Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20 - 8 - 2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Minh Trí;
  • 2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 301/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thùy T, sinh năm 1989; địa chỉ thường trú: Số A N, Tổ H, Khu phố F, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: Số A Đ, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
  2. Bị đơn: Ông Lê Thế D, sinh năm 1985; địa chỉ thường trú: Số A N, Tổ H, Khu phố F, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 06/6/2024, nguyên đơn bà Lê Thị Thùy T trình bày: Bà Lê Thị Thùy T và ông Lê Thế D tự nguyện tìm hiểu nhau, kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương vào ngày 29/8/2014. Quá trình sống chung, vợ chồng sống xa nhau do công việc làm ăn mỗi người một nơi, quan điểm sống và cách nuôi dạy con cũng khác biệt nhau. Chính những nguyên nhân đó dẫn tới vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Dù cả hai đã cố gắng tìm tiếng nói chung để hàn gắn nhưng không có kết quả mà càng ngày mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đỉnh điểm ngày 21/4/2024 ông D đánh bà T chảy máu vùng trán và ảnh hưởng đến chấn thương sọ não. Không những thế, tính tình của ông D nóng nãy, không kiểm soát được hành vi nên thường đe dọa và gây áp lực tinh thần cho bà T. Nay bà T nhận thấy không thể tiếp tục sống chung, tình cảm bà T dành cho ông D không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Lê Thế D.

Về con chung: Bà T và ông D có 01 người con chung là cháu Lê Thùy Mai A, sinh ngày 05/8/2016. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Thùy Mai A.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông D cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Lê Thế D trình bày: Ông với bà T chung sống và đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương ngày 29/8/2014. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do quan điểm sống không hợp nhau. Dù vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả mà càng ngày mâu thuẫn càng trầm trọng nên đã sống ly thân. Do đó, qua yêu cầu ly hôn của bà T thì ông đồng ý ly hôn.

Về con chung: Ông D và bà T có 01 người con chung là cháu Lê Thùy Mai A, sinh ngày 05/8/2016. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung thì ông D đồng ý và không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố Tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các điều 70, 71, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến và yêu cầu khắc phục gì thêm về tố tụng.

+ Về mặt nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: Mâu thuẫn giữa bà T và ông D đã trầm trọng, không thể hàn gắn làm cho mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Về con chung, nhận thấy cháu Lê Thùy Mai A, sinh ngày 05/8/2016 đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng được sống chung với bà T nên căn cứ theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu A cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông D kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương vào ngày 29/8/2014 theo đúng quy định về đăng ký kết hôn tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nguyên đơn bà T cho rằng: Nguyên nhân dẫn đến vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do công việc làm ăn nên mỗi người sống một nơi, quan điểm sống và cách nuôi dạy con cũng khác biệt nhau. Vợ chồng đã cố gắng hàn gắn để tìm tiếng nói chung nhưng không có kết quả mà càng ngày mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đến nay tình cảm của bà T dành cho ông D không còn. Phía ông D cũng xác định vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân nên qua yêu cầu ly hôn của bà T thì ông D đồng ý ly hôn.

Xét thấy: Giữa bà T và ông D đã sống ly thân, phía bà T xác định không còn tình cảm với ông D, còn ông D thống nhất với yêu cầu ly hôn với bà T vì mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn. Nhận thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông D đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà T yêu cầu được ly hôn với ông D là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Bà T và ông D có 01 con chung là cháu Lê Thùy Mai A, sinh ngày 05/8/2016. Khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Phía bị đơn ông D đồng ý để bà T nuôi dưỡng con chung.

Xét thấy: Bà T cho rằng hiện con chung đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Phía ông D cũng thừa nhận kể từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay, bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng. Do con chung là cháu Lê Thùy Mai A hiện đang sinh sống ổn định với bà T và cháu A cũng có nguyện vọng được sống chung với bà T nên việc giao cháu Lê Thùy Mai A cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là chính đáng, phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[3] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ.

[4] Về án phí sơ thẩm: Bà T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 203, Khoản 1 Điều 227, 228, 238, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Thùy T đối với bị đơn ông Lê Thế D về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thùy T được ly hôn với ông Lê Thế D.

- Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Thùy Mai A, sinh ngày 05/8/2016 cho bà Lê Thị Thùy T trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị Thùy T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai có quyền cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom con để gây khó khăn, cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con của người trực tiếp nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung đối với người không trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Thùy T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị Thùy T phải chịu số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002076 ngày 09/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

3. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một;
  • - UBND phường H;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 95/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger