Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LAI VUNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 95 /2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20-09-2024

Về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Chí Công;

Bà Quang Kim Cúc.

- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Phương Nhi - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lai Vung.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thu Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 09 năm 2024 tại hội trường Toà án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 278/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 07 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98 /2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 08 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 416/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 04 tháng 09 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Lưu Thị Kiều D, sinh năm: 1995 (có mặt); Địa chỉ: số 04/2, ấp Hòa Tân, xã Tân Hòa, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
  2. Bị đơn: Trịnh Ngọc L, sinh năm 1989 (vắng mặt); Địa chỉ: số A, ấp T, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các lời khai có trong hồ sơ cũng như tại phiên toà nguyên đơn Lưu Thị Kiều D trình bày:

Về hôn nhân: Lưu Thị Kiều D và Trịnh Ngọc L quen nhau tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 18/04/2022. Quá trình sống chung vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn với nhau được, do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường hay mâu thuẫn cãi nhau, khoảng tháng 03/2023 anh L với mẹ của anh L cãi nhau nên Lưu Thị Kiều D cùng với anh L về nhà cha mẹ ruột của tôi sinh sống, sau đó khoảng 01 tuần thì anh L ẩm con về nhà của cha mẹ anh L, khoảng 01 tuần tiếp theo thì Lưu Thị Kiều D về nhà nhưng mẹ anh L không cho ẩm con, hai bên cãi nhau, anh L đánh Lưu Thị Kiều D mấy bạt tay nên Lưu Thị Kiều D về nhà cha mẹ ruột sinh sống đến nay. Nay Lưu Thị Kiều D thấy không còn khả năng đoàn tụ, Lưu Thị Kiều D nhất quyết yêu cầu được ly hôn với Trịnh Ngọc L.

Về con chung: có 01 con chung tên là Trịnh Ngọc Châu S, sinh ngày 23/01/2022; Lưu Thị Kiều D đồng ý giao con chung tên là Trịnh Ngọc Châu S, sinh ngày 23/01/2022 cho Trịnh Ngọc L tiếp tục nuôi dưỡng, Lưu Thị Kiều D không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn Trịnh Ngọc L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung phát biểu quan điểm:

  • Về phần thủ tục: Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng.
  • Về phần nội dung: Về đường lối giải quyết vụ án, Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp thực tế, đúng quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Lưu Thị Kiều D có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn giữa Lưu Thị Kiều D với Trịnh Ngọc L, đây là vụ án tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn thường trú tại huyện L, tỉnh Đồng Tháp cho nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 1, Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn Trịnh Ngọc L vắng mặt, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định, vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa Lưu Thị Kiều D và Trịnh Ngọc L có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận là vợ chồng. Quá trình sống chung vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm thường hay cãi nhau, Trịnh Ngọc L trong lúc nóng giận có lời lẽ không đúng, có đánh Lưu Thị Kiều D mấy bạt tay, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, Lưu Thị Kiều D nhất quyết xin ly hôn. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho Trịnh Ngọc L, Trịnh Ngọc L biết Lưu Thị Kiều D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng Trịnh Ngọc L không đến Tòa án, không có văn bản phản bác gì đối với yêu cầu của nguyên đơn điều đó thể hiện bị đơn tự từ bỏ quyền phản bác của mình. Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử đã động viên nhưng Lưu Thị Kiều D vẫn nhất quyết yêu cầu ly hôn với Trịnh Ngọc L, Trịnh Ngọc L không có thiện chí hòa giải để vợ chồng hàn gắn tình cảm, xét thấy mâu thuẫn của Lưu Thị Kiều D với Trịnh Ngọc L ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của Lưu Thị Kiều D là có căn cứ, đúng theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”...

[3] Về con chung: Có 01 con chung tên là Trịnh Ngọc Châu S, sinh ngày 23/01/2022, hiện nay Trịnh Ngọc L đang nuôi con, Lưu Thị Kiều D đồng ý tiếp tục giao con cho Trịnh Ngọc L tiếp tục nuôi dưỡng, Lưu Thị Kiều D không cấp dưỡng nuôi con. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho Trịnh Ngọc L nhưng Trịnh Ngọc L không đến Tòa án, không có văn bản phản bác gì đối với yêu cầu của nguyên đơn điều đó thể hiện bị đơn tự từ bỏ quyền phản bác của mình. Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Xét thấy việc giao con cho ai nuôi phải xem xét điều kiện, tâm lý của con, Trịnh Ngọc C S còn rất nhỏ chưa đủ 36 tháng tuổi nhưng hơn một năm nay anh Trịnh Ngọc L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chu đáo, Lưu Thị Kiều D đồng ý tự nguyện tiếp tục giao con cho Trịnh Ngọc L nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Lưu Thị Kiều D là giao Trịnh Ngọc Châu S, sinh ngày 23/01/2022 cho Trịnh Ngọc L nuôi dưỡng, chị D không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản khi ly hôn: Lưu Thị Kiều D không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về nợ khi ly hôn: Lưu Thị Kiều D không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về tiền tạm ứng án phí, án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Xét thấy ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ thống nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Lưu Thị Kiều D. Lưu Thị Kiều D được ly hôn với Trịnh Ngọc L.
  2. Về con chung: Trịnh Ngọc L được tiếp tục nuôi con tên Trịnh Ngọc Châu S, sinh ngày 23/01/2022. Lưu Thị Kiều D không phải cấp dưỡng nuôi con.
  3. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  4. Về tài sản và nợ khi ly hôn: Lưu Thị Kiều D không yêu cầu giải quyết.
  5. Án phí và tạm ứng án phí sơ thẩm:
  6. Lưu Thị Kiều D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0013902 ngày 10/07/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 20/09/2024. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án này được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Lai Vung;
  • - Chi Cục THADS H. LV;
  • - UBND xã Vĩnh Thới;
  • - Các đương sự; - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Bích Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95 /2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 95 /2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger