Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH XUYÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 95/2024/HS-ST

Ngày 17 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Nữ Hương Huyền

Các Hội thẩm Nhân dân: Ông Nguyễn Quang Thái và bà Lê Thị Bích Thuần.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng- Thư ký Toà án Nhân dân huyện Bình Xuyên.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên toà: Ông Phó Văn Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2024/HS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 86/2024/HSST- QĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Văn B, sinh ngày 10/3/1973 tại Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn X, xã L, huyện M, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị B1; vợ: Trịnh Thị V; có 02 con: Lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 1997.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 09/2014/HSST ngày 21/02/2014 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội xử phạt Phạm Văn B 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, án phí hình sự 200.000đ. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/8/2014; nộp án phí ngày 16/7/2014 (đã được xóa án tích).
  • - Năm 2016 Phạm Văn B tham gia cai nguyện tự nguyện tại Trung tâm C Hà Nội (nay là cơ sở cai nghiện ma túy số F Hà Nội).
  • - Ngày 13/3/2024 Phạm Văn B có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại thôn B, xã T, huyện M, Thành phố Hà Nội. Ngày 18/3/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M, Thành phố Hà Nội ra quyết định khởi tố bị can đối với Phạm Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 12/6/2024 Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội xử phạt Phạm Văn B 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự tại Bản án số 64/HSST (thực hiện hành vi phạm tội ngày 13/3/2024, Bản án đã có hiệu lực pháp luật).

Bị cáo bị cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an tỉnh V bắt tạm giữ từ ngày 25/02/2024 đến ngày 02/02/2024 được tại ngoại. Ngày 13/3/2024 Phạm Văn B thực hiện hành vi phạm tội tại địa bàn huyện M, Thành phố Hà Nội bị Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện M tạm giữ từ ngày 13/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại số A- Công an Thành phố hà N1 (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn L, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn X, xã L, huyện M, Thành phố Hà Nội (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn B là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2000. Khoảng 07 giờ ngày 25/01/2024, Bộ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Airblade biển kiểm soát 29Z1-350.58 đi từ nhà đến khu vực thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Bộ không xác định được địa chỉ cụ thể) tìm và mua được 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000₫ của một người nam giới không quen biết để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, Bộ cất giấu vào trong chiếc tất đi ở chân bên phải rồi điều khiển xe về Trung tâm y tế huyện B, tỉnh Vĩnh Phú để uống thuốc Methadone. Khoảng 08 giờ 10 phút cùng ngày, B điều khiển xe đi đến khu vực nghĩa trang N2 thuộc khu phố B, thị trấn H, huyện B để sử dụng ma túy. Tại đây, Bộ lấy gói ma túy đã mua được chia làm 02 phần. Bộ lấy 01 phần ma túy và nước cất cho vào bơm kim tiêm đã chuẩn bị sẵn từ trước hòa thành dung dịch và tiêm vào cơ thể. Phần ma túy còn lại, B gói vào tờ giấy bạc và cất vào chiếc tất đang đi ở chân phải để khi nào có nhu cầu thì sử dụng. Khoảng 08 giờ 20 phút cùng ngày, khi Bộ sử dụng ma túy xong thì bị tổ công tác của Phòng điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh V bắt quả tang. Tang vật thu giữ: 01 gói giấy bạc bên trong có chất cục bột màu trắng thu giữ tại chiếc tất đang đi bên chân phải của Bộ được ký hiệu A1; 01 bộ bơm kim tiêm đã qua sử dụng. Ngoài ra còn tạm giữ của Bộ A xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 29Z1- 350.58; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu trắng tím đã qua sử dụng số IMEI 86698804031218; 01 thẻ căn cước mang tên Phạm Văn B.

Tại kết luận giám định số 286/KLGĐ ngày 30/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: “Chất bột dạng cục màu trắng của mẫu ký hiệu Al gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,1880g không kể bao bì loại Heroine. Hoàn trả đối tượng còn lại sau giám định là 0,1695g”.

Tại Cáo trạng số: 75/CT-VKSBX ngày 25/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên đã truy tố bị cáo Phạm Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn B khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Phạm Văn B từ 15 đến 18 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 14 tháng tù của Bản án số 64/2024/HSST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai Bản án là từ 29 đến 32 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 13/3/2024 nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25/01/2024 đến ngày 02/02/2024 (do cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an tỉnh V tạm giữ)

Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 0,1695 g ma túy Heroine (không bể bào bì) hoàn lại sau giám định. Căn cứ Điều 47; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại Phạm Văn B 01 và 01 thẻ căn cước công dân và 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO nhưng cần tạm giữ chiếc điện thoại để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho anh Phạm Văn L 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Airblade biển kiểm soát 29Z1-350.58.

Bị cáo không bào chữa, tranh luận khác. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo Phạm Văn B tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người chứng kiến về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 08 giờ 20 phút ngày 25/01/2024, tại khu vực nghĩa trang N2 thuộc khu phố B, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, Phạm Văn B có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy Heroine có khối lượng 0,1880g để sử dụng cho nhu cầu nghiện của bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Văn B đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy hoặc thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, ............có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người; gây ra một lớp người nghiện trong xã hội làm tác hại cho chính bản thân người nghiện và gia đình họ cũng như cho cộng đồng nói chung. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

  1. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 05 năm tù nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.

Hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ là để thỏa mãn nhu cầu nghiện của bản thân. Hiện tại trên địa bàn huyện B các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã “Thành khẩn khai báo” nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng.

  1. Về tổng hợp hình phạt: Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 64/2024/HSST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo Phạm Văn B 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó cần tổng hợp hình phạt để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai Bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
  2. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản và nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Đối với người bán ma túy cho Phạm Văn B nhưng B không biết tên, tuổi, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
  4. Về vật chứng: Đối với 0,1695 gam ma túy Heroine hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 căn cước công dân; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Airblade biển kiểm soát 29Z1- 350.58, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định căn cước công dân và điện thoại là của Phạm Văn B không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ chiếc điện thoại để đảm bảo thi hành án. Đối với chiếc xe mô tô là của anh Phạm Văn L (con trai Bộ). Anh L không biết B sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy nên cần trả lại chiếc xe cho anh L.

  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Văn B phải chịu 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

    Xử phạt bị cáo Phạm Văn B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 14 tháng tù của Bản án số 64/2024/HSST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 Bản án là 02 (hai) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 13/3/2024) nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25/01/2024 đến ngày 02/02/2024 (do cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an tỉnh V tạm giữ).

  3. Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

    Tịch thu tiêu hủy 0,1695 gam ma túy Heroine và toàn bộ bao gói được niêm phong hoàn lại sau giám định.

    Trả lại cho Phạm Văn B 01 căn cước công dân và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO nhưng tạm giữ chiếc điện thoại để đảm bảo thi hành án.

    Trả lại cho anh Phạm Văn L 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Airblade biển kiểm soát 29Z1- 350.584.

  4. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Văn B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát huyện Bình Xuyên;
  • - Công an huyện Bình Xuyên;
  • - Trại tạm giam số 1- CA TP Hà Nội;
  • - Chi cục THA huyện Bình Xuyên;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Nữ Hương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 95/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger