Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/HS-ST Ngày 17-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hiền

Ông Phạm Ngọc Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lâm Sển - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Vũ L, sinh ngày 12 tháng 8 năm 1992 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp A Chợ, xã Đ, huyện A, Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Huỳnh Kim T; vợ Nguyễn Thị T1; con có 01 người, sinh năm 2021; Tiền án: Ngày 25/5/2018 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, Bình Dương xử phạt 03 năm tù về tội Cố ý gây thương tích tại Bản án số 125/2018/HSST; tiền sự: Ngày 24/4/2022 bị Công an huyện A, tỉnh Kiên Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 69/CQĐT về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy; Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 27/5/2024, bị tạm giữ ngày 28/5/2024, tạm giam ngày 06/6/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 27 tháng 5 năm 2024, bị can Nguyễn Vũ L thuê xe ôm của một người đàn ông lạ mặt, đi từ chợ T3 thuộc xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau về nhà của Lấp A Chợ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Khi đi đến đoạn đường K, lộ hành lang ven biển phía nam, L gặp một người thanh niên (chưa rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ) đang đi xe một mình theo chiều ngược lại, L thấy quen mặt và biết người này có bán ma túy nên kêu dừng xe lại và hỏi người thanh niên là “còn bán ma túy không?”, người thanh niên nói “còn một ít nè” L hỏi “bao nhiêu tiền” thì người thanh niên nói là 1.500.000 đồng, L lấy 1.500.000 đồng ra đưa cho người thanh niên rồi lấy 02 gói ma túy đá, trong đó có một gói lớn và một gói nhỏ, L lấy 02 (hai) gói ma túy cất vào vỏ gói thuốc JET rồi mang về nhà. Khoảng hơn 12 giờ cùng ngày, thì có Trương Văn K, Trương Hải Đ, Trần Nhựt T2 ở cùng ấp và Nguyễn Văn K1 ở ấp I X, xã Đ đến nhà của L chơi, tất cả ra ngoài hiên nhà của L nằm võng nói chuyện, lúc này L lấy gói thuốc JET bên trong có 02 (hai) gói ma túy vừa mua được để ở dưới nền đất cạnh nơi L đang nằm võng, L nằm võng chơi game được một lúc thì bị lực lượng Công an huyện A phối hợp với Công an xã Đ đến bắt quả tang cùng tang vật là 02 (hai) gói ma túy, đưa về cơ quan Công an để làm rõ. Tại cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Vũ L thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã thu giữ các vật chứng sau:

Thu tại vị trí trên nền đất gần chỗ bị can Nguyễn Vũ L đang nằm võng: 01 (một) vỏ gói thuốc lá hiệu JET, đã qua sử dụng, bên trong vỏ gói thuốc có:

  • 01 (một) gói nylon trong suốt, có rãnh gài, viền màu trắng, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất nghi là ma túy.
  • 01 (một) gói nylon trong suốt hàn kín, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất nghi là ma túy;

Tại Kết luận giám định số: 513/KL-KTHS ngày 02 tháng 6 năm 2024 của Phòng K2 Công an tỉnh K, kết luận:

Nhiều hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất chứa trong 02 (hai) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,4654 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.

Tại Cáo trạng số 80/CT-VKS-AM ngày 21-8-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Vũ Linh về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Nguyễn Vũ L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Về vật chứng, tịch thu tiêu hủy theo quy định.

- Bị cáo trình bày: Bị cáo Nguyễn Vũ L thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp, tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
  2. Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 12 giờ ngày 27/5/2024, tại ấp A Chợ, xã Đ, huyện A, Kiên Giang, Công an phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Vũ L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, kết quả điều tra xác định số ma túy trên là do Nguyễn Vũ L mua về để sử dụng. Theo Kết luận giám định chất ma túy mà Nguyễn Vũ L tàng trữ là loại Methamphetamine, có khối lượng là 1,4654 gam.
  3. Về tội phạm: Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện khác; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ ma túy là chất quản lý đặc biệt nhưng đã tàng trữ trái phép là phạm tội với lỗi cố ý; mục đích tàng trữ ma túy của bị cáo là để sử dụng, không nhằm để mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy; loại ma túy bị cáo tàng trữ là Methamphetamine có khối lượng 1,4654 gam. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Nguyễn Vũ L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
  1. Về hình phạt:
    1. Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Ngày 25/5/2018 bị cáo Nguyễn Vũ L bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù về tội Cố ý gây thương tích tại Bản án số 125/2018/HSST, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/5/2020 nhưng chưa thi hành xong phần bồi thường cho bị hại nên xác định là chưa được xóa án tích. Bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

    Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội khác và bất bình trong nhân dân. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như hậu quả và những hệ lụy của việc sử dụng chất ma túy để lại đối với sức khỏe, kinh tế của bản thân người sử dụng, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm để có thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

    1. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
    2. Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng bị cáo đã phạm tội nghiêm trọng có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù, làm phức tạp thêm tình hình tệ nạn ma túy, gây bất ổn và gây dư luận không tốt ở địa phương nên cần phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn. Khi quyết định mức án phạt thấy bị cáo tái phạm, có nhân thân xấu nên cần xử phạt nghiêm khắc nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
    3. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, HĐXX nhận thấy lẽ ra áp dụng hình phạt bổ sung để tăng tính răn đe. Tuy nhiên, nhận thấy bị cáo có thu nhập thấp, không ổn định, phải thi hành hình phạt tù khó đảm bảo khả năng thi hành án nên không áp dụng đối với bị cáo.
  1. Về vật chứng, đối với số ma túy là vật cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. Về án phí, bị cáo Nguyễn Vũ L chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Đối với người bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Vũ L hiện chưa xác định được lai lịch, nhân thân, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc được nên chưa xử lý trong vụ án này là phù hợp. Đề nghị Viện kiểm sát, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Vũ L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
    1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ L 02 (hai) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt phạm tội quả tang (ngày 27/5/2024).
    2. Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng.
  2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:
    • - 01 (Một) phong bì, được niêm phong có ký hiệu số vụ 539/2024, có chữ ký của giám định viên Lê Đức H, người chứng kiến niêm phong Huỳnh Văn H1 và các dấu tròn đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh K, bên trong có chứa 1,3889 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu.
    • - 01 (Một) vỏ gói thuốc lá, nhãn hiệu Jet, đã qua sử dụng.

    (hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 43/QĐ-VKS-AM ngày 21-8-2024 của VKSND huyện An Minh).

  3. Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Vũ L chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 17-9-2024)./.

Nơi nhận:

  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Toà án tỉnh KG;
  • - Cơ quan THAHS huyện AM;
  • - Cơ quan THADS huyện AM;
  • - Bị cáo;
  • - Sở TP tỉnh KG;
  • - Công an huyện, tỉnh;
  • - UBND X. Đông Hưng, AM, KG;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 95/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Vũ L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger