hiện nay, do đó nếu căn cứ vào hồ sơ này cũng không thể xác định được các đoạn đang tranh chấp là thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn hay bị đơn.
[4]. Về các đoạn tranh chấp.
[4.1]. Đoạn tranh chấp từ mép đường N đến góc tường xây có diện tích đo đạc là 19,88m². Đoạn tranh chấp này bao gồm một phần đất trống, một phần giếng nước, một phần bể nước và một phần diện tích chuồng heo ông G, bà N xây dựng đến đoạn tranh chấp 0,8m, còn từ đoạn tranh chấp 0,8m đến góc tường là tường xây của ông T và bà T1. Nguyên đơn xuất trình các tài liệu về xác nhận ranh giới các ngày 24/4/1997 và ngày 13/02/1995 có chữ ký của ông T xác nhận không tranh chấp với ông G, bà N nhưng ông T cho rằng việc do ông G và bà N đồng ý sau này xây dựng thì trả lại phần đất bên này cho ông T để làm giấy tờ. Xét thấy tại các biên bản này các bên không ghi rõ kích thước từng đoạn tranh chấp mà chỉ ghi chiều rộng, chiều dài của thửa đất. Mặt khác, sau khi ký giáp ranh với nhau nhưng từ năm 1995 cho đến nay các bên vẫn tranh chấp liên tục, không bên nào có thể đăng ký được quyền sử dụng đất. Do đó ông G và bà N cho rằng đoạn tranh chấp này ông, bà đã sử dụng ổn định từ năm 1997 cho đến nay và ông T, bà T1 không tranh chấp là không có cơ sở.
[4.2]. Đối với đoạn tranh chấp từ góc tường xây nhà ông T, bà T1 đến cuối vườn đo đạc là 20,82m². Kết quả xem xét thẩm định thể hiện đoạn tranh chấp này là đất trống, không có mốc giới ngăn cách giữa hai thửa đất. Nguyên đơn cho rằng khi nhận chuyển nhượng đất của ông L đã có hàng rào ngăn cách đất ông L với ông T, bà T1 nên ông đã đóng cọc sắt ngay hàng rào làm mốc giới nhưng phía bị đơn không thừa nhận. Tại biên bản xác minh, ông K cho rằng ranh giới đất có hàng rào, cọc gỗ nhưng kết quả xem xét tại chỗ thể hiện không có gì ngăn cách giữa 02 thửa đất. Tại biên bản làm việc ngày 17/12/2014 (BL 08-09) của Ủy ban nhân dân phường H thể hiện cọc sắt do phía nguyên đơn tự đóng. Ông T, bà T1 cho rằng theo giấy mua bán phía sau rộng 8,5m, nhưng chiều dài của thửa đất đo đạc thực tế là không đủ, nên không có cơ sở khẳng định như trong giấy mua bán đất.
[5]. Nguồn gốc đất của nguyên đơn và bị đơn đều là do nhận chuyển nhượng từ một chủ đất cũ, trong đó ông T, bà T1 là người nhận chuyển nhượng trước. Ông G, bà N là người nhận chuyển nhượng sau nhưng không yêu cầu chủ đất là ông L, người sử dụng đất liền kề là ông T, bà T1 xác định cụ thể ranh giới sử dụng, nhất là đoạn có giếng nước, bể nước để phân định ranh giới của hai thửa đất. Việc thỏa thuận sử dụng chung giếng nước trước và sau khi chuyển nhượng giữa ông L với ông K, giữa ông T, bà T1 với ông L và sau này là với ông G, bà N là không rõ ràng. Giấy tờ mua bán giữa các bên mặc dù có xác nhận của chính quyền địa phương nhưng không ghi diện tích, tứ cận, rõ ràng hoặc nếu có ghi thì số liệu lại không phù hợp với hiện trạng sử dụng. Khi tranh chấp xảy ra, các bên đều căn cứ vào giấy tờ mua bán ban đầu để xác định quyền sử dụng đất của mình, tuy nhiên kết quả đo đạc thực tế thể hiện cả bên nguyên và bên bị đều thiếu đất so với số liệu ghi trong giấy tờ mua bán, chuyển nhượng. Chủ đất cũ là ông L đã chết, còn ông K là người chuyển nhượng đất cho ông T, bà T1 cũng khai không thống nhất, không nhớ cụ thể; những người làm chứng khai họ chỉ biết có sự việc mua bán, chuyển nhượng, còn diện tích cụ thể họ không biết. Trong quá trình sử dụng, các bên có xây dựng mới, cải tạo công trình cũ, có xác định ranh giới với nhau nhưng cũng không rõ ràng, dứt khoát dẫn đến tranh chấp nhiều năm. Quá trình giải quyết vụ án không đương sự nào đưa ra được chứng cứ chứng minh chính xác ranh giới của hai thửa đất, không chứng minh được phần diện tích đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình. Xét thấy việc tranh chấp giữa các bên đã kéo dài gần 30 năm, chính quyền địa phương đã nhiều lần hòa giải nhưng vẫn không thành, không bên nào có thể đăng ký được quyền sử dụng đất. Tòa án cấp sơ thẩm chia đôi phần diện tích tranh chấp phía sau là hợp lý, nhưng lại xác định toàn bộ diện tích tranh chấp phía trước thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn là không có cơ sở, không đảm bảo quyền lợi cho bị đơn. Do vậy để đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, chấm dứt tranh chấp kéo dài, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng mỗi bên được sử dụng 1/2 diện tích đất tranh chấp là phù hợp.
[6]. Về chi phí tố tụng: Căn cứ vào các Điều 157, 158, 165,166 Bộ luật Tố tụng dân sự: Mỗi bên đương sự phải chịu một nửa tiền chi phí tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định, đo vẽ và định giá là 16.815.870đ. Do vậy bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn 1/2 tiền chi phí tố tụng là 8.407.935₫.
[7]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Mỗi bên đương sự phải chịu 300.000đ án phí không có giá ngạch.
[8]. Về án phí phúc thẩm: Do cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Minh T và bà Nguyễn Thị T1. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 144, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; ap dụng các Điều 175, 176 của Bộ luật Dân sự; các Điều 5, 96, 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Ông Trần Văn G và bà Dương Thị Tố N được sử dụng phần đất diện tích 20,35m² có kích thước: Phía Đông giáp đường đất dài 0,1m, phía Tây giáp đường N dài 0,1m, phía Nam giáp đất ông T, bà T1 dài lần lượt 9,42m + 3,07m + 22,6m + 77,47m; phía Bắc giáp đất ông G, N dài 35,04m + 77,45m.
- Ông Nguyễn Minh T và bà Nguyễn Thị T1 được sử dụng phần đất diện tích đất 20,35m² có kích thước: phía Đông giáp đường đất dài 0,1m, phía Tây giáp đường N dài 0,1m, phía Nam giáp đất ông T, bà T1 dài 9,42m + 3,07m + 77,47m, phía Bắc giáp ông G, bà N dài 77,46m.
- Ông Trần Văn G và bà Dương Thị Tố N phải tháo dỡ một phần chuồng heo có diện tích 1,2m² và một phần bể nước có diện tích 0,5m² để trả lại một phần diện tích đất cho ông Nguyễn Minh T và bà Nguyễn Thị T1.
(Có sơ đồ đo vẽ kèm theo bản án này và là một phần không thể tách rời của bản án này).
- Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Minh T và bà Nguyễn Thị T1 phải trả cho ông Trần Văn G và bà Dương Thị Tố N số tiền 8.407.935đ (tám triệu bốn trăm lẻ bảy nghìn chín trăm ba mươi lăm đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trần Văn G và bà Dương Thị Tố N phải chịu 300.000đ án phí không có giá ngạch để sung quỹ Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền 750.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001558 ngày 13/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Pleiku. Ông G bà N được trả lại số tiền 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng)
Ông Nguyễn Minh T và bà Nguyễn Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
2. Án phí dân sự phúc thẩm: Trả lại cho ông Nguyễn Minh T và bà Nguyễn Thị T1 300.000đ đã tạm nộp theo biên lai thu số 0001239 ngày 22/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
3. Các quyết định khác của Bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
|
Các Thẩm phán |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Lê Văn Hà Trần Văn Thưởng |
Đặng Chí Công |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Chí Công |
Bản án số 95/2024/DS-PT ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 95/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
