Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/HS-ST

Ngày: 31-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Nguyên và ông Đinh Tuấn Đạt
  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng – Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 78/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Tấn P – sinh năm 1996, tại Đồng Nai
    Nơi cư trú: Khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Thợ sắt; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Á – sinh năm 1972 và bà Lê Thị Kim T (đã chết); Có vợ đã ly hôn là Lê Thị Ngọc T1 – sinh năm 1996, sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị Thùy T2 – sinh năm 1994; Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/02/2024 (Có mặt)
  2. Nguyễn Hoàng H – sinh năm 1999, tại Đồng Nai
    Nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K− sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị Y – sinh năm 1976; Có vợ là Phạm Thị Phương T3 – sinh năm 2002, sống chung như vợ chồng với Trương Thị Minh H1 – sinh năm 2003; Có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 28/3/2024 (Có mặt)

- Người làm chứng: (Vắng mặt)

  1. Trương Thị Minh H1 – sinh năm 2003
    Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
  2. Nguyễn Hoàng Bảo A – sinh ngày 22/4/2006
    Địa chỉ: Khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  3. Đỗ Minh Q – sinh năm 2000
    Địa chỉ: Khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tấn P và Nguyễn Hoàng H có quan hệ là bạn bè quen biết ngoài xã hội và đều là đối tượng nghiện ma túy.

Ngày 19/02/2024, H cùng bạn gái Trương Thị Minh H1 (đang mang thai) đi đến nhà thuê của P tại khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, để xin ở nhờ và làm phụ việc cửa sắt cho P thì P đồng ý. Tại đây, P đang ở cùng bạn gái tên Nguyễn Hoàng Bảo A – sinh ngày 22/4/2006, quá trình chung sống, do bản thân P và các đối tượng trên đều là người nghiện ma túy nên P có chế tạo 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 vỏ chai nhựa màu trắng, 01 nỏ thủy tinh được gắn vào 01 nắp chai màu đỏ, trên nắp chai màu đỏ có gắn một ống hút nhựa màu trắng. Khoảng 08 giờ ngày 22/02/2024, khi P đang ngủ thì bạn của P tên T4 (không xác định được nhân thân, lai lịch) đến gọi cửa thì P ra mở cửa cho T4 vào nhà. Lúc này, T4 rủ P sử dụng ma túy thì P đồng ý, sau đó P và T4 ngồi vào bàn nhựa màu đỏ để ở giữa nhà, P lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đưa cho T4 và T4 lấy một gói ma túy đổ vào nỏ thủy tinh rồi dùng bật lửa hơ nóng sử dụng trước rồi đến lượt P sử dụng. Thời điểm này, H ở dưới nhà đi lên thấy P đang sử dụng ma túy nên xin sử dụng chung thì P đồng ý, sau khi sử dụng xong, H tiếp tục gọi H1 dậy và đưa ma túy cho H1 sử dụng, còn Bảo A cũng ngủ dậy đi lại chỗ nhóm P sử dụng ma túy và được P đưa ma túy cho sử dụng. Cả nhóm luân phiên nhau sử dụng ma túy, khi sử dụng hết số ma túy trong nỏ thủy tinh thì T4 bỏ đi, còn nhóm của P ngồi trong nhà thì bị Công an huyện T đến kiểm tra hành chính phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Công an huyện T phối hợp cùng Công an thị trấn T, Trạm y tế xã T tiến hành xét nghiệm chất ma túy của Nguyễn Tấn P, Nguyễn Hoàng H, Trương Thị Minh H1, Nguyễn Hoàng Bảo A cho kết quả dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 401/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:

  • Mẫu tinh thể màu nâu (Ký hiệu M) bám dính trong một nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.
  • Mẫu tinh thể màu trắng (Ký hiệu M1) bám dính trong gói ni lông bị cắt hai đầu được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Tấn P và Nguyễn Hoàng H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, các bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản thực nghiệm điều tra, Sơ đồ hiện trường, Kết luận giám định, Biên bản đối chất... Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Vào khoảng 08 giờ ngày 22/02/2024 tại khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Tấn P có hành vi cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy, địa điểm sử dụng ma túy, Nguyễn Hoàng H có hành vi tìm người sử dụng ma túy (đối với Trương Thị Minh H1), để tổ chức cho Nguyễn Tấn P, Nguyễn Hoàng H, Trương Thị Minh H1, Nguyễn Hoàng Bảo A sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an huyện T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật. Tại thời điểm tổ chức sử dụng ma túy, Trương Thị Minh H1 là phụ nữ có thai, Nguyễn Hoàng Bảo A là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Hành vi của Nguyễn Tấn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b, d khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; hành vi của Nguyễn Hoàng H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ quyết định hình phạt:

Các bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình. Nguyễn Tấn P có hành vi cung cấp địa điểm, ma túy tổ chức cho Nguyễn Hoàng H, Trương Thị Minh H1, Nguyễn Hoàng Bảo A sử dụng trái phép chất ma túy; H có hành vi tìm người sử dụng ma túy để cùng P tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; với lỗi cố ý.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các chất ma túy của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của các bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Hiện nay, ma túy đã và đang là mối quan tâm lo lắng trong toàn xã hội nói chung và trên địa bàn nói riêng. Việc tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy một phần là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm và hành vi phạm pháp luật khác, gây hủy hoại sức khỏe cho người sử dụng, khánh kiệt về kinh tế, giảm sút sức lao động sản xuất trong xã hội.

Đối với hành vi của H tìm người sử dụng ma túy của P, là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo thống nhất ý chí cùng thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội và vai trò của từng người đồng phạm nhằm cá thể hóa hình phạt khi lượng hình như sau: Bị cáo P tham gia với vai trò chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội và thực hành, bị cáo H tham gia với vai trò thực hành và giúp sức. Ngoài ra, P còn có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho H, Trương Thị Minh H1, Nguyễn Hoàng Bảo A sử dụng trái phép chất ma túy. Như vậy, tính chất, mức độ hành vi phạm tội đối với bị cáo P cao hơn bị cáo H.

Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra để răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm tại địa phương. Tuy nhiên, các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

Do đó, Hội đồng xét xử xem xét cách ly đối với các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo tự rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật, tu dưỡng bản thân trở thành người công dân tốt sống có ích cho xã hội, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa chung.

[6] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đồng thời xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo, thể hiện các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì đã được niêm phong số 401/KL-KTHS có dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, 01 vỏ chai nhựa màu trắng, 01 nắp chai màu đỏ, bên trên có gắn 01 ống hút màu trắng; 01 cây kéo sắt, 01 bật lửa có ghi chữ Viva là công cụ, phương tiện phạm tội và không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu tiêu hủy.

[8] Các vấn đề khác:

Đối với Nguyễn Tấn P khai ma túy có nguồn gốc từ đối tượng tên T4 (không xác định được nhân thân, lai lịch) bỏ vào nỏ thủy tinh cho cả nhóm sử dụng; Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa lấy được lời khai, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với Đỗ Minh Q, Nguyễn Hoàng Bảo A khai nhận ngoài ngày 22/02/2024 thì Nguyễn Tấn P còn có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào các ngày trước đó, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai, đối chất nhưng P không thừa nhận nội dung trên. Ngoài lời khai của Q, Bảo A thì không thu được chứng cứ vật chất nên không có căn cứ để xem xét xử lý.

Đối với Nguyễn Hoàng Bảo A, Trương Thị Minh H1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Áp dụng điểm a, b, d khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo P; áp dụng điểm d khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H;
  • - Áp dụng Điều 38, khoản 1 Điều 46, Điều 47, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  • - Khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Tấn P, Nguyễn Hoàng H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
    1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P 08 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/02/2024.
    2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng H 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/3/2024.
  2. Các biện pháp tư pháp:
    Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với 01 phong bì đã được niêm phong số 401/KL-KTHS có dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, 01 vỏ chai nhựa màu trắng, 01 nắp chai màu đỏ, bên trên có gắn 01 ống hút màu trắng; 01 cây kéo sắt, 01 bật lửa có ghi chữ Viva.
    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).
  3. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Tấn P, Nguyễn Hoàng H mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Tân Phú;
  • - Công an huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Tân Phú;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự sơ thẩm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 95/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1.1 Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Phước 08 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/02/2024. 1.2 Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Hảo 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/3/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger